Tác giả thơ hay người tán dương thơ “bạo gan”?(*)

(Toquoc)- Sau khi Truyền hình Việt Nam phát sóng bộ phim ‘Người đàn bà thứ hai’, dư luận báo chí có hai luồng phản ứng. Ở Phú Thọ là các bài báo khen bài thơ (được phổ nhạc làm bài hát - nhạc nền cho phim) và nói về chân dung tác giả bài thơ đó (Bài ‘Tác giả bài thơ... ngày ấy - bây giờ...’ - báo Phú Thọ ngày 7/3/2007; bài ‘Ai là tác giả bài thơ… Phạm Thị Vĩnh Hà hay nữ sỹ Xuân Quỳnh’? - Tạp chí Văn nghệ Đất Tổ tháng 5/2009)...

Ở Hà Nội là các bài báo phê phán, thậm chí phê phán gay gắt lời thơ được phổ nhạc và nội dung phim có nhân vật nữ chính gần tương đồng với hình ảnh người đàn bà trong bài hát, nhưng ở phía phản diện (Bài Nghĩ về việc đặt tên phim - báo Văn nghệ số 19 - tháng 5/2009; bài Một sai số từ văn học đến điện ảnh - báo Văn nghệ số 34 tháng 8/2009).

Xin thống nhất nhận thức: trước một bài thơ cụ thể hay trước các tác phẩm VHNT nói chung, mọi người thưởng thức

đều “có quyền” có những cảm nhận chung và cả những cảm nhận khác lạ. Thậm chí, có những bài thơ, những tác phẩm VHNT nào đấy lại mang đến cho công chúng yêu nghệ thuật những nhận thức rất khác biệt. Bài thơ Người thứ hai của tác giả Phạm Thị Vĩnh Hà (xin đọc trang 43 - VNĐT số 267 tháng 5/2009) đã là một trường hợp như thế. Tuy nhiên, sự khác biệt ở trường hợp này, theo tôi (cùng ý kiến của các báo ở Hà Nội) là thật khó chấp nhận về tình - ý của bài thơ. Bài thơ Người thứ hai đã vô tình “phạm lỗi” sai (?) về tình cảm trong việc lập tứ: “đặt” con dâu và mẹ chồng cùng hàng - thứ bậc để so sánh giá trị. Đây là một sơ xuất về nhận thức trong biểu đạt thơ hiếm gặp.

***

Người thứ hai

Kính tặng mẹ của anh

 

Mẹ đừng buồn khi anh ấy yêu con

Bởi trước con, anh ấy là của mẹ

Anh ấy có thể quên con - một thời trai trẻ

Nhưng suốt đời anh ấy yêu mẹ, mẹ ơi !

 

Mẹ đã sinh ra anh ấy trên đời

Hình bóng mẹ lắng vào tim anh ấy

Dẫu bây giờ con được yêu đến vậy

Con cũng chỉ là người đàn bà thứ hai

Mẹ đừng buồn những hoàng hôn, những ban mai

Anh ấy có thể nhớ con hơn nhớ mẹ

Nhưng con chỉ là một cơn gió nhẹ

Mẹ luôn là bến bờ thương nhớ cả đời anh

 

Con chỉ là một cơn mưa mỏng manh

Những người đàn bà khác có thể thay thế con trong trái tim anh ấy

Nhưng có một tình yêu trọn đời âm ỉ cháy

Anh ấy chỉ dành cho riêng mẹ mà thôi.

Anh ấy có thể sống với con suốt cả cuộc đời

Cũng có thể chia tay ngay ngày mai có thể...

Nhưng anh ấy suốt đời yêu mẹ

Dù thế nào con cũng chỉ thứ hai.

Phạm Thị Vĩnh Hà

Bài thơ Người thứ hai được sáng tác từ 17 năm trước - năm 1992 - khi Phạm Thị Vĩnh Hà đang là sinh viên đại học. Mỗi bài thơ ra đời đều có số phận của nó. Có những bài thơ qua đi và dừng lại ở mức độ nào đấy. Có bài thơ còn mãi theo thời gian. Bài Người thứ hai đã “nằm im” bao năm. Tình cờ thời gian hơn một năm nay, tình thơ được “thức dậy” theo cách cảm và cách nhìn của một nhạc sỹ. Bài thơ đã thành lời hát, thành âm hưởng nhạc nền cho bộ phim có tên Người đàn bà thứ hai. Việc bài thơ được phổ nhạc và tiếp tục một đời sống mới là nằm ngoài chủ ý của tác giả. Nhưng giờ đây, tác giả đã là một cô giáo trưởng thành với nhiều tri thức và kinh nghiệm đời sống, thì nếu thận trọng, tác giả sẽ “xem xét” lại đứa con tinh thần của mình. Và có thể từ chối một sản phẩm “đã không hợp thời”. Song, tiếc rằng: cùng với những lời tán dương và “bình phẩm thánh tướng” của những ai đó, mà tác giả đã say sưa cùng “chiến thắng”.

Với tác giả trẻ tuổi đời và vừa mới tập làm thơ thì bài thơ như là một đột khởi sáng tạo đáng chứ ý. Mới đọc qua, bài thơ đằm về cảm xúc trữ tình, táo bạo và quyết liệt về tư tưởng nghệ thuật - thẩm mỹ. Tác giả dám nhận diện tình yêu với chồng, với mẹ chồng rất thành thực. Nhưng bình tâm đọc lại, nhìn nhận lại vào tính tư tưởng và giá trị so sánh trong thơ, thì xuất hiện nhiều “vấn đề” không ổn.  Bài thơ được phát triển theo mạch tư duy trực cảm, ở thể loại tự sự trữ tình hiện đại. Cả bài thơ toát lên nỗi lòng yêu thương thăm thẳm mà trong trắng của người con dâu (người vợ) đối với chồng, và "nói với" mẹ chồng. Những bộc bạch ngay thẳng, đối diện, không hình tượng ẩn dụ lắt léo trong một ngôn ngữ thơ ngay ngắn mạch lạc dung dị. Tuy nhiên, giọng điệu và nhịp đi của bài thơ có vẻ nhanh, khẩu ngữ hơi Âu hóa. Hồn thơ lộ, ít thầm kín - ý nhị, có vẻ là lạ với tâm hồn Á Đông. Nhưng vượt lên tất cả những điều tưởng như được ấy, là một tình thơ say đắm yêu chồng đến độ... đặt tình cảm của mình (người vợ) lên cùng hàng giá trị với mẹ chồng - vị trí ngay sau người mẹ - là một so sánh không hợp đạo lý Việt Nam.

***

Thử phân tích qua những dòng thơ, những câu thơ biểu hiện vội vàng, sai lạc về tư tưởng và tình cảm của tác giả. Ngay tên bài thơ Người thứ hai, và chữ dùng trong một dòng thơ là Người đàn bà thứ hai đã không ổn. Tứ của bài thơ lộ ngay ở đầu đề này. Mọi lập lý của ý thơ trữ tình đều xuất phát từ vị trí thứ bậc ngang hàng mẹ - con. Không thể đặt vấn đề (ý thơ) về hình tượng người mẹ - biểu đạt giá trị cao nhất - vào cùng một hàng giá trị (thứ nhất, thứ hai) để lập nên biểu tượng tình yêu. Không thể dựa vào một giá trị bất biến (người mẹ) để liên hệ tương quan về mình (người vợ) được .

Bài thơ có 5 khổ, ở khổ thơ đầu, ngay hai dòng đầu: “Mẹ đừng buồn khi anh ấy yêu con / Bởi trước con, anh ấy là của mẹ" làm người đọc cảm nhận “có vấn đề” ở đây. Một là, tại sao người mẹ phải buồn khi con trai mình có người yêu? Có người mẹ nào lại không vui khi con trai mình có bạn gái hoặc có người yêu? Việc lập ý thơ đã phản cảm, phản nhận thức thông thường. Hai là, nếu người con trai có yêu / lấy cô gái nào đi chăng nữa thì "sau con", anh ấy cũng vẫn mãi là của mẹ kia mà. Chả lẽ, khi lấy vợ, thì người mẹ mất đi vị trí độc tôn hay sao. Dòng thơ cuối có một từ "yêu mẹ". Trong bài thơ tình đậm chất yêu say nồng nàn (mạnh bạo - trực diện) anh anh, em em thì đặt một từ yêu mẹ là không xứng. Từ này phải được trang nghiêm hơn, chẳng hạn: Yêu kính mẹ.

Ở khổ thơ thứ hai, dòng thứ 3 có từ "lắng vào". Hình bóng mẹ mà chỉ được nhận xét là: lắng vào tim anh ấy là không ổn. Tình cảm kính trọng ở đây phải được: chạm / khắc / đỏ... vào tim mới thật con Người. "Con cũng chỉ là người đàn bà thứ hai" là câu thơ đầy tính thông tục, không được phép có mặt trong bài thơ này. Ai cũng biết, văn hóa dân gian đã truyền đời quy ước: người phụ nữ chưa chồng được gọi là con gái, gái đã có chồng thì gọi là đàn bà. Vậy trước người đàn ông (người chồng) mà người vợ (tác giả bài thơ) đặt mình là "người đàn bà thứ hai", thì vô tình chị đã xúc phạm nghiêm trọng đến người mẹ tôn kính. Trong tư tưởng và ý nghĩ, đôi khi chúng ta ước lệ được, xếp đặt được "vị trí" của mình trong mối quan hệ gia đình, cộng đồng xã hội. Nhưng đã phát ngôn, đã văn tự thì sự ước lệ, biểu đạt phải được chuyển tải nhuần nhuyễn, đúng và khéo, hợp với thuần phong mỹ tục - đạo đức và lối sống Việt Nam.

Khổ thơ thứ 3, không có người đàn ông hoặc người đàn bà nào (con dâu) lại cả gan đong đếm “Anh ấy có thể nhớ con hơn nhớ mẹ”. Người đọc thơ sẽ hoài nghi, đã có sự hỗn hào trần tục ùa vào thơ. Dòng cuối có từ “thương nhớ” cũng là không ổn. Tình cảm được chốt lại ở đây phải là bến bờ níu giữ, bến bờ gốc rễ của đời anh ấy mới phải.

Khổ thơ thứ 5, câu thơ: “Nhưng anh ấy suốt đời yêu mẹ / Dù thế nào con cũng chỉ thứ hai”, là một kết luận hồn nhiên vô trách nhiệm. Với tâm trạng yêu đang được thăng hoa, thì khi nói về mẹ, cần phải lựa lời cao - sâu hơn rất nhiều. Có thể đơn giản thay câu này bằng câu thơ: “Nhưng anh ấy suốt đời là con mẹ / Dù thế nào con cũng phận dâu - con” thì ý thơ sẽ nhuần nhị và bay hơn chăng.

Nhận diện nhanh qua mấy dòng thơ như vậy, thấy vấn đề ở đây là: chưa khi nào, chưa bao giờ các nhà thơ lại so sánh bậc cha mẹ với ai cả. Biểu tượng - hình ảnh cha mẹ là đất nước, là quê hương, là dòng sông - ngọn núi, là cây cao bóng cả. Tình cảm với bậc cha mẹ là cao cả và linh thiêng. Dân gian đã từng ví von cách điệu tình cảm vợ chồng: Nhất vợ nhì giời. Hiểu sâu ta thấy rằng, nhất vợ thì rõ, nhưng nhì giời thì là cái gì ? So sánh vợ là cụ thể, nhưng giời lại là cái không cụ thể... cho nên nhất là nhất một mình thôi. Dân gian còn thâm sâu như thế, người có học, người chuyên nghề chữ nghĩa càng không được phép khinh xuất khi cầm bút.

***

Xin nhớ lại và nghĩ ngợi, hình dung về hình tượng người mẹ qua những vần thơ của nhà thơ chợt nhớ. Từ chiến trường nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã viết: Mắt mẹ hay sao hôm / Mà long lanh ngấn lệ / Con cúi đầu nói khẽ / - Thưa mẹ, con lên đường. (Thưa mẹ con đi - 4/1971)

Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên / Còn những bí và bầu thì lớn xuống/ Chúng tôi mang dáng giọt mồi hôi mặn / Rỏ xuống lòng thầm lặng mẹ tôi. ... Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi / Mình vẫn còn một thứ quả non xanh ? (Mẹ và quả - 1982).

Ơi giọt nước đã từng quẫy đạp từ bụng mẹ / Giờ đang quẫy lên trong lớp vỏ chính mình / Để tiếp nhận và phản ánh

Để tháo tung các giới hạn / Con hãy nhớ rằng. / (...) Và mẹ con, người đã trút cho con một phần thân thể / Một phần mùa xuân... / Hỡi giọt nước sinh thành hãy bắt nắng và phát sáng / Tự bây giờ, trong con. (Ngôi nhà có ngọn lửa ấm - 9/1984).

Khi tôi viết những dòng này, tiết trời đã là cuối mùa mưa ngâu tháng 7 - mùa lễ Vu Lan. Rất nhiều người thành kính làm các nghi lễ cho ngày “xá tội vong nhân” ở gia đình hoặc nơi đền chùa. Tôi ngẫu nhiên đọc được trên tờ gấp của Nhà Chùa: Kính mừng lễ Vu Lan những lời như sau.

Đức phật dạy: Công ơn của mẹ cha / Thật vô cùng lớn lao /Cho dù gánh trên vai / Đi suốt cả cuộc đời / Cũng không đền đáp được.

Đức phật dạy: Làm con báo hiếu cha mẹ, phải có 4 điều: Hiếu tâm, hiếu dưỡng, hiếu hạnh và hiếu đạo. "Tiết Vu Lan không chỉ gợi nhắc cho chúng ta tri ân và báo ân những người đã khuất, mà còn tri ân và báo ân với cha mẹ còn sống nữa".

Tần tảo sớm hôm mẹ nuôi con khôn lớn

Mang cả tấm thân gầy che chở đời con

Ai còn mẹ xin đừng làm mẹ khóc

Đừng để buồn lên đôi mắt mẹ nghe con.

Bài viết luận về thơ bao nhiêu thấy vẫn như chưa đủ. Cái hay, cái lý thú ở thơ nói riêng và văn học nghệ thuật nói chung là ở chỗ đó. Nhìn nhận một cách nghiêm túc, nói gì thì nói tác giả thơ ở thời điểm “trẻ người non dạ”, do nhiều yếu tố... “bộc phát thi sỹ” cũng là thường tình. Đáng băn khoăn phê phán ở đây là người nhạc sỹ phổ nhạc đã không tinh ý và thấu đáo để nhận ra sự "không phải" của bài thơ. Lại càng đáng phê phán hơn khi tác giả Kim Dũng đã viết bài tán dương trên tạp chí VNĐT. Ông đứng danh làm thơ, làm báo lâu năm, về nghỉ hưu đã cả chục năm mà vẫn không tỉnh táo thận trọng. Ông lầm lẫn giữa bài thơ lém lỉnh thông tục với một bài thơ hay; ngộ nhận giữa một bài thơ bình thường và tác giả “vô danh” với bài thơ hay và nhà thơ lớn của đất nước. Ông Kim Dũng (và còn một vài ai nữa) đã hồn nhiên coi mình như một “trọng tài” của dư luận. Lấy diễn đàn chung để “làm oai mình”, để định “định hướng dư luận” bằng việc tán dương lơi lỏng như thế, thật  phân vân và hổ thẹn.

Tôi muốn dừng bút bằng mấy lời nôm na "nhại Kiều" - (cúi xin được Tiền nhân lượng thứ): Rằng hay thì thật là hay / Xem ra đắng đót xưa nay thế nào”...

Việt Trì, tháng 9/2009

Ngô Kim Đỉnh

----------

(*) Trao đổi trên quan điểm của một người đọc thơ

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác