Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi: Đời và văn

(Toquoc)- Không là danh nhân, nhưng có những con người mà cuộc đời và sự nghiệp của họ mỗi lần có dịp nhìn lại, ta vẫn phát hiện được những nét mới mẻ, hiện đại. Nguyễn Thi, nhà văn mặc áo lính, người lính viết văn, đã đi đến cùng tận đời binh nghiệp trong vị thế một chiến sĩ xung kích hơn bốn mươi năm rồi, thuộc trong số không nhiều những con người như thế.

Một tiểu sử thật như… bịa

Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi: Đời và văn - ảnh 1
Nhà văn Nguyễn Ngọc Tấn (Nguyễn Thi) những ngày tập kết ở Cao Lãnh (954)
Bởi lẽ nó bao gồm hầu hết những tình tiết tiêu biểu mà cuộc sống cũng như văn chương xưa nay thường sử dụng để tạo dựng nên lý lịch một nhân vật có cuộc đời bất hạnh, đa đoan, trải nhiều thăng trầm mà vẫn lập được sự nghiệp hiển hách. Hơn thế, ở Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi, những tình tiết đó xuất hiện với màu sắc đậm nhất, trong cấp độ cực đoan nhất. Hiếm, hậu thế chắc sẽ hiếm, mà cả đương thời cũng rất hiếm nhà văn có một tiểu sử hội tụ nhiều đến thế những tình huống được coi là điển hình của một kiếp người trong thời kỳ đất nước có những chuyển động vĩ đại.

Mồ côi: Nguyễn Ngọc Tấn ra đời là kết quả của tình yêu say đắm giữa một người viên chức có học, sớm tham gia các phong trào cách mạng, đã có gia đình, con cái và một cô gái  con nhà nghèo nhưng lại được học hành, ham mê văn chương và cũng sớm có mặt trong các hoạt động tranh đấu ở một vùng quê Bắc Bộ giàu truyền thống cách mạng cũng như văn hoá: Nam Định. Lấy nhau rồi, chịu đựng lời ong tiếng ve của kiếp làm lẽ, họ vẫn tiếp tục tham gia các công tác cách mạng. Sinh ngày 15-5-1928, lúc mẹ 19 tuổi, đến tháng 10-1930, sau cao trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh, mới bập bẹ, không biết cậy nhờ ai, anh đã phải theo mẹ vào tù cả nửa năm. Lên 9 tuổi mồ côi cha, mẹ phải đi bước nữa, anh thực sự bước vào chặng đời phiêu bạt: Ăn nhờ ở đậu nhiều gia đình bà con xa gần hết Nam Định lại Hà Nội. Tham gia một gánh hát đồng ấu đi lang thang nhiều tỉnh phía Bắc. Mười lăm tuổi, di trú vào Sài Gòn, ở nhờ anh trai con bà cả. Có dịp học vẽ, đàn, ca, đọc sách. Mê người con gái đầu tiên, làm thơ, viết truyện tặng nàng. Những nét tính cách bắt đầu định hình: thu mình vào đời sống nội tâm, ngại tiếp xúc, vẻ ngoài lạnh nhạt, thủ thế, dễ oán hận. Những biến động xã hội có sức lôi cuốn anh, may là nhờ bản năng yêu nước, giữa hỗn loạn một thành phố lớn  thời trước và sau tháng Tám năm 1945, anh đã sớm chọn được con đường theo Cách mạng. Nam Bộ kháng chiến, thất lạc gia đình, anh tham gia du kích rồi vào bộ đội, làm trinh sát trong đơn vị quân cảm tử. Chính là trong chiến đấu và qua chiến đấu mà năng khiếu cầm kỳ thi họa của anh được sử dụng và phát triển. Những năm chống Pháp ở Nam Bộ, anh lần lượt được đề bạt từ cán bộ chính trị tiểu đội đến chính trị viên đại đội, được kết nạp Đảng, tham gia nhiều trận đánh. Trong buổi liên hoan văn nghệ trước khi vào một trận đánh lớn, anh đã gặp một học sinh Sài Gòn đệm đàn phong cầm cho anh ca. Mối tình giữa người lính chiến với cô gái Sài Gòn được vun đắp qua nhiều đợt gặp sau những trận chiến đấu khóc liệt trên đất Nam Bộ và cả Cămpuchia. Tết 1954, họ chính thức thành vợ chồng. Ngày anh lên tàu đi tập kết chị ở lại vượt cạn một mình. Trở về quê hương sau bao năm lưu lạc, gặp lại người mẹ anh hết lòng yêu thương, sống cảnh vợ Nam chồng Bắc, anh mới thấu hết sự gắn bó của mình với miền Nam. Miền Nam những năm tăm tối nhất, hầu không có gì còn giữ được nguyên vẹn. Thông cảm lắm với hoàn cảnh, với mọi người, nhưng nét oán hận trong tính cách đã đẩy anh tới những xử sự quá khích khi điều mất mát, dĩ lở xảy ra với mình. Những năm ngắn ngủi ở miền Bắc, từ một người lính yêu văn nghệ anh đã được bồi dưỡng và tự học để thành một nhà văn. Có gia đình mới, anh vẫn tìm mọi cách để trở lại chiến trường, khác chăng, lần này anh chiến đấu với thêm vũ khí mới: Cây bút. Những năm tháng chống Mỹ gian nan, quyết liệt, dữ dội nhưng thật hào hùng. Là nhà văn, Nguyễn Thi còn quan sát và chịu đựng một cuộc đấu tranh không kém gay go, gay gắt và quyết liệt trong nội bộ những người tham gia chiến đấu. Cũng là lẽ dễ hiểu, hoàn cảnh chiến tranh, tính chất Cách mạng tác động đến mỗi con người tham gia, làm nên tính phức tạp ghê gớm của hiện thực chiến đấu. Cũng như trận đánh có lúc được lúc thua, trong cuộc đấu tranh nội bộ này, không phải bao giờ Nguyễn Thi cũng thắng. Có điều, mấy năm ở chiến trường, trong điều kiện vật chất cũng như tinh thần không phải bao giờ cũng thuận lợi, nhà văn đã làm việc hết sức mình. Chính những năm tháng này, bằng các trang viết, Nguyễn Thi đã tạo cho mình một vóc dáng riêng giữa những bạn văn cùng trang lứa.

Nhưng dẫu cầm bút hay cầm súng, trước hết, trên hết, anh là một người chiến sĩ luôn tìm cách để có mặt kịp thời ở những nơi chiến sự ác liệt nhất. Trong trận chiến đấu không cân sức trên một cửa ngõ vào Sài Gòn những ngày Tổng tấn công Mậu Thân đợt hai mùa hè năm 1968, tự nhận trách nhiệm chỉ huy, anh đã chiến đấu thực thụ như một người lính. Cả điều này nữa, anh đã có cái chết mà những ai có chí làm trai bao đời mơ ước. Chuyện đó xảy ra một ngày tháng 5-1968. Lúc đầu có tin nhà văn hi sinh ngày mồng 9. Theo chị Bình Trang vợ trước của nhà văn xác nhận lại, trên mộ gió trong nghĩa trang Liệt sĩ thành phố ghi ngày hi sinh 24-5-1968.

Tác phẩm cuối cùng còn viết dở mang tên: Ước mơ của đất.

Rồi cũng như bao nhiêu người hiền cổ tích, anh để lại cho đời một người con gái thông minh, một người con trai cứng cỏi. Người mẹ mà anh hết lòng yêu thương, trọn đời nhớ về với một tình cảm sâu nặng còn cố sống sau anh hai mươi năm nữa với một nỗi đợi chờ khắc khoải mà đến phút cuối bà vẫn không nhìn thấy: Hài cốt người con trai. Với bó hoa trên tay, Bà đã đi suốt buổi trên đường phố Sài Gòn nơi con Bà đã hy sinh, nhưng bó hoa héo rũ mà không có chỗ đặt. Biết anh ở đâu. Còn lại với công chúng yêu văn học là mấy truyện ngắn, ký sự, ghi chép nóng hổi hơi thở một thời chiến đấu như những chứng tích vĩnh cửu.

 

Một văn nghiệp hoàn thành trong dang dở

Nhiều người thích khẳng định Văn là người. Nhưng giữa tính cách con người Nguyễn Thi và những gì anh để lại có một khoảng cách khá rõ. Chính khoảng cách này làm nên tầm vóc đáng nể của nhà văn Nguyễn Thi.

Trong đời riêng, anh là một người cực đoan, yêu nên tốt, ghét nên xấu, lại hay mặc cảm tự ti, lòng oán hận lắm khi che lấp mất sự tỉnh táo và lòng vị tha cần thiết. Tận trong lòng anh là người cô độc và hơi bi quan. Cách nghĩ, cách nhìn đời của chàng trai tuổi hai mươi như còn chi phối cả cuộc đời người lính đã trưởng thành: Đời tôi, từ lòng thương mẹ, trình độ học thức, ngày vui sướng, cuộc tình duyên, cho tới sự nghiệp cách mạng, và tương lai ngày mai về văn nghệ, tất cả đều toàn là lận đận và lỡ dở. Tôi biết và hiểu rõ lắm! (Nhật ký ngày 30-12-1950). Đã đành nếu coi đây là lời tiên tri, thì người viết đã đúng. Nhưng nghe vẫn ngậm đắng nuốt cay thế nào! Tâm thế bi quan đó nhiều khi đã đầu độc cuộc đời của anh, hơn thế nó còn loang vùng ảnh hưởng sang những người gần gũi.

Nhưng điều kỳ lạ là trong văn chương, Nguyễn Ngọc Tấn và đặc biệt Nguyễn Thi có một khí chất khác hẳn: chất lạc quan thấm đẫm mọi trang viết, kể cả trong ghi chép. Có một ngoại lệ: truyện ngắn Im lặng (Văn nghệ Quân đội, số 12-1957). Ngày nay đọc lại, ta vẫn sửng sốt bởi khả năng diễn tả cái không khí oi ngạt, chứa đầy uất hận, cay đắng của một thời bất lực khi kẻ thù thẳng tay đàn áp cách mạng, lăng nhục người thân chúng ta, mà ta chưa được cầm súng. Nhưng sau này, ít thấy nhà văn trở lại cách viết này.

Trong trẻo, hồn nhiên, lạc quan trong giọng điệu, ngôn ngữ, khí chất nhân vật với một cái duyên dễ say người, nhà văn đã dựng được chân dung nhiều loại người trong những hoàn cảnh khác nhau của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Chất hài hước Nam Bộ, ngôn ngữ dân gian đầy sức biểu cảm, cách nhìn phong cảnh miền Nam với một tình yêu nồng nàn đã làm sáng ấm những trang sách viết về các trận chiến đấu khốc liệt giữa ta và địch trong nhiều cảnh huống khác nhau. Người mẹ cầm súng, Ước mơ của đất, Những sự tích ở đất thép, các truyện ngắn đã được nhiều người bình luận, phân tích. Thực ra, đây là một sự lựa chọn có ý thức của nhà văn khi viết về một hiện thực phức tạp. Xen giữa những trang ghi chép về con người, phong cảnh, phong tục, tập quán, chuyện đời thật của những người đồng đội mà anh gặp, thỉnh thoảng tác giả lại như suy nghĩ, như thanh minh. Có lần anh viết: Nếu không có cái lẽ sống đó, không có lòng phơi phới lạc quan đó thì một ngày cũng thấy lâu. Tầm thường hoá con người, mà tầm thường trong hoàn cảnh cách mạng gay go này thì thật là nguy hiểm. (Ghi chép tập 8, trang 51)

Nhưng sức mạnh nghệ thuật của tác giả chỉ được bộc lộ hoàn chỉnh trong mấy tác phẩm còn bỏ dỡ: Ở xã Trung Nghĩa, Sen trong đồng, Cô gái đất Ba Dừa. Ba chương của tiểu thuyết đầu nổi bật ở khả năng tạo dựng không khí xã hội miền Nam khi lực lượng cách mạng vừa rút đi tập kết, kẻ thù ngoi lên thiết lập quyền lực, ra tay đàn áp những người có liên quan đến cách mạng và kháng chiến. Lòng thù hận, sự tàn bạo của chúng thật là ghê gớm nhưng tận lòng sâu chúng vẫn nơm nớp lo sợ có ngày cách mạng trở về. Trong những ngày đen tối nhất, quần chúng cũng có lòng tin đó, và nhờ lòng tin mà họ có thêm sức mạnh. Đối với kẻ thù, càng lo sợ, càng tàn bạo, độc ác, lấy độc ác che lắp nỗi sợ hãi, nhưng càng độc ác càng thêm lo sợ. Ngược lại, quần chúng cách mạng và người cách mạng, trong tình trạng thiếu thông tin về tình hình chung, đã nhìn thấy ở đó sự yếu thế và nỗi hoảng hốt không che dấu được của kẻ thù. Từng dòng, từng trang, Ở xã Trung Nghĩa được viết với bút phát tổng lực, đầy sức hàm chứa, diễn đạt rất tài tình sức chuyển động tận bề sâu của một thời kỳ lịch sử mà bề mặt rất đen tối, nhưng theo lối nói người Nam Bộ thì zậy mà không phải zậy. Nếu nói không ngoa, thì với tiểu thuyết này, Nguyễn Thi đã đặt được những rãnh cày lớn mở đầu cho một phương thức canh tác mới, hứa hẹn một kết quả bội thu. Anh đặt bút viết những dòng này khá sớm, nhưng như một công trình lớn được xây dựng không hợp thời, tác giả đành gác lại để theo đuổi những công trình ngắn ngày, phục vụ kịp thời những nhiệm vụ khẩn cấp mà cuộc chiến đấu đề ra.

Trong 24 tập sổ tay ghi chép mà nhờ một sự may mắn kỳ lạ, bạn bè còn giữ được và gửi về hậu phương sau khi tác giả hy sinh, còn có thể thấy mấy phác thảo tiểu thuyết với những đề tài khác nhau nhưng như chung một định hướng: khảo sát con người nông dân Nam Bộ trong dòng biến động dữ dội của cách mạng và kháng chiến. Tác giả viết bài này, sau gần hai năm lần đọc từng dòng, từng trang đã hoàn thành tập sách Những năm tháng chưa xa hơn 800 trang (NXB Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh 1981). Mới chỉ là một phần trong mấy ngàn trang ghi chép, nhưng tập sách đã cung cấp cho người đọc một tri thức bách khoa về địa lý, lịch sử, chính trị, tôn giáo cùng phong tục, tập quán, văn hoá dân gian Nam Bộ. Qua đó, chúng ta có thể thấy công phu sưu tầm tư liệu, học tập ngôn ngữ của nhà văn. Trong văn học hiện đại nước ta, có lẽ đó là tập di cảo đầu tiên được công bố. Chỉ tiếc, giá trị văn chương, giá trị lịch sử của nó chưa được dư luận đánh giá đúng mức.

Mà không chỉ có thể. Còn hai tác phẩm đã được công bố trên tạp chí Văn nghệ quân đội, tháng 1 và tháng 7 năm 1970 cũng không được đưa vào các tuyển tập của tác giả, đó là Sen trong đồng (trích truyện dài) và Cô gái đất Ba Dừa (Truyện ký). Trong các tập ghi chép đánh số 11,12, nhà văn ghi rõ Sen trong đồng là tiểu thuyết. Phần công bố mới chỉ là một phác thảo ban đầu. Nhân vật chính là một cô giao liên 26 tuổi, và ở thời điểm đó cô nhớ lại toàn bộ cuộc đời mình, từ mối tình con đòi người ở của bố mẹ, những gian lao khó nhọc bố mẹ từng trải trong những năm chống Pháp để nuôi con. Những ấn tượng đầu tiên về kẻ thù. Hình ảnh đẹp và hấp dẫn của anh bộ đội. Tình cảm của cô gái mới lớn. Rồi bộ đội tập kết. Cô lớn lên trong những ngày đen tối nhất. Chính tình cảm với những người kháng chiến xưa đã dẫn cô tới cách mạng. Phần đặc sắc và độc đáo nhất của phác thảo tiểu thuyết này là những trang thể hiện các trạng thái tâm lý nhân vật khi vào tù, bị tra tấn, vẫn cắn răng chịu đựng không khai báo. Vậy mà rồi khi nhìn ra xung quanh hết lớp cán bộ này đến lớp cán bộ khác chiêu hồi, đầu thú, quay lại bán đứng các cơ sở đã che chở, nuôi dấu họ, có người làm lớn khai cả đến ngàn người, giặc phải dùng mấy chục xe tải chở người bị bắt. Rồi những người đáng kính, luôn luôn được cô nhớ đến và nghĩ mọi cách bảo vệ, bỗng hiện ra chỉ vào mặt cô mà chửi cô phản bội. Chỉ nhờ có người còn kiên định mách cho cô biết chính y là kẻ phản bội, đã bán đứng cả ngàn quần chúng cơ sở, cô mới đỡ ân hận. Và rồi chính những bậc cha chú đưa Sáu - tên cô giao liên - vào con đường cách mạng giờ quay lại thuyết phục cô đầu hàng, chọn con đường sống. Trong cái cảnh đời nát ra như một manh chiếu rách ấy, một quần chúng trung kiên nhưng hiểu biết có hạn lắm lúc thật hoang mang. Với riêng cô, giữ khí tiết không khó. Sáu chỉ sợ mình giữ khí tiết mà làm hại đến bao người khác! Xung quanh cô gái mới lớn diễn ra bao nhiêu tình cảnh rối rắm, éo le, cực nhục vào một thời điểm cách mạng thoái trào. Nhà văn đã ném nhân vật vào một hoàn cảnh bi tráng để có cơ hội quan sát mọi biến thái tâm lý tinh thần của một quần chúng, từ chỗ chỉ mới có cảm tình với người cách mạng, sau những ngày ở tù, đã trở thành một người chiến sĩ kiên cường như thế nào. Không tìm cách lảng tránh những sự thật lịch sử đau lòng, nhưng bằng giọng kể hồn nhiên, ngôn ngữ dân dã, lối nhìn đời biện chứng, nhà văn đã thể hiện được một khúc lịch sử nặng nề, bi tráng không thể quên. Cho đến nay, giai đoạn lịch sử đặc biệt này vẫn còn là khoảng trống trong văn học hiện đại.

Không có được sự kỹ lưỡng của Sen trong đồng, nhưng Cô gái đất Ba Dừa cung cấp cho ta sự khám phá thú vị về một nhân vật nữ nông dân trên đường cán bộ hoá. Ba - tên nhân vật chính - là một tính cách mạnh mẽ, giàu tính tự lập, tháo vát, gan da một cách bản năng, lắm lúc đến liều lĩnh, cả trong công việc, trong đời tư nhưng vẫn được phát triển trên cái nền của một con người trung hậu. Nét mới trong tiểu thuyết này là nhà văn đã sớm nhìn thấy những biểu hiện mâu thuẫn trong nội bộ đội ngũ cán bộ kháng chiến và nhìn thấy muôn vàn biểu hiện rối rắm của nó. Trong cả hai phác thảo tiểu thuyết này, Nguyễn Thi đã tìm được Giọng điệu riêng, liền mạch mà không nhàm chán, bám rất sát dòng chảy lịch sử mà vẫn rộng chỗ cho hư cấu, chọn được những tình huống cho nhân vật thể hiện hết các cung bậc tình cảm, các biến thái tinh tế của tính cách.

Với văn học, đó vẫn là những phác thảo, dẫu giầu chất liệu, vẫn chưa được coi là những tác phẩm. Nhưng chính những trang viết bỏ dở ấy đã giúp chúng ta thấy rõ hơn tầm vóc của một nhà văn.

      

Đôi điều kiến nghị

1. Trải mấy cuộc kháng chiến, nhiều nhà văn Việt Nam đã hy sinh anh dũng ngoài mặt trận. Tấm gương cuộc đời cũng như tác phẩm của họ có sức cổ vũ rất lớn đối với những lớp người tham gia chiến đấu. Họ là hình mẫu điển hình của người lính: Sẵn sàng đem lồng ngực ngăn những viên đạn quân thù bắn về phía Tổ quốc. Những tác phẩm kịp thời của họ đã dựng nên những tượng đài làm bất tử các anh hùng trong chiến đấu. Đã đến lúc, Nhà nước và Quân đội rất nên có những hình thức ghi công và tặng thưởng xứng đáng đối với những nhà văn đã hy sinh. Trong số đó, Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi xứng với một hình thức khen thưởng cao nhất.

2. Riêng với nhà văn Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi nhân dịp này, nên tái bản, có bổ sung Toàn tập của nhà văn (gồm 4 tập). Trước là để tác phẩm của nhà văn tham gia vào cuộc sống đương đại như một lời cảnh tỉnh những ai sớm quên cái giá máu xương nhân dân đã hi sinh để đất nước có nền độc lập hoà bình hôm nay. Sau nữa là có chút nhuận bút giúp cháu NGUYỄN THI - con trai đang ở cùng cháu nội nhà văn có thêm chút tiền sửa sang lại căn hộ trong khu tâp thể quân đội ở 3 - Ông Ích Khiêm - Hà Nội, nơi ông được cấp từ 50 năm trước, giờ đang bị xuống cấp nghiêm trọng, mà các cháu không có khả năng sửa chữa. Tôi cũng tha thiết mong sự chung lòng góp sức của nhiều tấm lòng để các hậu duệ Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi không thấy cô đơn và buồn tủi. Đó cũng là cách tốt nhất để góp phần khẳng định những thành tựu của văn học cách mạng.

Hà Nội 11/1994-8/2010

Nhà văn Ngô Thảo

 

------------

(*) Bài viết nhân Hội thảo "Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi (1928-1968): Cuộc đời và Sự nghiệp" do Hội Nhà văn TP.HCM tổ chức ngày 18/8/2010, để chuẩn bị hồ sơ đề nghị Nhà nước Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang cho nhà văn.

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác