Sự mất cân đối trong văn học Việt Nam

 

(Toquoc)- Tôi không phải là môn đệ trung thành của chủ nghĩa bi quan về văn chương. Nhưng sở dĩ tôi gọi văn chương thời gian gần đây là “một giai đoạn văn chương bị lệc pha”, vì một lẽ hết sức giản đơn là đời sống văn chương thành văn, của bất kỳ một dân tộc, quốc gia nào, ở mọi thời đại cũng đều được nhìn nhận từ hai hệ quy chiếu. Thứ nhất, theo hướng Tác giả - Tác phẩm - Công chúng và thứ hai, theo hướng Sáng tác - Phê bình - Xuất bản, mà mục đích hướng tới là tạo nên Tác phẩm - Dư luận - Quảng bá. Thế nhưng...

 

Sáng tác sôi động

Theo tôi, ở hệ quy chiếu thứ nhất thuộc về đối tượng của nghiên cứu - lý luận hơn là của lý luận - phê bình văn học, mặc dù không có một lằn ranh nào thật sự rạch ròi cho sự phân biệt này, vì nhiều khi chúng đan xen, tác động và chi phối lẫn nhau. Tỷ dụ như khi bàn về mối quan hệ tác giả và tác phẩm cụ thể nào đấy hay tác phẩm và công chúng ở vào thời kỳ lịch sử nhất định, ấy là lúc nhà nghiên cứu lý thuyết phải viện đến các công cụ và thao tác của phê bình văn học.

Những ấn phẩm như báo, tạp chí, sách và mạng Internet là công cụ hữu hiệu dùng quảng bá tác phẩm. Nó vừa là sản phẩm, vừa là mục đích quan trọng của nhà văn, nhà lý luận phê bình và các nhà xuất bản. Nói đúng hơn nó chính là thước đo về cả chiều rộng và chiều sâu của một thời kỳ văn chương. Tuy nhiên, nói như vậy cũng chỉ là tương đối, vì những người làm ra các sản phẩm trên, ở thời buổi giá trên trời, người dưới đất, chẳng ai có thể thở khí giời, uống nước lã mãi mà sống được, nên tất nhiên không ít thì nhiều, không trực tiếp, thì gián tiếp, tất thảy ai nấy đều có nhu cầu kiếm tiền bằng chính lao động nhọc nhằn, khổ ải và rất chính đáng của mình thông qua tác phẩm văn chương. Song cũng phải nhận thấy có một thực tế khác là, những tác phẩm được cho là “hái ra tiền” chưa chắc đã là một tác phẩm văn chương có giá trị cả về tư tưởng và thẩm mỹ.

Chỉ tính khoảng gần mười năm trở lại đây thị trường sách văn chương khá sôi động với hai mảng chủ yếu là sách thương mại khoác áo văn chương và sách văn chương đích thực, thuộc diện hàng hiệu. Mảng thứ nhất, tôi không bàn ở đây. Riêng mảng thứ hai cũng khá rầm rộ. Cuộc thi tiểu thuyết lần thứ ba, 2006 - 2009, đã được Hội Nhà văn Việt Nam (HNVVN) trao giải thưởng vào cuối năm 2010 cũng giúp ta phần nào có thể hình dung ra diện mạo của văn chương nước nhà khoảng gần chục năm trở lại đây. Đây là cuộc thi tiểu thuyết thứ ba nối tiếp hai cuộc thi trước do HNVVN tổ chức từ năm 1998, đã gặt hái được nhiều thành công nhất. Xét về số lượng đã có bước phát triển từ 176 tác phẩm tham dự lần thứ nhất lên 200 tác phẩm dự thi lần thứ hai và 247 tác phẩm trong cuộc thi lần thứ thứ ba.

Theo đánh giá của Chủ tịch HNVVN Hữu Thỉnh, cuộc thi tiểu thuyết lần ba đã thành công ở ba điểm: tập hợp một đội ngũ đông đảo các cây bút tiểu thuyết nhiều thế hệ; tạo được độ mở về không gian nghệ thuật và thái độ nhập cuộc và tính tích cực xã hội của nhà văn. Số lượng vào chung khảo gồm 51 tác phẩm, tập trung vào mảng đề tài chính là lịch sử, chiến tranh, sự nghiệp đổi mới đất nước.

Kết quả, giải A được trao cho tác phẩm Hội thề (Nguyễn Quang Thân). Ba giải B có: Chân trời mùa hạ (Hữu Phương); Vùng lõm (Nguyễn Quang Hà) và Quyên (Nguyễn Văn Thọ). Mười giải C gồm: Lửa đắng (Nguyễn Bắc Sơn); Heo may về (Đỗ Thị Hiền Hòa); Xiêng Khoảng mù sương (Bùi Bình Thi); Thần thánh và bươm bướm (Đỗ Minh Tuấn); Biết đâu địa ngục thiên đàng (Nguyễn Khắc Phê); Xuân từ chiều (Y Ban); Đêm Sài Gòn không ngủ (Trầm Hương); Thức giấc (Thùy Dương); Đất trời vần vũ (Nguyễn Một) và Những cánh hoa lòng (Thiên Sơn).

Về giải thưởng thường niên của HNVVN năm 2010 được trao cho 4 tập tiểu thuyết, truyện ngắn: Lính trận (Trung Trung Đỉnh), Minh sư (Thái Bá Lợi); Lỏng và Tuột (Trần Đức Tiến), Giữa dòng chảy lạc (Nguyễn Danh Lam) và 2 tập thơ: Bầu trời không mái che (Mai Văn Phấn) và Sóng và khoảng lặng (Từ Quốc Hoài), không có giải cho lý luận- phê bình và văn chương dịch.

Năm 2011 giải thưởng được trao cho tiểu thuyết Đội gạo lên chùa (Nguyễn Xuân Khánh), tập lý luận - phê bình Bàn về minh triết và minh triết Việt (Hoàng Ngọc Hiến), tập truyện ký Huyền thoại tàu không số (Đình Kính); 2 tập thơ Ngày linh hương nở sáng (Đinh Thị Như Thúy) và Hoan ca (Đỗ Doãn Phương), không có giải cho văn chương dịch.

Năm 2012 giải thưởng dành cho văn xuôi có Thành phố đi vắng (Nguyễn Thị Thu Huệ); về thơ có Trường ca chân đất (Thanh Thảo), Màu tự do của đất (Trần Quang Quý) và Giờ thứ 25 (Phạm Đương). Giải Lý luận- phê bình thuộc về Văn Chinh với tác phẩm Đa cực và điểm đến, không có giải cho văn chương dịch. Hai cuốn Trò chơi hủy diệt cảm xúc của Y Ban và Một thế kỷ bị mất cắp của Phạm Ngọc Cảnh nhận bằng khen.

Như vậy, có 14 giải tiểu thuyết trong cuộc thi 3 năm (2006 - 2009) và trong ba năm tiếp theo (2010 - 2012) có 18 giải thưởng thường niên cho tất cả các thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện ký, thơ, trong đó có 2 tập lý luận - phê bình.

 

Lý luận - phê bình trồi sụt

Xét về đội ngũ các nhà văn làm lý luận - phê bình, theo một thống kê đăng trên báo Văn nghệ, 5 năm (2006- 2010) trong khoảng 300 người tham gia viết phê bình, có khoảng 39 nhà phê bình chuyên nghiệp, chiếm khoảng 13%. Người ít nhất có 1 bài, người nhiều nhất có tới 18 bài (Nguyễn Chí Hoan) in trên tờ báo này. Cũng trong tổng số 300 người ấy có tới 170 người vừa sáng tác, vừa phê bình, chiếm khoảng 56,7%. Họ làm nhiều nghề khác nhau như giáo viên, nhà báo, nhà quản lý, người lao động tự do; ở nhiều môi trường công tác tại địa phương, trung ương và với nhiều học hàm, học vị khác nhau,...(1)   

Nếu như đấy là những con số đáng tin cậy (!?), mà không tin cậy sao được, vì đấy là tờ báo chính thống của HNVVN, đố anh nào dám phản bác. Chỉ cần nhìn vào 13% nhà phê bình chuyên nghiệp và 43,3% người làm phê bình không phải là người sáng tác, đủ cho ta thấy một thực tế là lực lượng phê bình chuyên nghiệp hiện nay mỏng đến mức rất đáng báo động. Vẫn biết rằng lý luận - phê bình văn học không phải là độc quyền của riêng ai, nhưng chắc chắn nó là một chuyên ngành khoa học cần được đào tạo bài bản ở một trình độ nhất định và phải mang tính chuyên nghiệp hẳn hoi. Việc đóng góp, khen chê một tác giả, tác phẩm văn chương là quyền của mọi người và được chia đều cho tất cả. Ai cũng có quyền phát biểu những suy nghĩ chủ quan của mình về một tác phẩm văn chương hay một nhà văn nào đấy. Nhưng không phải mọi ý kiến đều có khả năng tiếp cận chân lý nghệ thuật như nhau. Đấy chính là ranh giới giữa nhà lý luận - phê bình chuyên nghiệp và những người tham gia hoạt động phê bình nghiệp dư, vui thì nên, quên thì thôi.    

Chưa vội bàn đến những vấn đề xung quanh đối tượng mảng khối sáng tác và lý luận phê bình cũng như chất lượng của các công trình được trao giải, mà chỉ nhìn vào số lượng tác phẩm được trao giải thưởng của HNVVN từ 2010 - 2012, mọi người dễ nhầm tưởng đây là một thời kỳ sôi động của văn chương nước nhà. Nhưng tiếc thay nó chủ yếu lại chỉ diễn ra ở lĩnh vực sáng tác, đặc biệt là thể loại tiểu thuyết có tới khoảng 20 tác phẩm được trao giải, do trùng với đợt trao giải cuộc thi tiểu thuyết lần thứ ba của HNVVN. Nếu xét trên bình diện cơ cấu giải giữa sáng tác và phê bình thì rõ ràng văn chương thời gian gần đây giống như một người đi cà nhắc, khiến mọi người không thể không suy nghĩ đến hiệu quả và chất lượng phê bình văn học.

Ở đây, tương quan giữa Sáng tác - Lý luận - phê bình trong 3 năm gần đây 2010 - 2012, không tính giải của cuộc thi tiểu thuyết, thì trong số 18 giải thưởng của HNVVN chỉ có 2 tác phẩm lý luận - phê bình, chiếm khoảng 11% về mặt số lượng. Còn chất lượng và hiệu quả của những tác phẩm lý luận - phê bình được trao giải như thế nào hiện vẫn là vấn đề cần phải bàn. Theo quy luật “lượng đổi, chất đổi”, thì một lực lượng phê bình chuyên nghiệp ít ỏi như vậy, chắc chắn chất lượng và hiệu quả phê bình không thể cao. Vì hiển nhiên là chất lượng và hiệu quả phê bình chủ yếu phụ thuộc vào tính chuyên nghiệp của người tham gia. 

Vấn đề đặt ra ở đây là, nếu năm nào cũng có giải trao cho các tác phẩm lý luận - phê bình sẽ rất dễ rơi vào tình trạng cào bằng, bình quân chủ nghĩa giữa sáng tác và phê bình. Nhưng nếu nhiều năm không có giải trao cho lý luận - phê bình hoặc có cũng chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ sẽ làm nảy sinh những vấn đề khác.

Hoặc là bản thân những tác phẩm, công trình lý luận - phê bình xuất bản trong thời gian vừa qua chất lượng kém, không có hoặc có rất ít tác phẩm đáng để được Hội đồng chấm giải trao thưởng.

Hoặc là do thói quen kỳ thị với lý luận - phê bình, vấn đề vốn vẫn thường thấy ở một số người trong xã hội ta từ trước tới nay, trong đó có các nhà văn, đã lây nhiễm đến các thành viên của Hội đồng chấm giải, tạo nên áp lực khiến họ rất ngại khi chọn xét giải thưởng cho tác phẩm lý luận - phê bình (!?). Điều ấy liệu có vô tình biến lý luận - phê bình trở thành những đứa “con ở”, kẻ chỉ biết ăn theo sáng tác, nên không cần thiết phải quan tâm thỏa đáng?

Về giải thưởng lý luận phê bình văn học- nghệ thuật của Hội đồng Lý luận, Phê bình Văn học- Nghệ thuật Trung ương (HĐLLPBVHNTTƯ) mới trao gần đây, cụ thể là: Giải A: 1/ Chùm bảy bài viết đăng trên báo Văn nghệ gồm: Phút giây huyền diệu; Nhà văn người học nghề mê mải; Sống rồi mới viết; Mua vui và để đời; Nhà văn, triệu phú chữ; Phác thảo chân dung nhà văn 3X, 4X; Nhà văn và bạn đọc (Ma Văn Kháng); 2/ Tiểu luận và phê bình văn học (Mai Quốc Liên); Giải B gồm: 1/ Lý luận, phê bình và đời sống văn chương (Nguyễn Ngọc Thiện); 2/ Cuốn Luận chiến văn chương (Nguyễn Văn Lưu); Giải C gồm: 1/ Luận bình văn chương (Nguyễn Hữu Sơn); 2/ Thu Bồn- nhà thơ trữ tình đất Quảng (Nguyễn Kim Huy). Và Giải khuyến khích là cuốn Văn xuôi Việt Nam hiện đại về dân tộc và miền núi (Phạm Duy Nghĩa).

Trong số 28 tác phẩm được trao từ giải A đến giải khuyến khích, có 7 giải thuộc về lý luận - phê bình văn học, chiếm khoảng 25% tổng số. Tương quan này có thể chấp nhận được vì, ngoài văn chương ra còn có nhiều ngành nghệ thuật khác, mặc dù trong cả khối, văn chương bao giờ cũng có khối lượng tác phẩm nhiều hơn. Nhưng dù sao các công trình được trao giải của HĐLLPBVHNTTƯ thời gian qua, phần lớn là đúng đối tượng chuyên ngành lý luận - phê bình văn học.

 Sự mất cân đối trong văn học Việt Nam  - ảnh 1

Xuất bản sách văn chương hỗn loạn

Khâu quảng bá tác phẩm lý luận - phê bình trên mặt báo, tạp chí hay xuất bản thành sách, bao giờ cũng có vẻ khiêm tốn hơn rất nhiều so với mảng sáng tác. Đấy là một thực tế không thể chối cãi. Có hai lý do chính yếu dẫn đến tình trạng trên.

Một là, đội ngũ những người làm công việc lý luận - phê bình chuyên nghiệp ít hơn rất nhiều so với lực lượng sáng tác. Tuy nhiên, những tác phẩm lý luận - phê bình văn học xuất hiện trên các phương tiện quảng bá như báo, tạp chí, sách, truyền thanh và truyền hình lại càng ít hơn. Nhưng qua giải thưởng lý luận - phê bình văn học của HNVVN và HĐLLPBVHNTTƯ người ta thấy phần lớn chúng đều thuộc về các nhà lý luận - phê bình chuyên nghiệp. Còn đối với những người viết lý luận - phê bình nghiệp dư, tác phẩm của họ chủ yếu là những bài điểm sách trên các trang báo viết và báo mạng hay tạp chí, ít có điều kiện trở thành một cuốn sách lý luận - phê bình theo đúng nghĩa.

Hai là, nguyên nhân dẫn đến tình trạng số lượng các tác phẩm lý luận - phê bình văn học ít vì đất dành cho nó trên các phương tiện quảng bá thường chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ. Còn nếu muốn in một cuốn lý luận - phê bình, ở hầu hết các NXB, chỉ trừ những người được cho là “có máu mặt”, còn lại tất cả đều phải bỏ tiền túi. Lý do này là trở lực lớn nhất để các tác phẩm lý luận - phê bình văn học khó có thể đến được với công chúng, góp phần định hướng dư luận.

Thay vì in những cuốn sách lý luận - phê bình văn học vốn rất kén khách, nhiều NXB đua nhau in những cuốn sách được cho là “hot” để kiếm lời. Vì thế, một số NXB chỉ bán giấy phép, phó mặc nội dung tác phẩm cho bên liên kết. Đấy là nguyên nhân chính làm cho thị trường sách văn chương thời gian gần đây trở nên hỗn loạn hơn bao giờ hết.

Chẳng hạn như cuốn Bản đồ và vùng đất (tiếng Pháp La carte et le territoire do nhà phê bình kiêm dịch giả Cao Việt Dũng dịch), NXB văn học và Công ty Nhã Nam liên kết xuất bản. Vừa mới chào đời, bạn đọc đã phát hiện ra vô số lỗi dịch thuật, buộc Công ty Nhã Nam phải “dừng việc phát hành cuốn sách để tiến hành kiểm định chất lượng bản dịch một cách toàn bộ”. Ông Vũ Hoàng Giang, Phó Giám đốc cho biết: “Sau một thời gian tạm ngừng phát hành và tiến hành kiểm định chất lượng nội dung cuốn Bản đồ và vùng đất, Hội đồng thẩm định của NXB Văn học và Nhã Nam đã đi đến kết luận: Bản đồ và vùng đất là cuốn sách dịch để lại nhiều lỗi, thuộc nhiều loại khác nhau: dịch sai nghĩa; dịch chệch nghĩa; dịch sót; diễn đạt tiếng Việt có nhiều bất ổn. Số lượng lỗi này cao hơn so với chuẩn biên tập và vượt quá số lỗi tối đa cho phép để sách có thể tiếp tục được lưu hành”.

Trước đó, các cuốn sách khác như: Sợi xích (Lê Kiều Như), Thời của thánh thần (Hoàng Minh Tường), Dại tình (Bùi Bình Thi), Ở lưng chừng nhìn xuống đám đông” (Nguyễn Vĩnh Nguyên), Nguyễn Đình Thi - Bí mật cuộc đời (Công ty CP Truyền thông Nguyễn Đình Thi), Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn do Phạm Trọng Điềm dịch, rồi mới đây nhất là “Trại súc vật” cũng đã bị thu hồi.

Tuy nhiên, sau quyết định thu hồi và phạt hành chính của các nhà chức trách, những quyển sách trên như được “hâm nóng” lên, khiến nhiều người ra công lùng sục. Vậy là các tay đầu nậu sách tha hồ mà nối bản. Nhiều cuốn sau khi có lệnh thu hồi, vẫn bày bán tràn lan trên các vỉa hè ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Phải chăng với quyết định thu hồi, cơ quan quản lý cũng như NXB vô tình đang quảng bá (PR) không công cho những cuốn sách ấy? 

Đây đích thực là một lỗ hổng trong quản lý xuất bản và ý thức văn hóa dân tộc, cũng như năng lực thẩm định tác phẩm trước khi xuất bản trong thời gian gần đây của một bộ phận cán bộ xuất bản cả ở cơ quan quản lý và NXB. Ấn phẩm văn hóa tuy cũng là một loại hàng hóa, nhưng có những đặc thù riêng, không giống với các loại hàng hóa tiêu dùng khác, nên nó cần có cách ứng xử riêng mang tính đặc thù. Thiết nghĩ đối với một số hàng hóa tiêu dùng không nhất thiết phải áp dụng khâu “tiền kiểm”, rồi mới cho sản xuất. Ngược lại hàng hóa văn hóa lại rất cần áp dụng nghiêm ngặt hơn nữa khâu “tiền kiểm”. Tiếc thay khâu này dường như thời gian qua các nhà quản lý xuất bản đã buông lỏng, để cho nó rơi tự do (!?)

Mọi người chúng ta ai cũng muốn có những ấn phẩm văn hóa của một thị trường xuất bản tự do. Tiếc thay đối với không ít người dân Việt Nam, trong đó có cả những người được mệnh danh là “cầm cân, nảy mực” chưa hiểu đầy đủ khái niệm “tự do” là như thế nào và đâu là hạn độ, mà nếu vượt quá “độ” ấy, người ta có nguy cơ sẽ trở thành những kẻ vô chính phủ, đập phá lung tung. Bên cạnh đó, cũng có người hiểu biết mười mươi nhưng vẫn cố tình “lách luật” vì lợi nhuận kinh tế. Nhưng “lách luật” đâu có dễ, bởi tai mắt của quần chúng như lưới trời lồng lộng, giăng mắc khắp mọi nơi và như người xưa đã nói: “cái kim trong đẫy để lâu cũng  thòi”. Làm những việc khuất tất bằng mọi giá để kiếm tiền là điều cần phải lên án từ phía dư luận và nghiêm trị về mặt pháp luật. Có như vậy thị trường sách mới mong bớt hỗn loạn hơn và từng bước đi vào nề nếp, quy củ.

Hiện tại trên các báo, tạp chí vài năm trở lại đây hoàn toàn vắng bóng những cuộc trao đổi, tranh luận về đời sống và sáng tác văn chương đương đại. Thiết nghĩ,  các báo, tạp chí cần mạnh dạn hơn cho đăng tải các bài lý luận - phê bình về những tác phẩm bị dư luận lên án và cơ quan quản lý thổi còi. Sẵn sàng dành đất trên mặt báo, tạp chí cho các cuộc trao đổi, tranh luận về những tác phẩm được cho là “có vấn đề” để làm sáng tỏ cái đúng, cái sai, cái đẹp và cái chưa đẹp, những giá trị tư tưởng và thẩm mỹ của tác phẩm để công chúng khỏi hoang mang, ngơ ngác khi chọn lựa sách văn chương để đọc.

Đạo Thành

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác