Nhà văn Nguyễn Khải - Người thầy lớn của tôi

Lê Lựu

Từ khi 4-5 tuổi đang chơi trò ú tim ở nhà ông chú họ tôi đã nghe ông trịnh trọng tuyên bố với mọi người rằng: Người làm nhật trình người ta giỏi như người giời. Xã mình vừa mới rào làng chiến đấu tháng trước mà tháng này người ta đã đưa lên nhật trình.

Tôi không biết nhật trình là gì nhưng hai tiếng ấy gieo vào lòng tôi một khát vọng lớn có thể thiêu đốt cả cuộc đời mình. Nghĩa là từ năm học lớp 5 tôi biết tờ nhật trình ấy là tờ báo Bãi Sậy của Hưng Yên là tôi lao vào viết nhật trình để trở thành người giời. Nhưng viết đến gần trăm bài cả thơ, cả truyện, cả bút kí, phóng sự…

Nhà văn Nguyễn Khải - Người thầy lớn của tôi  - ảnh 1
Nhà văn Nguyễn Khải (Ngoài cùng bên phải) cùng các văn nghệ sĩ của TCCT tại chiến trường Nam Lào (Ảnh: TL)


Mặc dầu không biết các thể loại nó là cái gì. Suốt 3 năm giời theo đuổi khát vọng ấy, viết hàng trăm bài tâm huyết trí tuệ sâu sắc ấy nhưng không ai thèm gửi lại cho tôi một chữ nào để nói rằng các bài viết của tôi vì sao không được được đăng. Tôi hậm hực đến mức năm 17 tuổi chưa đến tuổi đi nghĩa vụ, không được tuyển ở xã ở huyện tôi phải nhờ ông chú đưa thẳng vào Trung đoàn 50, quân khu Tả ngạn, cốt đi bộ đội để đi nhiều hiểu rộng và có nhiều tư liệu để viết để trở thành nhà nhật trình như người giời. Khốn nỗi “người giời” ấy viết đi gần 60 bài mà cũng không ai thèm trả lời một câu nào. Mãi đến 2 năm sau bài thứ năm mấy gì đó tôi không nhớ mới được đăng cái tin “Diệt ruồi” được 26 chữ đăng ở báo quân khu. Nhờ cái tin ấy tôi được tiếp xúc với 2 nhà báo, sẵn sàng giặt quần áo, bê cơm, múc nước tắm khi họ đến đại đội tôi. Tôi hỏi họ viết tin cách nào? Khai thác cái gì? Vấn đề gì của xã hội đang được quan tâm. Tôi cứ lải nhải khiến nhà báo phải cáu và chửi tôi: “tiên sư nó, viết thì cứ viết việc gì phải lải nhải điếc cả tai”. Sau tôi mới biết nhà báo ấy chỉ biết chụp ảnh mà tôi lại đi hỏi cách viết thì người ta chửi cho là phải. Tuy thế nhưng sau lần này ý định viết của tôi đã bị thui chột đến gần 1 năm không viết nổi 1 chữ. Giữa lúc ấy nhà văn Nguyễn Khải đi thực tế viết “Chủ tịch huyện”, đích thân Bí thư tỉnh ủy Lê Quý Quỳnh đưa ông đi giới thiệu với các huyện thị. Lúc ấy nhà văn đã lừng lững trước những tiểu thuyết và truyện ngắn:
Xung đột, Một chặng đường, Mùa lạc, Hãy đi xa hơn nữa, Người trở về… Những tác phẩm có tính chiến đấu sắc sảo và tinh túy, sâu xa. Ông lừng lững như những Banzắc của Pháp, Sêkhốp của Nga, Lỗ Tấn của Tàu… Ấy thế mà ông lại nhận dìu dắt tôi viết văn.

Đời tôi bỗng nhiên như được bay lên giời. Từ 1 thằng mò cua bắt ốc, đánh rậm và đi hối cá tôi trở thành nổi tiếng khắp xã, khắp huyện là đã được đi với nhà văn Nguyễn Khải và anh về ở quê với tôi gần 3 tháng. Hằng ngày anh mang tôi theo đi khắp nơi chợ búa, bến đò, nơi hội họp, nơi cãi cọ đánh chửi nhau để học cách quan sát và ghi chép. Mỗi ngày đi anh viết được hàng 30-40 trang, trang nào cũng thấy hay, trang nào sau này cũng in thành truyện. Còn tôi mỗi ngày kì cạch viết được 1-2 trang nhưng là 1-2 trang bỏ đi vì không ghi lại được không khí sống động của của cuộc sống, ngôn ngữ cử chỉ bộc lộ tính cách của nhân vật, mà dùng những ngôn ngữ sáo rỗng, sủng xa sủng xỏe. Sau này tôi mới thấm những câu nói của Léptônxtôi: Giết những tính như giết những con dệp. Hóa ra, tôi là những con dệp ngày nào cũng đốt làm thầy ngứa ngáy khó chịu nhưng thầy vẫn kiên nhẫn chỉ bảo cho tôi từng chi tiết cử chỉ, cái nào cần, cái nào không, cách xây dựng kết cấu truyện, khai thác tính cách độc đáo của nhân vật, những ngôn ngữ bộc lộ tính cách ấy…

Anh là người đầu tiên là một người dìu dắt, là nơi vịn tựa suốt cuộc đời viết văn của tôi bằng một câu khẳng định: “Cậu viết được văn, cứ thế mà chịu khó làm đừng có nản”. Thấy tôi còn ngờ ngợ anh lại khẳng định: “Đọc 3 dòng thì biết là có viết được văn hay không, tôi không lừa để giết chết cuộc đời cậu”… Rồi lại phúc đức cho cuôc đời tôi là tôi được về Văn nghệ quân đội ở cùng tổ sáng tác với anh, với những người thầy của mình. Anh và anh Châu viết cái gì, nhận xét về ai cái gì cũng đều nói cho tôi biết, đọc cho tôi nghe. Có lẽ vì các anh nghĩ thằng này trẻ con chưa hiểu tới tầm suy nghĩ và sáng tạo của các anh cho nên việc gì phải giấu diếm. Phần khác, tôi như một thằng học trò, một đứa em, đứa con ngoan ngoãn nghe lời và làm tất cả mọi việc khi các anh có nhu cầu. Đến mức có một nhà văn lớn bảo tôi: “Mày việc gì phải hầu hạ các ông ấy”. Tôi tủm tỉm cười mà lòng nghĩ: Được ở cạnh các anh ấy là hạnh phúc, là niềm vinh hạnh của tôi. Mẹ và các anh tôi vẫn dạy tôi rằng: Có viết được dăm quyển sách, vài cái phim thì cũng không được phép hoắng lên để nhờn, để chớt nhả với các bác ấy, những người thầy của mình. Giữ lời dặn dò ấy cho nên khi họp chi bộ, họp tổ sáng tác tôi là đồng nghiệp đồng chí của các anh nhưng chỗ khuất nẻo ở lòng mình bao giờ tôi cũng kính trọng thủy chung với những người thầy của tôi. Trước những trang sách sáng đèn đêm đêm tôi vẫn thấy trước mặt mình hình ảnh của các anh, lời nói của các anh, sự dạy dỗ ân cần mà có khi thô mộc của các anh.

Tôi kính trọng các anh, mê mẩn các anh đến mức trong mỗi dòng, mỗi trang viết của mình để “chống” các thầy không xâm nhập vào từng dòng viết của mình. Hàng chục năm giời tôi mới tìm cách thoát ra khỏi quan niệm, những ý nghĩ, những tình cảm, cách biểu hiện, cách cấu trúc từng câu, từng chữ để không được giống các thầy. Giống các thầy nghĩa là ăn cắp của các thầy. Các nghệ sĩ đều biết trong văn chương nghệ thuật tự đánh cắp mình, tự nhàm chán mình đã không thể chấp nhận huống hồ lại đi ăn cắp của người khác, lấy của người khác là tư tưởng giọng văn mình thì không có gì đáng xấu hổ hơn. Nhà văn Nguyễn Khải đã đi theo suốt cuộc đời tôi từ cách đi, nói, khai thác tài liệu, tiếp xúc nhân vật đến cách đặt câu, bố cục, kết cấu chuyện đều là tấm gương cho tôi học.

Tôi đi theo anh nhưng đến bây giờ, anh đã tự nhiên rũ bỏ tôi, rũ bỏ những người thân yêu để đến một phương trời khác, thế giới khác. Để lại sự cô đơn lạnh lẽo, một khoảng trống lớn không những trong tôi mà cho tất cả các nhà văn quân đội nơi anh đã sống gần trọn cuộc đời mình phải cô đơn lạnh lẽo. Anh cùng Nguyễn Thi (Nguyễn Ngọc Tấn), Nguyễn Minh Châu, Vũ Cao, Thanh Tịnh… làm nên nhà số 4. Những cây đại già vẫn trổ hoa phía trước, cây trứng gà vẫn ra trĩu quả phía sau ở ngôi nhà mái cong cổ kính ấy lặng lẽ, trống vắng vì mãi mãi không còn các anh.

Em, một kẻ học trò chậm chạp và dốt nát của các anh dù đã quá tuổi lục tuần vẫn cảm thấy như là nột đứa trẻ bơ vơ trước mênh mông của cánh đồng văn không biết những cỏ cây hoa trái sẽ ngả theo chiều gió nào.

Anh! Nhà văn Nguyễn Khải, nhà văn lớn của dân tộc, người thầy lớn của riêng em đã ra đi. Chẳng biết làm gì em chỉ có mấy lời để bộc lộ tấm lòng chân thành kính cẩn tiễn biệt anh, em xin chia sẻ nỗi đau với chị Bắc và các cháu Khoa, Thúy. Vô cùng đau đớn vĩnh biệt anh, người thầy, người anh của em…

(Văn nghệ Quân đội)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác