Nghĩ về tiêu chuẩn- quy chuẩn văn hóa phẩm Việt Nam trong thế giới hiện đại

Nhà PBLL Ngô Thảo


LTS: Ngày 2/11, tại Đà Nẵng, được sự uỷ quyền của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Trung tâm Công nghệ Thông tin đã tổ chức hội thảo khoa học “Quản lý chất lượng sản phẩm văn hóa qua công tác xây dựng tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật”. Báo Điện tử Tổ Quốc trích đăng một số tham luận.


Thông thường, khi bàn đến văn học nghệ thuật, chúng ta quen bàn đến nội dung, tư tưởng, nghệ thuật biểu hiện, và các cảm xúc mang lại cho con người. Nhưng để tất cả những nội dung đó tới với công chúng, nó phải được hiện hình và chuyển tải trong những cái vỏ vật chất nhất định:  là cuốn sách, bức tranh, bản nhạc, vở diễn sân khấu, bộ phim….Và để làm ra những sản phẩm đó cần có những công nghệ và vật chất nhất định. Để đưa nó đến được với công chúng, lại cần những cơ sở vật chất, khoa học kỹ thuật phù hợp từng thời đại.

Từ công nghệ in sách và phát hành sách, phổ biến nội dung sách qua các phương tiện thông tin tùy điều kiện. Ví dụ như một vở kịch muốn tới được công chúng cần kịch bản, đạo diễn dàn dựng, diễn viên, âm thanh, ánh sáng, âm nhạc, sân khấu, nhà hát…; để có một bộ phim cần rất nhiều phương tiện kỹ thuật hiện đại. Và chính cái phần kỹ thuật này quyết định chất lượng kỹ thuật một bộ phim để có thể chiếu được nơi này, nơi khác hay không…Các loại hình nghệ thuật cũng như hoạt động văn hóa khác cũng cần những cơ sở vật chất tương ứng. Tất cả những cái đó cần được Nhà nước, thông qua Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Thông tin và truyền thông và các Bộ ban nghành khác liên quan là những cơ quan quản lý để định hướng và gián tiếp thực hiện việc cung cấp cho xã hội.

 

Nghĩ về tiêu chuẩn- quy chuẩn văn hóa phẩm Việt Nam trong thế giới hiện đại - ảnh 1
Nhà phê bình văn học Ngô Thảo

Tiêu chuẩn và quy chuẩn mà chúng ta góp ý ở đây để đưa vào văn bản chính thức là để cho những cơ sở vật chất ấy đáp ứng tốt nhất cho các mặt hoạt động, sự vận động và phát triển của văn hóa nước nhà. Tuy vậy, đây là một lĩnh vực rất rộng và trong thực tế đời sống, nó không biệt lập mà đan xen, song trùng nhiều ngành nghề khác cùng sử dụng, không chỉ ở Việt Nam mà nhiều nước cùng sử dụng hoặc cung cấp cho chúng ta (như giấy in và máy in, phim nhựa và máy quay..), nên việc xây dựng tiêu chuẩn và quy chuẩn dẫu chỉ của nước ta cũng không thể quá khác biệt so với quốc tế. Một mặt vừa bảo đảm an sinh cho người tiêu dùng, cho môi trường, vừa phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Trong bài viết này tôi xin được góp mấy ý kiến cụ thể thuộc một số lĩnh vực mà tôi có biết.

1. Đặc điểm tiêu chuẩn- quy chuẩn của văn hóa nghệ thuật truyền thống:

Nói truyền thống, trước hết là nói đến tính ổn định và bền vững của loại hình nghệ thuật và cả cơ sở vật chất để các loại hình đó tồn tại. Lịch sử phát triển từng loại hình nghệ thuật dài ngắn có khác nhau, ngay trong một loại hình thì các bộ môn, các thể loại các kịch chủng cũng khác nhau, nhưng sang đến giửa thế kỷ XX, ở nước ta đã hình thành các hình thức nghệ thuật, mà việc ra đời và tồn tại của các Hội VHNT chuyên ngành hiện có là một sự công nhận chính thức. Thực tế này đương nhiên hình thành những thước đo phổ quát về nội dung nghệ thuật, về vị trí và tác động xã hội của từng loại hình nghệ thuật, và đi liền với nó là những cơ sở vật chất, những phương tiện cụ thể cho từng loại hình hoạt động, và dẫu chưa có qui chế chính thức được ban hành nhưng ,nhưng các thiết chế cụ thể đã tồn tại dưới những loại văn bản khác nhau như nhà văn hóa, nhà hát các kịch chủng và thể loại ca nhạc, rạp và bãi chiếu phim, galery và nhà trưng bày tranh, các bảo tàng… các nhà xuất bản và các nhà in, thậm chí đến trang thiết bị, diện tích và vị trí một phòng hát karaoke cũng được quy định rất chi tiết.v.v. Đồng thời rất nhiều phương tiện trang bị cũng được tiêu chuẩn và quy chuẩn hóa. Ngay cả trang thiết bị âm thanh, ánh sáng, nhạc cụ các loại cho từng đơn vị biểu diễn khác nhau hầu như cũng đã theo một số tiêu chuẩn và quy chuẩn nhất định. Nhà quản lý nhiều năm an tâm với sự phân bổ và tổ chức này. Hay dở thế nào chưa bàn, nhưng nhờ đó các loại hình nghệ thuật cũng như các đơn vị nghệ thuật đã hoạt động đáp ứng nhu cầu của công tác chính trị từng thời kỳ.Trong hoàn cảnh nhiều năm đất nước có chiến tranh, cũng như những năm kinh tế đất nước nhiều khó khăn thời hậu chiến, mọi trang bị lấy sự tồn tại làm chính, lấy việc phục vụ kịp thời làm trọng, mà chưa có điều kiện, hoặc chưa biết để quan tâm đến bảo vệ sức khỏe cho người làm nghề, cho công chúng khi tiếp nhận nghệ thuật và cả bảo vệ môi trường bền vững.Tất cả tiêu chuẩn và quy chuẩn đó là sản phẩm của một chính quyền cai trị, tự cho mình trách nhiệm quản lý toàn bộ hoạt động của mọi công dân và các thiết chế xã hội. Tiêu chuẩn và quy chuẩn đó là cái khung cho sự điều hành và kiểm tra theo lối có được cấp phép thì mới được làm, được hoạt động. Bảng màu văn hóa của đất nước được chuẩn hóa theo các phiên bản đã được vẽ trước cho mọi tìm tòi sáng tạo. Người nghệ sĩ an tâm hơn khi đi theo những biển báo dẫn đường để tìm tới những chân lý đã có những người tiên khu biết trước,có khi hàng trăm năm.

2. Từ đặc điểm của hoạt động VHNT đương đại đòi hỏi có những tiêu chuẩn và quy chuẩn mới cho vật phẩm văn hóa.

Nếu văn hóa truyền thống nổi bật ở tính ổn định bền vững, đường biên giữa các loại hình rất rõ, thì nền văn hóa đương đại đang chứng kiến sự biến động liên tục, trong tình trạng đan xen, giao thoa, lai tạp giữa các thể loại trong một ngành và giữa các ngành nghệ thuật vốn khác xa nhau. Ngay một cá nhân, cũng nhiều người có mặt trong nhiều loại hình sáng tạo: Vừa là nhà văn, nhạc sĩ, ca sĩ, họa sĩ, tác giả sân khấu, đạo diễn kịch, đạo diễn phim, là nhà quản lý xuất sắc… Thủ pháp điện ảnh được đưa vào văn chương, thơ văn trình diễn, minh họa bằng nhiều hình thức. Mỹ thuật càng nhiều đổi mới,các hình thức và kỹ thuật, chất liệu làm tranh, lại còn nghệ thuật sắp đặt, trình diễn, video Art, vẽ trên cơ thể người…Sự đổi mới trong điện ảnh càng ghê gớm hơn. Đi liền với những đổi mới liên tục và nhanh chóng của kỹ thuật điện tử, hệ thống vật chất của  ngành điện ảnh phim nhựa  từng tồn tại ổn định hàng trăm qua đang đến hồi hấp hối. Trong khi Cục Điện ảnh vẫn yêu cầu duyệt phim bằng bản phim nhựa, vì Hội đồng chỉ được trang bị máy chiếu phim nhựa, thì hầu hết các rạp chiếu ở các trung tâm lớn đã chuyển sang công nghệ kỹ thuật số. Và đi liền với thay đổi này, hàng loạt trang thiết bị ngành điện ảnh phải thay đổi theo. Những tiêu chuẩn ,qui chuẩn của thời chiếu phim nhựa 16 ly, 35 ly, hoàn toàn không còn thích hợp. Do sự phát triển đến mức vượt cấp của công nghệ kỹ thuật số, cũng như chiếc điện thoại di động, một máy chiếu có giá trị từ 70-80 ngàn USD mua về lắp xong là đã biết mình lạc hậu, vì ngay sau đó nhà sản xuất đã cho ra đời một đời máy mới với những tính năng ưu việt hơn về chất lượng hình ảnh, âm thanh…Mà các trang thiết bị âm thanh của phòng chiếu cũng lên đời liên tục. Không đổi mới kịp trang thiết bị đồng nghĩa với việc bỏ cuộc trong cuộc chạy đua chinh phục khán giả ,và đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật ngày càng cao của công chúng. Các nhà sản xuất và chiếu phim tư nhân, không yêu cầu nhiều việc giảm thuế (Vì điều này sẽ va chạm với các qui ước khi gia nhập WTO), mà cần một chính sách về vốn đầu tư cho ngành nghệ thuật rất lợi hại nhưng cũng rất tốn kém này. Không có gì lạ, khi các đơn vị được cấp phép làm phim là hơn 200,mà lượng phim tư nhân ra đời hàng năm không mầy khi vượt con số có hai con số đầu tiên. Từ nay, hình thức vận chuyển phim, xuất nhập khẩu phim cũng không còn phải mang ra mang vào những hộp phim nhựa cồng kềnh ,mà có thể chỉ truyền qua mạng. Rồi vấn đề bảo mật, bảo vệ bản quyền sản xuất cũng đòi hỏi có những qui chuẩn mới. Thật nực cười trên thực tế hiện nay là cả Hải quan và Thuế vụ cùng đòi đánh thuế hai lần cho một sản phẩm về bản quyền mua phim và việc lồng tiếng cho phim nước ngoài. Nói hơi sâu về lĩnh vực điện ảnh để thấy người làm tiêu chuẩn và qui chuẩn cho văn hòa từ nay không thể yên tâm với những văn bản đã ban ra mà còn phải cập nhật những phát triển nhanh chóng của cơ sở vật chất của từng loại hình văn hóa nghệ thuật. Ngay một ngành rất cổ điển như xuất bản sách văn học nghệ thuật (Lĩnh vực này có một bộ phận do Bộ Thông tin –Truyền thông quản lý) cũng có rất nhiều vấn đề từ chất liệu giấy, mực, máy in, kỹ thuật in các loại sách trên các chất liệu khác nhau, đến sách điện tử, rồi vấn đề bản quyền trên mạng…Từ thực tiễn hoạt động của Văn hóa và VHNT hiện nay, đòi hỏi những người làm tiêu chuẩn- quy chuẩn của Nhà nước cho các vật chất được sử dụng trong lĩnh vực phải hết sức sâu sát tình hình cụ thể và linh hoạt trong các công thức ngôn từ để tạo điều kiện cho VHNT nước nhà phát triển tươi tốt.

Nói đến văn hóa là nói đến cái còn lại sau khi nhiều thứ khác mất đi. Vì thế làm sao để trường tồn là ao ước từ nhiều đời của người làm văn hóa. Nhưng những năm gần đây, vị lợi ích trước mắt, dưới sự môi giới của các nhóm lợi ích không ít các cấp chính quyền ửng hộ và tham gia các hoạt động nhân danh lễ hội với hình thức văn hóa pháo bông, nổ một phát chói lòa là hết, đó là các buổi sân khấu hóa lịch sử truyền thống. Sử dụng hàng ngàn người, tập luyện công phu, thiếu thì thuê các đơn vị nghệ thuật trung ương, các ngôi sao, chi hàng chục tỉ đồng, chỉ để mua vui cho thiên hạ được vài trống canh. Đến một mốc thiêng liêng như kỷ niệm ngàn năm Thăng Long, huy động bao nhiêu nhân tài,vật lực, không tiếc công của mà thử hỏi công trình, tác phẩm nào sẽ còn lại với ngàn năm sau? Tính ăn xổi ở thì, tùy tiện, thói cơ hội …là xa lạ với bản chất của văn hóa. Vì thế, các tiêu chuẩn, qui chuẩn của văn hóa phải chú ý đến bản chất của chủ thể văn hóa.

3. Nghĩ về những đặc điểm đáng chú ý của Tiêu chuẩn- Quy chuẩn trong lĩnh vực Văn hóa:

Điều chắc chắn phải có là mỗi thời kỳ phát triển, xã hội nói chung và văn hóa cũng cần có những tiêu chí xã hội rõ ràng, minh bạch để người dân cũng như người làm nghề biết để an tâm trong cuộc sống, trong tìm tòi, sáng tạo và thưởng thức.Trên thực tế người ta không thể đòi cái mà điều kiện cũng như quy chuẩn xã hội không cho phép. Nhưng như đã nói, đời sống văn hóa trong xã hội đương đại với nhiều biến động mới và đang diễn biến liên tục, đòi hỏi các cơ quan quản lý có một cách nghĩ khác, cái nhìn khác về cái gọi là tiêu chuẩn, quy chuẩn trong văn hóa và hoạt động văn hóa.

Trước hết, phải bắt đầu từ vai trò, vị trị của Chính quyền. Xã hội dân chủ đòi hỏi một chính quyền phục vụ thay cho chính quyền cai trị. Người dân đóng thuế để bằng hình thức dân cử, thuê những người có năng lực tổ chức một thể chế trong đó mọi người dân được làm những điều mình muốn, hợp với khả năng và điều kiện cụ thể để mưu sinh. Vậy thì Hiến pháp, pháp luật, cũng như các tiêu chuẩn và quy chuẩn cụ thể là để nhằm phục vụ, tạo điều kiện bình đẳng, bảo đảm cho quyền của công dân. Trong xã hội hiện đại, khi mở cửa, hòa nhập với cộng đồng quốc tế, gìn giữ các bản sắc dân tộc, nhưng cũng không thể kỳ thị, tự cô lập, theo những tiêu chí quá riêng biệt. Ngay khâu kiểm duyệt nguồn vào, nguồn văn hóa phẩm ra cũng phân biệt cái để biết, và cái để sử dụng cũng không thể tùy tiện, vì ở đây còn có một nguyên tắc chung mà mọi quốc gia đã cam kết là quyền sở hữu trí tuệ cũng như vấn đề bản quyền tác phẩm.

Muốn thế giới tôn trọng bản sắc văn hóa của mình khi giới thiệu ra với quốc tế, thì cũng không thể tùy tiện nhân danh tiêu chuẩn, quy chuẩn của mình mà cắt xén, sửa đổi nguyên tác của người ta.

Đặc điểm của sáng tạo trong văn hóa cũng như VHNT là mặc dù không xa rời truyền thống, nhưng một tác phẩm mới bao giờ cũng là một cái gì đó không thể đo bằng những thước đo đã có. Cả về hình thức, vóc dáng, chất liệu, qui mô, loại hình,.. Và đó chính là bài toán, là lời thách đố thường trực của bản chất sự sáng tạo đặt ra cho những người, những cơ quan quản lý khi định vị các tiêu chuẩn- quy chuẩn cho các sản phẩm thuộc lĩnh vực văn hóa.

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác