Ngựa như một ngôn ngữ và như một biểu tượng

 

(Toquoc)- Theo Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới (Nxb. Đà Nẵng, 1997), ngựa gắn với tín ngưỡng và hình ảnh này “đã ăn sâu vào ký ức tất cả các dân tộc từ thời nguyên thủy”. Trải qua một quá trình phát triển lịch sử văn hóa lâu dài, hình ảnh ngựa ngày càng được bồi đắp những lớp ý nghĩa mới. Nhắc đến hình ảnh ngựa, người ta thấy xuất hiện một mạng lưới ý nghĩa rất khó bóc tách, rằng đâu là sản phẩm của trí tưởng tượng, của tín ngưỡng tâm linh, khoa học, truyền thuyết, huyền thoại, đâu là ý nghĩa nguyên gốc… Từ lâu, ngựa đã sống một đời sống phong phú, tinh tế của nó trong các sáng tác nghệ thuật; chỉ tính riêng các sáng tác văn học, từ văn học dân gian đến văn học viết hiên đại cũng thấy có ngàn lẻ hình ảnh ngựa. Ngựa gắn với sự sáng tạo những giá trị văn hóa tinh thần của con người từ buổi bình minh. Có thể nhận diện được nền văn minh châu Á cổ sơ qua một số nghi lễ saman giáo, nhất là tục hiến tế ngựa.

"Thảo nguyên Trung Á, quê hương của những người cưỡi ngựa và những thầy pháp Saman, còn lưu giữ trong các truyền thuyết văn học của mình hình ảnh của con ngựa cõi âm ty, mà những khả năng bí ẩn của nó bổ sung cho những khả năng của con người, ở nơi mà chúng bị chặn lại, tức là trước ngưỡng cửa của cái chết. Có con mắt thấu thị, quen thuộc với bóng tối, con ngựa thực hành chức năng dẫn đường và nói thay, hay nói bằng một từ, dẫn dắt linh hồn. Bài ca sử thi Er-Toshtuk của người Kirghiz (Kiêcghidi) về phương diện này thật là có ý nghĩa (Boka). Để tìm lại linh hồn bị một thuật sĩ đánh cắp, người anh hùng Toshtruk, dù anh dũng đến đâu, cũng phải bằng cách nào đó từ bỏ nhân cách của mình để phó thác cho những năng lực siêu phàm của con ngựa thần Tchal-Kouirouk, con ngựa này đã giúp anh ta xâm nhập được vào thế giới dưới đất và nơi ấy tháo gỡ những cạm bẫy. Tchal-Lourirouk, một Bayard của châu Á, hiểu và nói như người; bắt đầu chuyến đi huyền thoại này, nó báo trước cho chủ nó về cuộc đổi thay các năng lực sẽ phải diễn ra…

Hình tượng những con ngựa của thần chết, báo trước cái chết đầy rẫy trong toàn bộ folklore châu Âu, từ Hy Lạp cổ đại đến thời trung đại. Ngay người Hy lạp, theo một dị bản huyền thoại về chiếc chìa khóa giải các chiêm mộng- một tác phẩm của Artémidore- đã quan niệm rằng nằm mơ thấy ngựa là dấu hiệu sắp chết ở người mắc bệnh (Jead, 284). Ở vùng Arcadie nữ thần Déméter thường được hình dung có đầu ngựa và được đồng nhất hóa với một trong những Erinnyes, những nhân vật khủng khiếp thi hành công lý nơi âm phủ. Nữ thần này đã sinh ra, cùng với Poséidon, một con ngựa khác là Areion, vật cưỡi của Héralès.” (Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, tr.656)

Ngựa không chỉ là một ngôn ngữ dùng để miêu tả thân thể, hình thể, mà còn là một ngôn ngữ nói. Ngôn-ngữ-ngựa (có để gọi như thế để phân biệt với vị trí, vai trò của các ngôn ngữ động vật khác) không chỉ nói về thế giới bên ngoài, thế giới khách quan, trần thế, mà còn dùng để nói về thế giới tâm hồn, tâm linh, thế giới siêu nhiên.

 Ngựa như một ngôn ngữ và như một biểu tượng - ảnh 1

Ngựa như một ngôn ngữ: chúng ta nói với nhau bằng “ngôn-ngữ -ngựa”

Ngựa hiện diện trong đời sống hằng ngày, gắn bó chặt chẽ với con người, xưa nay nó vẫn được xem là một thứ động vật có tình cảm, tình nghĩa với con người. Nhưng trên thực tế, ngựa cũng đã trở thành một ngôn ngữ. Con người chúng ta đã nói với nhau, về nhau bằng “ngôn-ngữ-ngựa”: khi vui, hy vọng lẫn khi buồn đau cô độc, trong những chuyến đi xa lẫn khi trở về, trên chiến trận và khi thời bình,… ngựa đều gắn bó, đi liền với con người, biểu đạt ý chí, ý nguyện, cảnh ngộ, tình cảm, tính cách, quyết định của mỗi người. Chẳng hạn nói tính cách, tinh thần đoàn kết gắn bó, sự tương ái, đồng cảm ta có câu: thẳng (như) ruột ngựa, ngựa non háu đá, một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ. Nói về cảnh ngộ đơn độc, không có người hỗ trợ lúc khó khăn, vất vả hay gặp cơn nguy hiểm ta có câu: đơn thương độc mã. Nói về sự tình không bỏ được thói quen trước đây, tiếp tục trở lại thói cũ, con đường cũ (thường là xấu) ta có câu: ngựa quen đường cũ. Nói về khả năng, tài năng, nhân cách, phẩm chất con người qua thời gian thử thách, khó khăn lâu dài ta có câu: đường dài mới hay sức ngựa. Nói về sự thay đổi người dưới, kẻ tay sai giữa chừng, giữa cuộc, có câu: thay ngựa giữa dòng. Nói về cuộc sống giàu có, có người đưa kẻ đón, nhàn hạ, có câu: lên xe xuống ngựa. Nói về thời gian trôi nhanh vùn vụt hay nói về sự đông đúc có câu: bóng câu qua cửa sổ, ngựa xe như nước. Nói về sự may rủi, phúc họa không lường, về cảnh trong cái rủi có cái may, trong cái may có khi tiềm ẩn mối họa, ta có câu (điển): tái ông thất mã. Nói về sự tương đồng giữa người này với người khác, nhờ sự tương đồng đó mà họ tìm đến nhau, liên kết, hợp tác, gắn bó cùng nhau thực hiện việc gì đó (thường là xấu), ta có câu: ngưu tầm ngưu mã tầm mã. Và để nói về sức mạnh lời nói, sự kiên quyết, thái độ dứt khoát, tự tin, quyết không thay đổi được trong lời nói, ta có câu: nhất ngôn ký xuất tứ mã nan truy.

Nói về sự chung tình, người ta cũng nói da ngựa bọc thây, thấy ngựa trở về mà không thấy người đâu chúng ta xem là một tín hiệu không vui, khi chủ nhân bị thương hoặc bị chết nằm gục trên lưng ngựa, con ngựa ấy dường như cũng nhận biết được điều đó và nó có thể đưa chủ về nhà như một cách thể hiện sự chí tình, tận nghĩa, nó là con vật nhớ đường, quen đường, con vật gắn với sinh mệnh, bản mệnh của con người. Khi sống ngựa gắn với hành trình khởi đầu và hành trình cuối cùng của con người; ngay khi con người chết đi thì chính con ngựa (ở một số nền văn hóa) đảm nhận chức năng dẫn đường cho linh hồn của của chủ nó. Ngựa là con vật báo tin, con vật chở thông điệp, con vật thực hiện chức năng dẫn đường, một con vật nói về đường đi - hành trình của chúng ta.

Nói về thân phận, sự khốn khổ, người ta cũng nói bằng hình ảnh ngựa. Đến đây hẳn chúng ta đã rất ấn tượng với truyện ngắn nổi tiếng Người ngựa và ngựa người của Nguyễn Công Hoan. Nhưng người ngựa, ngựa người không chỉ là chuyện nghèo khổ cùng cực, chuyện phương tiện, vật chở, mà là chuyện về sự đảo ngược vị trí vai trò của con người. Người cưỡi ngựa trở thành ngựa, con ngựa thực tế vắng mặt, thay vào đó là con ngựa người, con người ngựa. Nhà văn Nguyễn Công Hoan không biến con người thành con ngựa như chúng ta quen bình giá như thế, mà ông ta đã dùng ngôn-ngữ-ngựa và xem đó như là ngôn ngữ đạt nhất, thích đáng để diễn tả sự khốn khổ của con người. Người kéo xe là ngựa người, còn người ngồi xe cũng chính là người ngựa. Họ đều là những thế vật, những con ngựa thế mạng. Sự khốn khổ này chất lên sự khốn khổ khác, sự bần cùng này đè nặng lên sự bần cùng khác. Sự thất vọng này kéo theo sự thất vọng khác. Cứ thế câu chuyện khơi dậy những cảm xúc nhân văn. Nói với nhau bằng hình ảnh ngựa, rõ ràng trong trường hợp vừa kể, chúng ta nói được nhiều điều hơn ngôn ngữ văn tự giao tế.

Trong phân tâm học, khi Sigmund Freud phân tích một ca ám sợ ở một bé trai 5 tuổi (chuyện bé Hans), ông cũng phát hiện ra rằng, ngựa là một ngôn ngữ của con người, ngôn ngữ vô thức, ngôn ngữ Ơ đíp, ngôn ngữ bản năng. Nói đến tính dục, nhiều khi người ta cũng liên hệ đến ngựa, dùng ngựa để miêu tả, nói thay cho ngôn ngữ nói của con người. Ngựa được dùng như một ngôn ngữ về tuổi trẻ, sức xuân, bản năng dục vọng mạnh mẽ, năng lực sáng tạo dồi dào và sức sống chiến thắng. “Ở cực điểm thì các từ ngựa, ngựa đực non, hoặc ngựa cái, ngựa cái tơ đều có ý nghĩa tình dục cũng mập mờ như từ cưỡi" (Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, tr.661)

Chúng ta không chỉ nói với nhau bằng ngôn ngữ-văn tự mà nói với nhau bằng ngôn ngữ hình ảnh, bằng các ẩn dụ, các biểu tượng, các ký hiệu. Chúng ta đã nói, đã đọc và đã diễn giải về ngựa như một ngôn ngữ đặc biệt của chính chúng ta. Hơn thế, đọc nó như một văn bản, đọc thấy ở nó những thông tin, tin tức, ý nghĩa khác nhau… Việc con người nói với nhau bằng “ngôn- ngữ-động vật” đích thị là một sản phẩm bậc cao của văn hóa. Ở Trung Quốc, trong truyền thuyết xa xưa, có kể lại rằng, vào đời Phục Hy, trên sông Hoàng Hà từng xuất hiện một con Long - Mã, trên mình con vật này có bức hà đồ, vua Phục Hy thấy vậy bắt chước viết thành Bát quái Tiên thiên. Cái hà đồ, hay còn gọi là mã đồ trên mình Long mã ấy, chính là một biểu tượng khác về lời, về ngôn ngữ biểu đạt, ngôn ngữ kí hiệu, tượng trưng của con người.

 

Ngựa là một biểu tượng phức tạp bậc nhất trong nền văn hóa nhân loại: chúng ta xem ngựa như một biểu hiện của chính bản thân mình

Ngựa như một ngôn ngữ, mà  ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu, bởi vậy có thể xem ngựa là một kí hiệu. Ở hình ảnh độc đáo này tồn tại những ý nghĩa biểu tượng trái ngược nhau (nước/lửa, sống/chết, thành công/thất bại….).

Vẫn theo các tác giả Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, nhìn chung biểu tượng ngựa có những ý nghĩa sau:

- Ngựa là một hình tượng âm tính. Ý nghĩa gốc của ngựa là tượng trưng cho “bóng tối âm ty”, ma lực. Ngựa được xem như “là con đẻ của bóng đêm và cái huyền bí".

- Ngựa vừa tượng trưng cho sự sống vừa tượng trưng cho cái chết, nó có mối liên hệ với lửa và  nước, tượng trưng cho sức mạnh phá hủy đồng thời cũng biểu tượng cho chiến thắng.

- Ngựa tượng trưng cho bóng tối, âm giới, sự lầm lạc, song cũng biểu trưng cho ánh sáng, mặt trời, thiên giới, dương tính. “Con thiên mã màu trắng biểu thị cho bản năng đã được kiểm soát, được làm chủ, được thăng hoa".

- Các nhà phân tâm học biến con ngựa thành biểu tượng của cái tâm vô thức, cái linh hồn phi nhân tính, một mẫu gốc gắn liền với mẫu gốc mẹ, mẫu gốc thời gian, mẫu gốc sự cuồng nhiệt của dục vọng.

- Ngựa vừa biểu thị cho sự mù quáng, hoảng sợ, bất an, vừa biểu thị cho sự thấu thị, an toàn, cho những năng lực siêu nhiên, ngựa có thể giúp con người tháo gỡ những cạm bẫy, giúp con người liên hệ với “thế giới bên kia", là chiếc cầu nối với thế giới khác.

- Ngựa biểu trưng cho sức mạnh làm thụ thai, cho bản năng, và qua sự thăng hoa, cho cả tinh thần: trong các tín ngưỡng của các dân tộc nông nghiệp con ngựa cái hiện thân trong vai trò Đất-Mẹ; ngựa đựa là hiện thân của Trời.

- Trong Phật giáo Mật tông, con ngựa tượng trưng cho sức mạnh của ân đức lan toản bố phương của Quan thế âm. Con ngựa còn biểu trưng cho tri thức, hiện thân của Pháp (Dharma), thậm chí trở thành biểu tượng của bản thân Phật Thích Ca Mâu Ni.

- Ngoài ra ngựa còn biểu hình cho ngai vàng (ngồi trên ngựa như ngồi trên ngai vàng), cho hoạt động tính giao (cưỡi ngựa), biểu trưng cho các giác quan kéo cỗ xe của tinh thần; là hiện thân của gió; biểu tượng chinh chiến, chiến tranh, sự đổ máu, hung dữ, chiến đấu; ngựa còn tượng trưng cho quyền lực, sự uy nghi và sự say mê quyến rũ trong tình yêu (người anh hùng, hào hoa thường cưỡi con tuấn mã, đi liền với những con ngựa trắng), biểu trưng cho cái thiện, bình diện nhân văn, tích cực của đời sống; liên hợp biểu tượng ngựa-chim biểu tượng cho thiên giới- mặt trời….

“Có thể nói rằng, Ngựa là một trong những mẫu gốc cơ bản mà loài người đã ghi sâu vào trong ký ức của mình. Ý nghĩa biểu tượng của nó bao trùm cả hai cực- thấp nhất và cao nhất của Vũ trụ, và vì thế là phổ quát thực thụ. Ở hạ giới, ở cõi âm, chúng ta quả thực đã thấy con ngựa xuất hiện như một hóa thân hoặc bằng hữu của ba nguyên tố cấu thành: lửa, đất, nước và ngọn đèn của chúng là mặt trăng. Nhưng chúng ta cũng thấy nó ở thượng giới, ở cõi trời, liên kết với ba yếu tố: khí, lửa và nước- hai nguyên tố sau bây giờ lại có ý nghĩa thiên giới- và ngọn đèn của chúng là mặt trời. Ngựa kéo xe mặt trời, ngựa cũng kéo xe mặt trăng trên mặt tiền tam giác của đền Parthénon. Con ngựa di chuyển một cách dễ dàng như nhau từ đêm sang ngày, từ cõi chết sang cõi sống, từ đam mê sang hành động. Như vậy nó nối kết các mặt đối lập trong một hiện hữu liên tục. Xét về bản chất, nó là cái hiện hữu: nó là sự sống và sự nối tiếp, vượt lên trên sự đứt đoạn giữa cuộc sống với cái chết của chúng ta. Nhưng khả năng của nó vượt quá sự hiểu biểu của ta, nó là cái thần kỳ và chẳng nên ngạc nhiên là con người hay linh thiêng hóa nó đến thế, từ thời tiền sử đến lịch sử"(Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, tr.663).

Trong văn chương đương đại, ngôn-ngữ-ngựa còn được dùng như một biểu trưng của sự phá cách, nổi loạn, táo bạo, mạnh mẽ bất kham, cho tinh thần độc lập, trí tưởng phóng khoáng, cho sự giải phóng dục vọng bản năng. Đã có một thời, nhóm thơ Ngựa trời “phi" thẳng vào văn đàn, bằng một tập thơ gây xôn xao. Sự xuất hiện của Ngựa trời là một hiện tượng cần được lý giải ở nhiều khía cạnh hơn nữa, nhất là khi thành lập nó là 5 tên tuổi nữ và sự thực hành thơ của họ ít nhiều gần với một thứ dự báo, tuyên ngôn, khiêu khích người đọc, khiêu khích nền mỹ học và đạo đức truyền thống. Có thể lý giải được tại sao họ đặt tên nhóm là nhóm Ngựa trời, và tập thơ in chung là Dự báo phi thời tiết (Nxb. Hội Nhà văn, 2006), tại sao “dư luận” lại lên án… Nhưng đó là chuyện của một bài viết khác, kĩ lưỡng hơn, về các nhà thơ nữ ngoại vi hóa.

Bảo An

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác