Ngôn ngữ hiện đại vẫn phải đảm bảo sự trong sáng tiếng Việt

(Toquoc)- Trong thời đại Internet phát triển, phổ biến và trong hoàn cảnh toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, đã có khá nhiều ý kiến đề cập đến cách dùng ngôn ngữ của một thế hệ mới, cách hành văn “bí hiểm” của không ít tác giả (kể cả tác giả đã “đứng tuổi): gây khó khăn cho việc hiểu, làm suy giảm vẻ đẹp trong sáng của tiếng Việt…

Thiết nghĩ, đây là một vấn đề hệ trọng và gần gũi với nhiều độc giả văn hóa văn nghệ. Để rộng đường dư luận, chúng tôi xin giới thiệu lại bài viết còn nguyên tính thời sự của Xuân Diệu đăng trên báo Ngày nay cách đây đã lâu (1939). Mong rằng, sẽ nhận được nhiều bài viết trao đổi xung quanh cách hành văn, ngôn ngữ hiện nay.


Tính cách An Nam trong văn chương

Có lẽ ý tôi sẽ ngược với rất nhiều người, song tôi cũng mong được có cái tự do tư tưởng, nói những điều tôi thành thực tin, dù bị công kích cũng đành.

Văng vẳng ở đâu đây, tôi có được nghe người ta bảo: văn chương An Nam phải có tính cách An Nam.

Thực là chí lý; thực là một điều dĩ nhiên quá: chẳng lẽ viết văn An Nam lại hóa ra viết văn Tây. Những cái thuyết “tính cách An Nam” là một thuyết dễ làm cho ta nhầm: chỉ một chút cố chấp, một chút hủ lậu cũng đủ biến cái thuyết đẹp đẽ kia thành ra một thuyết chật hẹp, nông nổi.

Người An Nam là người An Nam, chứ người Tây sao được? Dù có Âu hóa đi nữa, cái đặc biệt của nòi giống vẫn còn ở trong máu, trong từng thớ thịt, từng miếng da văn chương Việt Nam cũng vậy. Có ngô nghê phải chết, cái lố lăng phải mất, sự nô lệ trong văn chương không thể nào tạo nên được những tác phẩm lâu bền. Phải, văn mỗi nước có một tinh thần, khó diễn tả cho rõ được; ta phải có một thứ cảm xúc riêng để cảm nghe cái tinh thần ấy. Đời nào văn Việt Nam lại dung túng những lối văn sống sượng, một lối văn nô lệ cho văn Tàu hay văn Tây! Trong văn chương cũng có một luật đào thải tự nhiên; những cái phản với tinh thần quốc văn tất phải tiêu diệt.

Tôi nghĩ chúng ta không cần phải quá áy náy, lo rằng văn chương Việt Nam mắc cái bệnh “làm Tây”; những cỏ dại không hợp thủy thổ sẽ chết ngay từ khi gieo giống.

*

Chúng ta phải giữ gìn cho tính cách An Nam. Điều ấy rất phải. Nhưng giữ gìn bờ cõi có phải là đóng hết cửa biển, tuyệt hết giao thông, bế tắc cả nước lại đâu! Giữ gìn không phải là quẩn quanh trong một vũng ao tù, không phải là đành tâm mến yêu một cảnh nghèo đói. Văn chương Việt Nam được giữ gìn một cách chắc chắn là tiếng Việt Nam (la langue Annamile) có hình thức, có mẹo luật riêng. Ta viết bằng quốc văn dùng những chữ (les mots) An Nam, mà ta cảm nghe rất tỏ; tiếng An Nam cũng như một khí cụ ta biết khéo dùng cái khí cụ ấy, dùng cẩn thận thì thôi; hà tất phải khư khư chạy đi tìm một cái cổ hủ nào rất vu vơ, mờ mịt?

Cái Âu tây đã làm cho chúng ta tinh vi - kỹ lưỡng; vì sao chúng ta không nói những điều ấy trong văn Việt Nam? Ta viết văn An Nam tả những tình cảm của ta, thì có gì hại cho văn An Nam chứ? Chúng ta là những người An Nam có chịu ảnh hưởng Âu tây, nhưng vẫn là người An Nam. Mà người Âu tây là gì? Họ cũng vẫn là người. Trừ những điều riêng tây quá, chứ cái “kho”, cái “đáy”, cái “vốn” của con người ở đâu đâu cũng giống nhau. Trong lòng An Nam của chúng ta, vẫn có phần nhiều những ý, những tình, những cảm giác mà người Tây có. Xưa kia ta không nói là vì ta không ngờ; bây giờ cái não khoa học của Âu tây đã cho biết rằng ta có, vẫn có đã lâu nhưng của cải chôn giấu ở trong lòng, thì sao ta không nói? Miễn là ta dùng tiếng An Nam và dùng đúng, tức là viết văn An Nam khi xưa, đất An Nam cũng vẫn có những mỏ dầu hỏa đấy chứ; cái dầu hỏa mà khoa học Âu tây tìm ra trên đất An Nam có phải là dầu hỏa tây hay không?

*

Với lại có những cách phải dựa theo tây mà nói, nếu không nói được bằng cách nào. Ta phải nhận rằng xưa kia các cụ có mấy khi chịu dùng tiếng An Nam! Một thứ tiếng để lâu quá, ít dùng quá thì cố nhiên ít được khéo léo. Chúng ta phải tạo thêm, phải bày đặt ra những cách dùng mới mà xưa kia các cụ không chịu tìm; vả lại chúng ta ở thế kỉ hai mươi, chúng ta có những cái phức tạp mà các cụ không có. Cái phức tạp là đấy ư? Thế nghĩa là muốn làm An Nam, phải giản dị, đơn sơ như thời trung cổ ư?

Bởi thế, thỉnh thoảng chúng ta phải dùng những chữ bởi, của, trong v.v… những tiếng đưa đẩy mà trước kia các cụ rất ít dùng; và ta lại dùng theo những cách có hơi lạ.

Tôi xin lỗi Hoài Thanh vì tôi đã nói: “đại dương của thương nhớ, sa mạc của cô đơn”. Tôi nhận rằng chữ của ngô nghê thực. Song le, nếu nói: “nỗi thương nhớ mênh mông như đại dương” thì hai câu rất khác nhau. Câu dưới là một sự so sánh (un comparaison), câu trên có chữ của là một sự chung hợp, một sự lẫn lộn (un métaphore). Ý của tôi phải dùng một cái métaphore mới tả được; thì tôi phải dùng chữ của đầu cái ấy nghe không quen tai.

Tôi còn nói nhiều về vấn đề này. Một vấn đề mềm mỏng và hệ trọng biết bao nhiêu! Cốt nhất không phải là thắng trong sự tranh luận; cốt nhất không phải là lòng tự ái; chỉ một điều ta nên nghĩ, dẫu ta phải hay trái, là tiếng Việt Nam mà ta yêu.

Ngày nay ra ngày thứ Bảy 28 Janvier, 1939, số 147

Hoàng Yến sưu tầm

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác