Nhà giáo-nhà văn và những bài giảng văn

 

(Toquoc)- Nhà văn đã hoặc đang đứng trên bục giảng xưa nay đã có nhiều đóng góp cho văn học nước nhà. Không những thế họ còn góp một phần tiếng nói cho giáo dục.

 

Những người vừa cầm bút vừa cầm phấn

Bên cạnh các ngành nghề khác gần gũi với người cầm bút như làm báo thì nghề giáo cũng được xem là lựa chọn của nhiều nhà văn, nhà thơ.

Có những người được gắn bó với đúng sở trường viết lách thì dạy môn văn. Có thể kể đến như: Ma Văn Kháng, Vũ Nho, Đặng Hiển, Lưu Thị Lương, Bùi Kim Anh, Đinh Thị Như Thuý, Trịnh Minh Hiếu…

Bên cạnh đó, cũng có nhà văn, nhà thơ mặc dù viết văn, mặc dù cũng từng tham gia giảng dạy nhưng lại là môn học không phải văn chương như: Nguyễn Huy Thiệp từng dạy sử, Võ Thị Xuân Hà dạy môn toán, Y Ban dạy môn sinh, Võ Diệu Thanh dạy môn mỹ thuật, Kim Quyên và Uông Triều dạy môn ngoại ngữ…

Chắc hẳn phần đông sẽ nghĩ, những người cầm bút từng là giáo viên ắt hẳn là dạy văn. Nhưng thực tế không phải, nhà văn, nhà thơ bên cạnh tình yêu văn chương thì họ còn am hiểu, thậm chí lựa chọn ngành nghề mình theo đuổi rất đa dạng, không chỉ gói gọn ở lĩnh vực khoa học xã hội.

Nói gì thì nói, trong một chừng mực nhất định, những nhà văn, nhà thơ từng cầm phấn đứng trên bục giảng ít nhiều cũng để lại dấu ấn trong sáng tác của mình. Bởi hơn ai hết, người cầm bút sẽ viết về cái mình hiểu sâu sắc, gắn bó với mình, thân thuộc với mình… Đây chính là một thế mạnh của những nhà văn làm nghề giáo. Và thế mạnh này khiến cho văn chương đa dạng, sinh động khi đề cập đến mảng đề tài giáo dục. Những tấm lòng thầy cô, những tâm hồn trẻ thơ trong trẻo, thậm chí những góc khuất của giáo dục cũng được các nhà văn, nhà thơ thể hiện đầy xúc động, chân thực, sáng tạo… trong các tác phẩm.

Tuy nhiên, không phải vì các nhà văn, nhà thơ đã từng hoặc đang là giáo viên đứng trên bục giảng mà tác phẩm của họ chỉ quanh đi quẩn lại với tình thầy trò, giáo dục học đường. Biên độ sáng tác của họ rất rộng, vượt ra khỏi phạm vi “nhà trường”. Đây chính là thể hiện sự chuyên nghiệp cũng như chứng minh sự “trường sức” trên con đường văn chương của những người vừa cầm bút vừa cầm phấn.

Nguyễn Huy Thiệp với sự am hiểu lịch sử khi viết về truyện lịch sử, nhân vật lịch sử đã đưa ra một cách nhìn khác. Võ Diệu Thanh với Lần đầu thấy trăng đưa ra một bức tranh với rất nhiều gam màu về giáo dục. Uông Triều bên cạnh dành nhiều trang viết về lịch sử nhưng thế mạnh ngoại ngữ đã khiến anh luôn tìm tòi cách thể hiện mới lạ, độc đáo trong tác phẩm văn chương…

Có muôn vàn lý do để những nhà giáo từ bỏ hoặc song hành với văn chương. Dẫu xét về nhiều mặt, văn chương nào có nhàn hạ hay vinh quang gì hơn nghề giáo. Có người lựa chọn vì đam mê đeo đẳng như một cái nghiệp, không thể từ bỏ được, hoặc có những người vì được sống trong không khí “sáng tác” của cả thầy và trò đầy mê hoặc, ma lực cũng như thách thức và cơ hội mà cầm bút viết như trường hợp của cô Trịnh Minh Hiếu; giảng viên, nhà lý luận phê bình Văn Giá đã và đang công tác tại khoa Viết văn - Báo chí trường Đại học Văn hoá.


Displaying bka.jpg
Nhà thơ- cô giáo dạy văn Bùi Kim Anh và các học trò cũ


Thử khảo sát quan điểm dạy văn của người cầm bút

Có lẽ chưa bao giờ vấn đề giáo dục lại trở thành vấn đề thời sự như thời gian gần đây. Nhất cử nhất động về những thay đổi của giáo dục luôn nóng ran trên các mặt báo và nhận được sự quan tâm của dư luận. Cái gì cũng cần phải thay đổi, phải xem lại, từ giáo án, sách giáo khoa, chương trình giảng dạy đến giáo viên giảng dạy… Bên cạnh sự mổ xẻ căn nguyên và cách chữa trị của các chuyên gia giáo dục thì những nhà văn, nhà thơ cũng đã góp một phần tiếng nói của mình trong việc dạy và học môn văn - môn họ (đang hoặc từng) trực tiếp giảng dạy lại gây nhiều tranh cãi nhất so với các môn học khác.

Hẳn chúng ta sẽ khá tò mò, không biết quan điểm dạy văn của những người cầm bút, người trực tiếp “sản sinh” ra tác phẩm thì có gì khác, có thể giúp ích cho giáo dục và kết thức những tranh luận không? Xin được tổng hợp một vài ý kiến khá thú vị của các nhà văn, nhà thơ từng có thời gian giảng dạy môn văn do chính họ tự viết ra hoặc phát ngôn, và được công bố.

Nhà văn Ma Văn Kháng trong Những suy nghĩ bất chợt viết: “Tôi thật tình không hiểu tại sao người ta lại lên án gay gắt khi nhà trường tiểu học trung học dạy học sinh những bài văn mẫu. Ngay cả khi học sinh chép nguyên văn những bài văn đó, nghĩa là không có sáng tạo, một giải pháp tình thế, khi đi thi đại học. Phải sáng tạo! Phải sáng tạo! Ý của những người lên án là vậy! Hoan hô các tín đồ của chủ nghĩa sáng tạo. Nhưng xin thưa, sáng tạo bằng cái gì? Học tập Tshékhov không gì bằng chép lại truyện của ông. Ai cũng biết câu nói này. Không có nhà văn hình thành nào mà không đọc Dostoyevski, Tolstoy, Hugo, Balzac, Solokhov, Marquez... Mạc Ngôn, giải Nobel văn học 2012, rõ ràng là chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo trong các tác phẩm của các nhà văn châu Mỹ Latinh. Nghe nói, trong việc đào tạo họa sĩ, có cả tiết mục chép tranh cổ điển. Tôi được như ngày nay là nhờ đứng được trên vai những người khổng lồ! Đó là câu nói cửa miệng của nhiều nhà khoa học! Riêng tôi, tôi luôn coi trọng các mẫu mực”.

Còn nhà thơ Bùi Kim Anh thì khẳng định không dạy theo giáo án của nhà trường, mặc dù giáo án vẫn nộp cho nhà trường. “Với những lớp học sinh khá, nhiều khi tôi cũng không dạy hết cả bài. Có tiết học tôi cho học sinh tự cảm nhận. Ví dụ trước đây trong chương trình văn học có 2 bài là Tát nước đầu đìnhBài ca người thợ mộc thì nội dung chủ yếu đều là tỏ tình. Tôi cho học sinh tự chuẩn bị ở nhà trước xem cách tỏ tình của mỗi anh như thế nào, cách tỏ tình nào hay. Hay như Truyện Kiều có những mẫu người nào thì tôi cho học sinh chuẩn bị, sau đó đến lớp trình bày và thảo luận.

Phần cảm nhận của riêng các em thì tôi chủ yếu dành cho các lớp học sinh khá. Còn để đủ ý cho các em đi thi thì tôi gọi một vài em trong lớp tìm các ý ra, cho các em các ý cơ bản. Thời gian còn lại mới dành cho các em cảm nhận.

Tôi luôn luôn dặn các em khi đi thi thì 3 phần mở bài, thân bài và kết bài phải rõ ràng. Thứ hai là các em phải gọi được tên ý ngay ở mỗi đoạn. Bởi vì khi chấm điểm phải có đủ ý theo đáp án. Nhưng muốn đạt điểm cao thì em phải có cảm nhận của riêng mình.

Nhà thơ Đinh Thị Như Thuý đưa ra quan điểm của mình xung quanh vấn đề dạy văn và học văn: “Tôi chỉ là một cô giáo, việc học sinh bây giờ chán học môn văn là một thực trạng đáng buồn, và tôi không làm gì được nhiều. Nhất là khi môn văn không có sự đãi ngộ của xã hội về mặt vật chất. Tuy vậy trong khuôn khổ của lớp học tôi chịu trách nhiệm, bằng chính đam mê của mình, tôi chia sẻ với học sinh tôi những vẻ đẹp của văn chương và của đời sống. Quan niệm của tôi dạy văn không chỉ dạy kiến thức văn chương mà còn uốn nắn các em ngay từ cách cư xử nói năng… Tôi thường dùng các chi tiết trong tác phẩm để liên hệ và dẫn dắt, để các em biết phân biệt cái đẹp cái xấu cái hay cái dở cái tốt cái tệ hại. Kết quả đến đâu thì còn tùy vào đối tượng học sinh tôi giảng dạy”.

Còn thạc sĩ văn chương Trịnh Minh Hiếu, người từng giảng dạy môn văn và rẽ ngang cầm bút, trong vòng hai năm đã ra mắt hai tập truyện ngắn chia sẻ: Tình trạng học sinh bây giờ sợ học môn văn là phổ biến, có nhiều nguyên nhân.

Song, theo tôi, trước hết phải xem lại vai trò của người thầy. Người thầy dạy văn trước hết phải là những người cảm thụ văn chương tốt đã rồi mới truyền thụ văn chương cho các em. Thầy phải luôn trau dồi kiến thức, đọc kỹ tác phẩm, hiểu một cách sâu sắc đến độ rung động trước cái hay, cái tinh túy của tác phẩm ấy. Rồi, phải đi xa hơn bằng cách đọc các tác phẩm phê bình để xem các nhà phê bình nói gì về tác phẩm ấy để chắt lọc đưa vào bài giảng. Rồi các tác phẩm khác của chính nhà văn ấy và các nhà văn cùng thời hoặc xa hơn để có sự so sánh, đối chiếu. Với sự đầu tư như vậy, chắc chắn bài giảng sẽ có chiều sâu, có đường biên rộng, gần gũi với hiện thực cuộc sống và đầy chất nghệ thuật văn chương. Có thế mới thuyết phục được học sinh yêu thích môn nghệ thuật này.

Tại sao cùng một áng văn hay, có thầy giảng học sinh cứ há hốc mồm ra nghe, lắc lỏm khi kết thúc giờ học. Còn thầy cô khác chỉ làm theo đúng công thức: đọc, hỏi- đáp, phân tích các ý (như hướng dẫn) rồi kết luận (cũng như hướng dẫn). Những bài giảng này thuần túy chỉ trang bị kiến thức để học sinh vào phòng thi làm bài cho đủ ý. Nhưng không hề đọng lại một tí chút gì về văn chương. Vì vậy, để học thuộc được bài văn dài lê thê ấy thì vô cùng nan giải, phải vật vã, phải học đến “lòi mắt” ra mới thuộc được. Những tiết học ấy không “bổ” một chút nào. Thậm chí đã làm tăng thêm sự sợ hãi với học sinh. Học sinh bây giờ rất nhanh nhậy và thông minh, chỉ cần hiểu bài, nắm được mấy ý gạch đầu dòng thì vào phòng thi rất ung dung. Theo tôi, “tiên trách kỷ, hậu trách nhân”. Người thầy trước hết phải tôn cao lên nhân cách và nền tri thức của mình đã mới có thể trách con trẻ được.

Hà Anh

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác