Ngày hội lớn văn chương


Trong những ngày đầu tháng 3/2015, tại Cung Văn hóa Hữu Nghị và Nhà hát Lớn thành phố Hà Nội đã diễn ra Hội nghị quốc tế quảng bá văn học Việt Nam lần thứ III; Liên hoan thơ châu Á - Thái Bình Dương lần thứ II. Và Ngày thơ Việt Nam lần thứ XII do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức diễn ra tại Văn Miếu, Hà Nội và khắp các địa phương trong cả nước.

 

Hội nghị quốc tế quảng bá văn học Việt Nam lần thứ III

150 nhà thơ, nhà văn, nhà nghiên cứu- phê bình văn học, dịch giả đến từ hơn 43 quốc gia và vùng lãnh thổ là đại diện của 5 châu lục cùng với hàng trăm hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và khách mời tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Thừa thiên Huế, Thanh Hóa, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Phú Thọ... về hội ngộ. Đây thực sự là ngày hội lớn văn chương của cả nước, mở đầu cho một năm với nhiều hứa hẹn về một mùa bội thu ở phía trước.

Trong số các đại biểu đến tham dự lần này có nhiều người giữ chức vị quan trọng trên văn đàn quốc tế như: ông M. Salmawy - nhà văn, Tổng Thư ký Hội Nhà văn Á - Phi, Chủ tịch Hội Nhà văn Ai cập; bà Rati Saxena - nhà thơ, nhà văn ĐH Kerala, Giám đốc Liên hoan thơ Kritya (Ấn Độ); ông Andrzej Grabowski - nhà thơ, ủy viên BCH Hội Nhà văn Ba Lan, Giám đốc Liên hoan thơ Galicja, TBT Tạp chí Tia lửa; ông Fernando Rendon- nhà thơ, Giám đốc Liên hoan thơ quốc tế Medellin, Tổng giám đốc điều phối viên phong trào thơ ca quốc tế (Colombia); ông Oleg Bavykin - nhà văn, Chủ tịch Ban Đối ngoại Hội Nhà văn Nga, Chủ tịch Đối ngoại HNV Á - Phi (LB Nga); ông Kevin Bowen - nhà thơ, dịch giả văn học Việt Nam, nguyên giám đốc Trung tâm William Joiner Đại học Massachusetts, Boston (Hoa Kỳ). Ông là cựu chiến binh đã từng tham chiến ở Việt Nam từ năm 1966- 1967 và cũng là người Mỹ đầu tiên phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ tại Việt Nam.…

Về phía Việt Nam có các vị: TS. Vũ Ngọc Hoàng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương; ông Trương Quang Được, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội; ông Huỳnh Vĩnh Ái, Thứ trưởng Bộ VHTT&DL; ông Hà Đăng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Trưởng ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương; ông Nguyễn Hồng Vinh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận phê bình văn học Trung ương; ông Nghiêm Vũ Khải, Chủ tịch các Hội hữu nghị Việt Nam, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Công nghệ Môi trường của Quốc hội; nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học và Nghệ thuật Việt nam, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam...

Nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội NVVN đã có bài diễn văn khai mạc hội nghị

Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của văn chương và nhà văn: Trong thế giới vô tận của chúng ta, mỗi nhà văn có thể xem như một tiểu hành tinh, và có thể nói rằng các nhà văn, nhà thơ, các nhà nghiên cứu văn học, các dịch giả đã tạo nên một dải Ngân hà khác mang tên “Hà Nội - Việt Nam 2015”.

Việt Nam là một đất nước có một nền văn học phong phú, với lịch sử lâu đời, độc đáo, bản sắc, thấm đẫm tinh thần nhân văn sâu sắc, gắn bó mật thiết với đời sống con người, không ngừng chống lại cái ác, cái xấu. ũng như các lĩnh vực khác, văn học Việt Nam là một nền văn học chịu nhiều ảnh hưởng của các nền văn học thế giới cũng như ảnh hưởng qua lại về văn hóa, văn học của các dân tộc anh em trong đất nước mình. Đấy là một nền văn học luôn luôn được bổ sung bởi lớp trẻ đầy tài năng và nhiệt huyết và sẵn sang chủ động hội nhập.

Cùng với giá trị của văn học, danh hiệu nhà văn Việt Nam là một danh hiệu cao quý rất đáng trân trọng. Nhà văn Việt Nam luôn hiểu rõ giá trị độc lập tự do của dân tộc mình cũng như của các dân tộc khác. Nhà văn Việt Nam sẽ làm tất cả những gì một nhà văn có thể làm được để giảm tải nguy cơ nóng đã và đang đè nặng lên thế giới này. Trong nhiều năm qua, Việt Nam muốn hội nhập văn hóa với thế giới và cũng muốn thế giới không chỉ thấy một cánh rừng, mà còn thấy cả từng bóng cây. Không có nơi nào mà không đến tận nơi, không trực tiếp gặp gỡ cũng trở thành tri kỉ như văn chương.

Tuy nhiên do ảnh hưởng của chiến tranh và nền kinh tế bao cấp kéo dài, văn học Việt Nam đã phải nhập siêu quá nhiều của thế giới. Các nhà văn Việt Nam luôn ý thức rõ điều này. Trong những năm gần đây, thay vì bị động nhập siêu như trước đây, văn học Việt Nam đang dần chủ động xuất siêu, có nghĩa là nền văn học của chúng tôi không thể chỉ đóng vai trò là người hưởng thụ, mà cần phải chủ động tham gia vào việc đóng góp những tác phẩm văn chương có giá trị thẩm mỹ cao và nhân văn sâu sắc, làm phong phú thêm ngôi nhà văn chương chung của toàn nhân loại. Vì mục tiêu ấy mà trong những năm gần đây, Hội NVVN đã chủ động tổ chức các lần quảng bá văn học với bạn bè quốc tế. Và đây cũng là lý do chính yếu để tất cả chúng ta có mặt tại đây.

Ông Vũ Ngọc Hoàng trong bài phát biểu của mình cũng đã nhấn mạnh: Hội nghị quảng bá văn học Việt Nam thể hiện và hướng đến tình hữu nghị, hợp tác và phát triển. Đất nước Việt Nam có nền văn hóa lâu đời, phong phú, từ các vị vua chúa trước đây đều là các nhà thơ lớn. Thơ ca đã giúp họ giữ nước khi có họa xam lăng và phát triển đất nước lúc thái bình. Người Việt Nam yêu chuộng văn chương, làm văn chương, bởi vì văn chương luôn là nơi lưu giữ kí ức, thể hiện một cách đây đủ và sâu sắc tinh thần và bản sắc dân tộc cũng như sẵn sang đón nhận các tinh hoa văn hóa nhân loại. Và với mục đích quảng bá văn học Việt Nam nói riêng, đất nước và con người Việt Nam nói chung ra thế giới, nên Chính phủ Việt Nam luôn ủng hộ chủ trương thành lập Trung tâm dịch thuật văn học, giới thiệu nhiều hơn nữa văn học Việt Nam đến cộng đồng quốc tế.

Tiếp theo, nhà văn M. Salmawy phát biểu cho rằng: Khi tôi còn trẻ đã được biết rằng người Việt Nam đã và đang chiến đấu cho tự do độc lập và giữ gìn nền văn hóa lâu đời của đất nước mình trước các thế lực xâm lược thù địch. Các nhà văn, nhà thơ Việt Nam không chỉ là những người cầm bút, giữ gìn tâm hồn Việt, bảo vệ bản sắc Việt, mà còn là những người lính cầm súng chiến đấu rất can trường. Không chỉ nhà văn Việt Nam, mà mọi người dân Việt Nsm đều đã đứng dậy quyết liệt đấu tranh vượt qua mọi khó khăn, kiên quyết bảo vệ độc lập, tự do , toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ đất nước, bảo vệ nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Việt Nam đã cho cả thế giới bài học quan trọng trong cuộc trường kỳ kháng chiến của các bạn.

Khi Việt Nam kết nối với hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ của thế giới về văn chương, cũng có nghĩa mọi người đến đây để cất lên tiếng nói hòa bình, phản đối chiến tranh dưới mọi hình thức. Đây là thời điểm quan trọng của nền văn học Việt Nam và thế giới. Việt Nam luôn luôn trong trái tim chúng tôi.

Ông Chúc Ngưỡng Tu, một dịch giả nổi tiếng Trung Quốc, ông là giáo sư Đại học Nam Ninh, người có công lớn tìm hiểu văn học Việt Nam, đặc biệt là sự nghiệp thơ ca của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông đã dịch các tác phẩm của Hồ Chí Minh và các tác phẩm viết về Hồ Chí Minh ra tiếng Trung được xuất bản rộng rãi trên đất nước Trung Hoa rộng lớn với hơn 1,3 tỉ người. Đặc biệt, tại hội nghị này, ông rất tự hòa trình bày tham luận của mình bằng tiếng Việt. Ông nói, hôm nay những người có mặt tại hội nghị có chung ngôn ngữ tiếng Việt, có chung mục đích là quảng bá văn học Việt Nam ra thế giới. Tôi là người quan tâm đến văn học Việt Nam, một nền văn học suốt cả chiều dài lịch sử luôn nhịp bước trên con đường độc lập, tự do và no ấm của dân tộc mình. Có thể nói, tinh thần yêu nước, giải phóng đất nước và con người là chủ đề truyền thống của văn học Việt Nam. Nền văn học ấy đã góp phần to lớn cho Tổ quốc và đóng góp quan trọng cho văn học thế giới, văn học vì sự tiến bộ của loài người. Dịch giả Trúc Ngưỡng Tu cho biết thêm: Hiện nay Đại học Nam Ninh đã có nhiều công trình nghiên cứu, dịch thuật văn học Việt Nam các thời kỳ sang tiếng Trung và sẽ quảng bá rộng rãi. Ông khẳng định: “Bản thân tôi sẽ không ngừng nghiên cứu văn học Việt Nam cho đến khi đầu óc còn minh mẫn”.

Một nhà văn đến từ Mỹ La tinh, đất nước Colombia, ông Fernando Rendon đã nói một cách khá chuẩn xác rằng: Đối với đất nước và con người Việt Nam, Thi ca là biểu tượng của tự do.

Từ Cu Ba, chúng tôi xin mang đến vòng tay ấm áp nhất của mặt trời, trong mỗi trai tim người Cu Ba, hình ảnh thân thiết nhất là mặt trời, và Việt Nam là mặt tròi của chúng tôi. Người Việt Nam và Cu Ba đang sát cánh, cùng sát cánh và mãi mãi sát cánh... Chúng ta cần 1, 2, 3 và nhiều Việt Nam hơn nữa”. Cuối cùng ông nói: “Xin phép được tôn vinh mỗi trang sách của các bạn như là một di sản văn hóa của nhân loại”. Đấy là lời phát biểu của nhà thơ Alex Pausides, Chủ tịch liên hoan thơ Cu Ba, bày tỏ những tình cảm sâu sắc nhất của cá nhân ông khi đại diện nhân dân Cu Ba đến với đất nước và con người Việt Nam.

Buổi khai mạc Hội nghị Quốc tế quảng bá văn học Việt Nam lần thứ III đã kết thúc trong tình thân ái, hữu nghị và thành công tốt đẹp.

Cùng ngày, buổi chiều các đại biểu đã tham dự lễ khánh thành và tham quan Bảo tàng Văn học Việt Nam (số 275 Âu Cơ, Tây Hồ, Hà Nội). Buổi tối Liên hoan thơ châu Á - Thái Bình Dương lần thứ II sẽ được khai mạc tại Nhà hát Lớn Hà Nội.

 

Liên hoan thơ châu Á- Thái Bình Dương lần II

Mang chủ đề Liên hoan thơ châu Á - Thái Bình Dương lần thứ II, nhưng cùng lúc lại diễn ra hai cuộc Hội thảo quốc tế lớn về thơ và văn xuôi. Về thơ có Hội thảo “Thơ Việt - Nơi lưu giữ tâm hồn Việt”, diễn ra vào sáng ngày mồng 03/3, tại Hà Nội do nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, Phó Chủ tịch Hội NVVN chủ trì.

Tại Hội thảo, nhà thơ Bằng Việt, Chủ tịch Hội đồng Thơ, Hội NVVN cho rằng: Đây thực sự là một đề tài thú vị, xứng đáng cho chúng ta bàn luận trong hoàn cảnh hiện nay, khi văn hóa đọc ở nước ta đang bị nhiều thú vui giải trí tầm thường lấn át, cũng như việc xuất bản thơ ồ ạt, tuôn chảy các tác phẩm thơ theo cơ chế thị trường đang có xu thế làm cho bạn đọc mất dần tình yêu sâu đậm vốn có với Thơ từ xa xưa. Nếu cho phép tôi được nói rõ hơn một chút về đề tài thú vị này, thì tôi xin được bổ xung thêm là Thơ Việt không những chỉ có vai trò lưu giữ mà có lẽ còn là nơi khám phá, phát hiện và đồng thời biết chuyển tải, quảng bá lâu dài qua không gian và thời gian những nét đẹp, những bí ẩn đáng yêu và đáng trân trọng của tâm hồn Việt. Theo ông: Vũ trụ quan và nhân sinh quan của người Việt từ xa xưa trong thơ vừa thấu đáo vừa dễ hiểu, vừa sâu xa vừa thực tiễn. Và các nhà thơ Việt nhiều thế hệ, nối dài đến tận hôm nay đã biết giữ gìn, phát huy vẻ đẹp ấy, tạo nên những trang thơ giàu sức sống nội tâm, tạo nên một di sản văn hóa xứng đáng là nơi phát lộ, lưu giữ và chuyển tải những gì cao thượng, đằm thắm, hiền hòa cũng như mạnh mẽ, cụ thể mang đầy đủ tính minh triết của tâm linh người Việt.

Nhà thơ Inrasara, người dân tộc Chăm, đến từ tỉnh Ninh Thuận đã chia sẻ về văn học Chăm. Theo quan điểm cá nhân, ông cho rằng, người Chăm có chữ viết từ thế kỷ thứ IV, do đó, nền văn học của họ có từ sớm. Họ có 4 sử thi được văn bản hóa từ thế kỷ thứ XV, XVI, người Chăm có hai tôn giáo lớn, hai tôn giáo này luôn xung đột, từ các xung đột này, 3 trường ca nổi tiếng của người Chăm đã ra đời. Người Chăm gắn liền với biển, và văn hóa biển thể hiện ngay trong tiếng nói của người Chăm. Văn hóa biển Chăm làm đầy tính toàn vẹn của lịch sử Việt Nam.”

Tham luận của nhà thơ Vương Trọng: “Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du thấm đẫm tâm hồn dân tộc” có viết: Trong lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc Việt Nam, chưa bao giờ có tác phẩm nào được nhân dân yêu quý như Truyện Kiều. Mặc dù thể chế chính trị quốc gia thay đổi theo từng giai đoạn, có khi trái ngược nhau, nhưng lòng người say mê Truyện Kiều không hề thay đổi.

Qua cuộc Hội thảo, các đại biểu tham dự đã được phác thảo những nét cơ bản nhất của thi ca Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử của nó. Đó là những cảm hứng lớn lao của đời sống, là tình yêu, là sự đấu tranh vì hòa bình, độc lập và số phận của con người.

Cùng với thơ, cuộc Hội thảo quốc tế về văn xuôi mang chủ đề Văn xuôi Việt Nam - Hội nhập và phát triển” diễn ra ngày 03/3 tại Hà Nội do nhà văn Nguyễn Trí Huân, Phó Chủ tịch Hội NVVN chủ trì.

Tham luận của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh có tựa đề: “Khuynh hướng tìm về nguồn trong tiểu thuyết hiện đại Việt Nam”. Theo đại lão gia này: Cái mà người nước ngoài thích ở một nền văn học chính là cái riêng của nền văn học ấy.

Còn nhà văn Sương Nguyệt Minh, người trưởng thành trong quân đội lại chia sẻ ở một khía cạnh khác: Trong đội ngũ nhà văn Việt Nam chúng tôi có nhiều người xuất thân từ quân đội. Tôi là một người lính, một nhà văn trưởng thành từ những năm tháng ở chiến trường Tây Nam và Campuchia. Văn chương viết về công cuộc bảo vệ biên giới Tây Nam đã xuất hiện một lực lượng nhà văn tương đối hùng hậu như Chí Trung, Hữu Thỉnh, Chu Lai, Lê Lựu, Khuất Quang Thụy, Phạm Sỹ Sáu, Lê Minh Quốc… Tố cáo tội ác diệt chủng của Polpot; giải đáp câu hỏi vì sao quân tình nguyện Việt Nam đến Campuchia; hình ảnh người lính tình nguyện Việt Nam ở Campuchia. Nhà văn Sương Nguyệt Minh nói: Văn xuôi về đề tài chiến tranh Campuchia giống như một bảo tàng chứng tích chiến tranh.

Nữ nhà văn Lào Phiulavanh Luangvanna với tham luận: “Làm thế nào để tác phẩm văn học của chúng ta hội nhập tốt hơn tâm hồn của con người?” bằng tiếng Việt lưu loát. Bà nói: Chúng ta nói đến cái đã làm trong quá khứ, cốt để nói về cách làm thế nào trong tương lai cho tốt hơn. Văn học đã nhờ cái đẹp, cái hay, cái tốt của nó mà tồn tại và làm cho con người yêu nhau, gắn kết với nhau hơn. Ó thể nói tình yêu là trái tim của văn học, hay trái tim của văn học là tình yêu cũng đều được. Từ thời loài người chưa có tôn giáo, văn học đã làm điều này, và con người vẫn tiếp tục làm điều này mãi mãi đến xa sau. Hiện tại, nhìn lại thế giới của chúng ta, con người đã yêu nhau hơn chưa? Bây giờ mẫu thuẫn giữa người với người, giữa các quốc gia, dân tộc, sắc tộc, tôn giáo vẫn còn nhiều bạo lực và chiến tranh. Tại sao con người không tiếp tục dùng văn học để giải quyết những vấn đề ấy?

Bà chia sẻ thêm, văn học Lào ít mâu thuẫn, và mâu thuẫn không cao. Nhân dân Lào yêu khách, mến người, ít xung đột, bởi vì trong kho tàng văn học của nhân dân Lào rất phong phú những tác phẩm giáo dục để con người thương yêu và quý trọng nhau, yêu nhân dân và yêu tổ quốc mình hơn. Tôi rất hoan nghênh Đảng, Chính phủ Việt Nam bao giờ cũng mong muốn các dân tộc trên thế giới gần gũi, yêu thương, giảm thiểu mâu thuẫn về chính trị, quân sự. Đó là một cách rất mềm mại và thời đại”.

Nhà văn Nga Igor Britov lại băn khoăn: “Làm thế nào để sách Việt Nam xuất hiện ở Nga”. Ông nói: Bản thân tôi cũng có lần bắt tay vào việc dịch văn học. Và đôi khi tôi như người dò dẫm tìm đường. Tôi thực hiện phép thử trên những lỗi sai. Trong nhiều trường hợp, kinh nghiệm nghề báo đã giúp tôi. Một lý thuyết riêng tôi tự rút ra cho mình mang “Thuyết 3 giọng nói” đã có hiệu quả. Người dịch phải lắng nghe ba tiếng nói: Tiếng nói của tác giả, tiếng nói nhân vật và tiếng nói nội tại trong bản thân mình. Quan trọng là làm sao để luôn vang lên tiếng nói tác giả và dịch giả trong cùng một hòa âm. Có khi tôi tự cho phép mình được cao giọng ở tiếng nói cá nhân với tư cách là một dịch giả, khi cảm thấy có gì đó chưa thật ổn ở chính tác giả của tác phẩm văn chương ấy.

Các đại biểu tham dự các sự kiện lớn văn chương tại Việt Nam lần này còn tiếp tục ở lại tham dự Ngày thơ Việt Nam diễn ra tại Hà Nội và Quảng Ninh vào đúng ngày Rằm tháng Giêng năm Ất Mùi. Đây chính là cơ hội tốt nhất để bạn bè quốc tế và các nhà văn Việt Nam hiểu nhau hơn và cũng là dịp tốt để giới thiệu văn học Việt Nam ra thế giới./.

Viên An

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác