Một vài ý kiến về văn xuôi nữ trong bối cảnh văn học Việt Nam đương đại


Đặng Thị Thái Hà (Viện Văn học): Vấn đề nữ quyền cần phải được đặt ra trong lòng những tra vấn về bản chất ngụy tạo của văn hóa

“Một điều đáng ghi nhận trong công trình của Pierre Bourdieu khi bàn về “Sự thống trị của nam giới” có lẽ chính là việc ông đã mở rộng vấn đề trung tâm về quyền lực phụ hệ tới một điểm nhìn rộng và bao quát hơn khi phê phán cái gọi là “nghịch lí của dư luận” (paradoxe de la doxa). Ý niệm “doxa” được rút ra từ triết học Platon, vừa mang nghĩa là “giọng nói của tự nhiên” (the voice of natural), vừa mang nghĩa là giọng nói của sự vong thân, tha hóa (alienation). Đúng như Bourdieu đã chỉ ra, nó là biểu trưng cho một “trật tự thế giới như nó hiện hữu, với những hướng duy nhất và những hướng bị cấm, theo nghĩa đen và theo nghĩa bóng, với những nghĩa vụ và những chế tài của nó (…), hoặc, đáng kinh ngạc hơn nữa, là trật tự được thiết lập với những quan hệ thống trị của nó, những luật pháp và những điều phi pháp của nó, những đặc quyền và những sự bất công của nó, rốt cuộc cứ vĩnh tồn một cách dễ dàng đến thế, và những điều kiện sống khó chịu đựng nhất lại có thể xuất hiện như chấp nhận được, thậm chí là tự nhiên, một cách thường xuyên đến thế”. Như vậy, “Doxa”, không gì khác, là biểu trưng của quyền lực văn hóa thống trị, của sức mạnh che giấu, biến mọi tồn tại lịch sử trở thành phi lịch sử, và làm cho mọi kiến tạo xã hội trở nên mang tính tự nhiên. Quy chiếu từ điểm nhìn này, bất cứ một động thái nữ quyền nào cũng phải tự đặt nó trong thế đối mặt với cái “Doxa” mặc định về một thân phận bị trị dành cho người phụ nữ, mà đi kèm với nó là những chuẩn mực, luật pháp, điều kiện... được xã hội quy định sao cho phù hợp với địa vị nô lệ của chính họ. Có nghĩa là, vấn đề nữ quyền cần phải được đặt ra trong lòng những tra vấn về bản chất ngụy tạo của văn hóa, và “trật tự giới” cần được xem xét trong tổng thể một trật tự được gán cho là “tự nhiên” và “vĩnh viễn” của sự vật….”

 

Nguyễn Thị Vân Anh (ĐH Sư phạm Hà Nội II): lý thuyết phê bình nữ quyền cần phải là lý thuyết lịch sử

“Phê bình nữ quyền được ghi nhận như một khuynh hướng nghiên cứu, một lí thuyết văn học nổi bật của tư duy lí luận hậu hiện đại phương Tây. Việc tham chiếu, ứng dụng lí thuyết phê bình nữ quyền vào nghiên cứu thực tiễn văn học của mỗi quốc gia là cần thiết và mang lại nhiều ý nghĩa thiết thực… song cũng không thể coi đây là thứ công cụ sẵn có, dùng để “đóng đinh”, “bắt vít” vào mọi thực thể văn học. Người nghiên cứu nếu thiếu tỉnh táo có nguy cơ trở thành một chủ thể áp đặt, chủ quan và khiên cưỡng trong những kết luận của mình. Do vậy, theo quan điểm của chúng tôi, lí thuyết văn học nữ quyền cần phải là lí thuyết lịch sử, gắn với những nét đặc thù của mỗi nền văn học, mỗi không gian văn học cụ thể. Khuynh hướng nữ quyền trong văn học Việt Nam, ngoài một số nét tương đồng loại hình với văn học nữ quyền của nhiều quốc gia trên thế giới chắc chắn có những biểu hiện khác biệt mang tính đặc thù. Cũng do thế, việc vận dụng lí thuyết nữ quyền phương Tây vào văn học nước ta cần phải có sự linh hoạt, bám sát vào thực tiễn để phát hiện đặc điểm bản chất của nó…. Do bị “chế định” bởi lí thuyết nên một số tác giả vô hình trung đã làm “nghèo nàn” thực tiễn văn học vốn rất sống động. Ví như, cứ nói đến ý thức nữ quyền là phải tìm cho ra xem tác phẩm ấy có tư tưởng thù ghét, tẩy chay, đả phá đàn ông hay không; có khẳng định giá trị của người phụ nữ hay không; có nói về nhu cầu tình dục rồi yếu tố nhục thể hay không. Hệ quả theo đây là, có khá nhiều bài viết tuy khai thác các chất liệu khác nhau nhưng lại na ná nhau về tiêu mục. Đương nhiên, việc tham chiếu lí thuyết nữ quyền phương Tây và phát hiện những phương diện như đã nói ở trên là cần thiết nhưng với điều kiện phải có sự tương thích với thực tiễn chứ không nên cố “gò” để cho tác phẩm của nhà văn phải mang chứa những biểu hiện đó….”

 

Nguyễn Thị Minh Thương (Viện Văn học, ĐH Nhân Dân Trung Quốc): ảnh hưởng của lí luận thân thể của Foucault đối với chủ nghĩa nữ quyền

Luận điểm chủ yếu trong lý luận thân thể của Foucault là sự vận hành của quyền lực trong xã hội thông qua thân thể con người. Ông cho rằng, giới tính không chỉ là thuộc tính bên trong của tự nhiên, mà còn là sản phẩm của quan hệ quyền lực đặc thù, chính những quan niệm, định kiến trong xã hội đã hình thành nên ý thức về vấn đề giới tính, tức là hình thành nên sự phân biệt đẳng cấp giữa đàn ông và đàn bà. Vì thế, thông qua vấn đề thân thể con người, có thể nhận ra dấu ấn của quyền lực xã hội, nhận ra sự phân chia đẳng cấp, nhận ra sự áp bức, sự thống trị của nam giới với nữ giới. Trong thời kì mẫu hệ, thân thể phụ nữ lại có uy quyền hơn thân thể đàn ông, nhưng trong chế độ phụ hệ, thì thân thể đàn ông lại có uy quyền với thân thể phụ nữ. Điều này cho thấy vấn đề "giới tính" là sản phẩm của quan hệ quyền lực. Chủ nghĩa nữ quyền căn cứ vào quan điểm của Foucault đã nhận ra: bản thân sinh lý, tự nhiên của đàn ông và đàn bà là không phân biệt đẳng cấp, nhưng chế độ chính trị, xã hội, quan niệm văn hóa, quan hệ quyền lực đã tạo nên sự bất bình đẳng về giới. Và trên cơ sở lý luận của Foucautl, chủ nghĩa nữ quyền cho rằng: bản thân người phụ nữ, với đặc điểm tự nhiên, hoàn toàn có thể có những thể nghiệm phong phú, thậm chí mãnh liệt và đa dạng. Quan điểm này đã cung cấp cho những người theo chủ nghĩa nữ quyền một khung lí luận để phân tích những thể nghiệm sinh tồn của phụ nữ tại sao lại đơn điệu nghèo nàn, phụ nữ vì sao lại bị ràng buộc bởi những áp chế của văn hóa truyền thống Những người theo chủ nghĩa nữ quyền cho rằng nam giới chiếm hữu ngôn ngữ nhân loại, dùng ngôn ngữ đem kẻ khác (bao gồm phụ nữ) khách thể hóa, để tiến hành khống chế với những người này. Nam giới dùng ngôn ngữ cướp quyền được nói của nữ giới, để được làm người nói thay. Cho nên những người theo chủ nghĩa nữ quyền Pháp chủ trương khai quật ngôn ngữ cắm rễ vào thân thể phụ nữ, đề xuất chủ trương “phụ nữ nhất thiết tham gia viết, nhất thiết phải viết về chính mình, nhất thiết viết về phụ nữ”, cho rằng “cũng như cái thân thể bị truy đuổi của họ, phụ nữ luôn bị truy đuổi một cách bạo ngược trong lĩnh vực sáng tác”. Chủ trương mới này lần đầu tiên đem lập trường giới một cách sáng rõ vào trong văn bản, “lối viết thân thể” mà họ đề xướng đem đến cho sáng tác văn học và thực tiễn mỹ học của nửa cuối thể kỉ 20 những thay đổi cực lớn. Trong đó có ảnh hưởng nhất là Helene Cixous, Lucy Irigaray, Julia Kristeva….”

 

Nguyễn Thị Thanh Xuân (ĐH Hà Nội): “Xét lại” thế giới đàn ông bằng cái nhìn đàn bà

“…Ở Việt Nam, ý thức phái tính đã được manh nha hình thành trong lý luận phê bình văn học đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên, phải từ năm 1986 trở đi, âm hưởng nữ quyền trong văn học mới thực sự được các nhà văn, nhà phê bình và độc giả chú ý. Các tác giả nữ đã dùng ngôn ngữ như một phương tiện hữu hiệu để tìm lối thoát, để “cởi trói” và để khẳng định vai trò của mình trong đời sống xã hội và trong nghệ thuật. Điều đó đã được thể hiện rất rõ trong tác phẩm của các nhà văn nữ thời gian gần đây ở cả nội dung và nghệ thuật, trong đó việc “xét lại” thế giới đàn ông bằng cái nhìn đàn bà là một biểu hiện cụ thể… Đành rằng có thể là phiến diện khi người phụ nữ viết về đàn ông trong tác phẩm với cái nhìn đàn bà của mình, nhưng có một điều chúng ta có thể nhận thấy một cách rõ ràng rằng, những người phụ nữ đã bước qua khỏi nỗi ám ảnh về thân phận, về kiếp đàn bà bé mọn trong văn học truyền thống. Họ đã đứng lên đối diện với đàn ông, đi sâu tìm hiểu để “xét lại” bản chất của những người đàn ông mà xưa kia họ chỉ cỏ một mối quan tâm là phục tùng và dâng hiến. Hình ảnh người đàn ông bất toàn trong con mắt những người phụ nữ là sự thể hiện một phần âm hưởng nữ quyền trong văn xuôi Việt Nam đương đại những năm gần đây.”

 

Hoàng Tố Mai (Viện Văn học): Ám thị và nữ quyền nửa mùa

“Truyện ngắn Ám thị ra mắt lần đầu năm 1999 trên tạp chí Việt (số 4). Đây là một trong những tác phẩm tạo ra tiếng vang lớn trên văn đàn trong thập kỷ qua. Cốt truyện phức tạp thậm chí phi lý nhưng lại rất cuốn hút người đọc… Cặp vợ chồng trẻ trong truyện có vẻ như khá hạnh phúc. Người chồng thể hiện là người yêu chiều vợ đến mức mời thầy tẩm quất về để cho vợ biết đến sung sướng… Nhân vật người chồng trong Ám thị gợi đến một loại người thể hiện như ủng hộ nữ quyền nhưng thực chất là lạm dụng nó để tô điểm thêm cho phẩm cách của mình… Anh ta trả giá quá đắt cho một trò chơi tạm gọi là nữ quyền nửa mùa. Trong tiếng Anh có một thuật ngữ khá tương đồng là fake feminism (tạm dịch là nữ quyền rởm). Thuật ngữ này dùng để chỉ những người (thường là phụ nữ) hiểu biết về nữ quyền nhưng lại thiếu sự thấu hiểu và đồng cảm với phụ nữ. Họ tìm hiểu và lên tiếng về nữ quyền với mục đích phô trương đầy vị kỷ. Họ tự định ra tiêu chí về một người phụ nữ thực sự và những tiêu chí này hầu hết phụ nữ không thể đạt tới….”

 

Lê Hương Thủy (Viện Văn học): truyện ngắn nữ đã dần có “thương hiệu”

“Những thập niên gần đây, con số các nhà văn nữ tăng lên đáng kể - một sự tăng lên đột biến với đông đảo các cây bút văn xuôi (nhất là truyện ngắn) có lối viết và giọng điệu khác nhau. Khuynh hướng “thiên nữ” hay “âm hưởng nữ quyền” đã được nói tới trong thực tiễn đời sống văn học Việt Nam đương đại. Điều này xuất phát từ thực tiễn sáng tác của các cây bút nữ. Những cây bút như Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Lê Minh Khuê, Y Ban, Phan Thị Vàng Anh đã sớm thành danh với những giải thưởng trên các báo và tạp chí có uy tín cũng như giải thưởng của các hội nghề nghiệp. Quan trọng hơn sáng tác của họ đã tạo được dư luận, gây được sự chú ý của độc giả. Những năm đầu thiên niên kỷ mới, các cây bút nữ lại thêm một lần làm nóng văn đàn bởi sáng tác của những cây bút nữ trẻ như Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu. Gần đây trên thị trường sách Việt Nam xuất hiện nhiều tập truyện ngắn mà phạm vi và tiêu chí lựa chọn của người làm sách, của nhà xuất bản là sáng tác của các cây bút nữ. Chẳng hạn như Truyện ngắn bốn cây bút nữ, Truyện ngắn của các nhà văn nữ Việt Nam, Truyện ngắn nữ văn nghệ quân đội, Truyện ngắn các tác giả nữ Hà Nội, Truyện ngắn nữ 2000 - 2006, Truyện ngắn nữ thập niên 90, Truyện ngắn chọn lọc 14 tác giả nữ, Truyện ngắn nữ chào thiên niên kỷ mới, Vũ điệu thân gầy - truyện ngắn 12 cây bút nữ, v.v và v.v. Không phải tất cả đều là những cuốn sách đọc được nhưng qua đó để thấy rằng, truyện ngắn nữ đã dần có “thương hiệu”. Đây là dấu hiệu đáng chú ý dù rằng cùng với những thành tựu đáng ghi nhận sáng tác của họ cũng còn có nhiều vấn đề gây tranh cãi.”

 

Trịnh Đặng Nguyên Hương (Viện Văn học): Đô thị hiện đại qua một góc nhìn nữ giới

Thành phố đi vắng, truyện ngắn được lấy làm tên chung cho cả tập, là một sự thụ cảm tinh tế của nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ về đô thị Việt Nam đương đại. Lấy góc nhìn của một người đi vắng, một cô gái sau hai năm ra nước ngoài trở về thành phố quen thuộc của mình, ngỡ ngàng nhận ra tất cả đã đổi thay, Nguyễn Thị Thu Huệ đã chọn được một điểm nhìn thích hợp để soi ngắm hiện tại... Với giọng điệu vô âm sắc, tiết chế tối đa cảm xúc, mỗi truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ hiện diện như một bản tường thuật về đời sống. Giống một nhà quay phim, nhà văn hướng ống kính vào những mảng đời sống khác nhau cặm cụi, tỉ mỉ ghi hình. Không tham dự, không phán quyết, không dự đoán, mỗi truyện ngắn đưa độc giả tiếp cận gần nhất với đời sống đô thị đương đại cùng những vấn đề của nó… Bằng trực cảm phụ nữ, Nguyễn Thị Thu Huệ nhận ra con người đô thị đang ngày một thờ ơ, xa lạ với không gian sống của chính mình. Người ngày một đầy lên, ken dày trên từng mét vuông đô thị thì những ngôi nhà càng hẹp lại. Cùng với không gian sống bức bối là sự bức tử khái niệm tổ ấm của những chủ nhân. Gắn kết, yêu thương, chăm chút cho không gian sống là điều xa lạ với mỗi cá nhân hiện đại. Kết cục, ngôi nhà/ tổ ấm/ điểm tựa một thời chỉ còn mang nghĩa của quán trọ, một nơi tạm bợ để sống gửi ở kiếp này. Không còn điểm tựa không gian, con người đô thị trượt dần trong quá trình mài mòn mình trong chính không gian ngày càng không được ý thức ấy….”

 

Lê Thị Dương (Viện Văn học): nhân vật nữ trong sáng tác của Trần Thùy Mai

“Thế giới nhân vật nữ trong sáng tác của Trần Thùy Mai vô cùng đa dạng về xuất thân, hoàn cảnh, số phận, trong đó, số nhân vật được xếp đặt vào những kết thúc có hậu khá ít ỏi, đa phần họ đang loay hoay đi tìm kiếm tình yêu, hoặc đã tê tái tuyệt vọng, hoặc đang bế tắc trước những nẻo đường hạnh phúc chật chội. Nhưng dù đang trên hành trình nào, nhân vật nữ của Trần Thùy Mai vẫn là những người phụ nữ “rất Huế”, họ luôn “rút hết gan ruột để yêu”, và khát khao đi đến tận cùng tình yêu bằng tấm lòng vị tha, bao dung, dù biết chắc sẽ dẫm lên những cái gai đau đớn. Tập Mưa đời sau của Trần Thùy Mai (Nxb Văn nghệ, 2005) mỏng manh với 12 truyện ngắn giản dị. Hầu hết các nhân vật nữ trong đó rơi vào trường hợp thứ hai. Dường như ở chị, luôn ôm ấp niềm day dứt khôn nguôi về tình yêu, hạnh phúc, về thân phận của người phụ nữ trong cuộc đời vốn xô bồ, nhiều sóng gió. Bằng giọng văn mềm mại, Trần Thùy Mai thủ thỉ kể chuyện về những người con gái, những người phụ nữ có vẻ ngoài lành lành hiền hiền, nhưng đằng sau đó là một thế giới nội tâm bộn bề, nhiều ưu tư, nhiều khắc khoải, như chị từng chia sẻ: “Tôi chọn viết cho những người quanh mình, cho những người tôi thương yêu. Tôi không mong tạo ra một sự bùng nổ, chỉ muốn góp một dòng nước ngầm chảy sâu vào từng ngõ ngách của tâm hồn con người… Mỗi nhà văn nữ, kể chuyện theo một cách khác nhau, tinh tế, trải nghiệm theo một kiểu khác nhau, nhưng ở họ, có lẽ chung một mối đồng cảm, một mối chia sẻ giữa những người cùng giới nữ.…

 

Trần Lê Hoa Tranh (Trường ĐHKHXH & NV,TP.HCM): yếu tố tự truyện là một đặc điểm nổi bật trong sáng tác của các cây bút nữ hải ngoại

“Cũng như các dòng văn học di dân khác, dòng văn học di dân Việt Nam có lực lượng cầm bút đa dạng gồm nhiều thế hệ (các nhà văn thế hệ thứ nhất, một rưỡi, hai và ba). Đặc điểm của thế hệ tạo ra những thuận lợi và khó khăn riêng đối với người cầm bút, điều này thể hiện rõ ở trong các tiểu thuyết của họ. Các nhà văn thế hệ thứ nhất là những người có phần lớn cuộc đời trải qua nơi quê nhà. Họ như những cái cây mà nền móng của sự sinh trưởng đã được quyết định từ mảnh đất mà nó được gieo, đột ngột bị “bứng gốc” khỏi môi trường văn hóa quen thuộc của mình đặt vào một môi trường văn hóa xa lạ. Họ mang tâm thế lạc lõng, khó hòa nhập được với môi trường mới, nền văn hóa mới. Nỗi cô đơn buộc chặt họ với quá khứ. Trong bầu khí quyển của cô đơn, nhớ nhung, nuối tiếc, thứ duy nhất là chỗ dựa, niềm an ủi của họ chính là những kí ức hoài niệm nơi “khung trời bỏ lại” và còn bởi “ngoái đầu lại là cái thường tình của kẻ ra đi” (Võ Phiến). Điều này dễ dàng lí giải vì sao đề tài sáng tác của các nhà văn thế hệ thứ nhất khá hạn hẹp, chủ yếu xoay quanh những hoài niệm về đất nước, về thân phận người di dân, về những cú sốc văn hóa... Đa phần các nhà văn này không sử dụng được tiếng bản địa mà dùng ngôn ngữ mẹ đẻ để sáng tác. Hạn chế này khiến cho số lượng độc giả bị bó hẹp trong giới hạn cộng đồng của họ.Đứng từ góc nhìn của văn học sở tại, sáng tác của các nhà văn này được xếp vào nhóm văn học thiểu số.Một số nhà văn thuộc thế hệ này ý thức được tầm quan trọng ngôn ngữ nên khi định cư đã học tập nâng cao trình độ, dần tiếp cận được với ngôn ngữ mới… Đối với những nhà văn nữ thế hệ thứ nhất, tự truyện là một đặc điểm khá rõ trong tác phẩm của họ. Họ thường viết về những hồi ức, kỷ niệm, một đoạn đời nào đó của mình... với một văn phong truyền thống, mạch lạc và dễ đọc. Có thể kể đến tác phẩm Hồi ký mất ngày tháng, Chớp mắt một thời (Nhã Ca), Cây liễu linh thiêng: Bốn thế hệ trong cuộc đời một gia đình người Việt (Duong Van Mai Eliott), Khi trời và đất giao nhau (Le Ly Hayslip)... Tìm hiểu chất tự truyện trong tác phẩm các nhà văn nữ thế hệ thứ hai, khảo sát những tác phẩm viết bằng tiếng Anh, như một đối tượng so sánh với các nhà văn nữ thế hệ thứ nhất, chúng tôi nhận thấy rằng, yếu tố tự truyện ở các nhà văn nữ trẻ này vẫn xuất hiện khá nhiều, tuy không bằng thế hệ trước. Có thể tìm thấy những yếu tố tự truyện trong: Daughters of the River Huong-Người con gái sông Hương (Dương Như Nguyện), Stealing Buddha’s Dinner-Trộm đồ cúng Phật (Bích Minh Nguyên), The Gangster We Are All Looking for - Tên du đãng mà chúng ta tìm kiếm (Le Thi Diem Thuy)…”

 
Nguyễn Thị Cung Mi
(Trường THPT Lê Quý Đôn, Đà Nẵng)

“Trong nhiều cây bút nữ của văn học đương đại Việt Nam, Đoàn Minh Phượng là một cây bút để lại một ấn tượng mạnh mẽ đối với những ai lặng lẽ tìm đọc văn chương, một kiểu văn chương không dễ cảm, không chiều chuộng thị hiếu của “người tiêu dùng”, và thoáng chút phương Tây… “Ám ảnh về cội nguồn là nỗi ám ảnh chung của người Việt xa xứ.”, là mối quan tâm, chủ đề chính của cây bút Đoàn Minh Phượng. Nhân vật chính trong hai tiểu thuyết Và khi tro bụi (Nxb. Trẻ, 2007) và Mưa ở kiếp sau (Nxb. Văn học, 2007) của chị đều là những phụ nữ có học thức, mạnh mẽ, dám làm cuộc phiêu lưu vạn dặm trong cô đơn để “trở về” gốc gác chính mình… Hòa quyện bi kịch người xa xứ với bi kịch người phụ nữ không gia đình qua lối viết tái hiện tâm lí lạnh lùng, Đoàn Minh Phượng đã đem lại một cảm giác mới về văn học nữ tính trong mảng đề tài “tìm về nguồn cội” vốn không còn mới, trên văn đàn Việt Nam.”

 

Đoàn Ánh Dương (Viện Văn học): Võ Thị Hảo đặt lại vấn đề nữ quyền trên quan điểm giới và tính dục

“Xuất hiện thảng hoặc trên Văn nghệ Văn nghệ quân đội trong vài ba năm đầu của thập kỷ 90 thế kỷ trước, Võ Thị Hảo gần như ngay lập tức được chú ý bởi một cá tính văn chương mới lạ, nhất là sau khi truyện ngắn Người sót lại của Rừng cười được đăng tải. Năm 1993, tập truyện ngắn đầu tay Biển cứu rỗi của Võ Thị Hảo đã giành được giải B cuộc thi viết tiểu thuyết và tập truyện ngắn về đề tài Hà Nội (1992-1993) của nhà xuất bản Hà Nội. Để lại ấn tượng và được đánh giá, trong không khí tương đối cởi mở mà Đổi mới mang lại, mươi năm cuối thế kỷ có thể được coi là giai đoạn sáng tạo đầy hứng khởi, nhiệt huyết và thăng hoa nghệ thuật của Võ Thị Hảo, với những dấu mốc Chuông vọng cuối chiều (1994), Ngậm cười (1998) và nhiều truyện ngắn lẻ khác. Có thể định danh một cách ước lệ giai đoạn ấy là “Võ Thị Hảo thời trẻ”, thời của những dấn thân đầu đời vào nghệ thuật, dù với Võ Thị Hảo, cái chất trẻ ấy đã được cộng hưởng với sự chín chắn của tuổi đời “tam thập”. Nó làm cho ý thức dấn thân ở Võ Thị Hảo, vừa như một thức nhận lại cũng vừa như một thụ cảm, bạo liệt mà thâm trầm, về nghệ thuật, về cuộc đời, nhất là về vấn đề giới, nữ quyền và tính dục. Truyện ngắn Võ Thị Hảo là những phát vấn, tự vấn và cũng là hành trình diễn giải những thụ cảm và thức nhận ấy. Một cách riết róng, dứt khoát. …. Điểm độc đáo trong quan điểm nữ quyền của Võ Thị Hảo là việc nó không có dấu vết của lý thuyết phương Tây. Nó là một nhu cầu tự thân cần được phơi bày. Vì thế, màu sắc nữ tính, nữ quyền của Võ Thị Hảo cũng rất khác lạ so với các nhà văn nữ đương thời, vốn đang làm nên một cao trào của văn học nữ. Nó cũng khác xa với nữ quyền được dân tộc hóa (nationalisation) ở Việt Nam trước đó, như một đề xuất có ảnh hưởng của nhà nghiên cứu lịch sử phụ nữ người Pháp Françoise Thébaud. Diễn ngôn nữ quyền ở Võ Thị Hảo vừa chống lại quan điểm nữ quyền dân tộc chủ nghĩa vừa đặt lại vấn đề nữ quyền trên quan điểm giới và tính dục.”

 

Trần Thục (Trường ĐHKHXH&NV, Hà Nội): từ thập kỉ 90 trở đi, văn xuôi nữ đã thực sự chiếm ưu thế trên văn đàn

“Nếu như ở Trung Quốc, lớp nhà văn nữ sinh ra vào thập kỉ 70 xuất hiện khá nhiều và tác phẩm của họ gây ấn tượng; ở Pháp thập kỉ 90 của thế kỉ trước chứng kiến giới văn chương nữ đã bước nước bước cuối cùng để sánh vai nam giới; ở châu Phi từ những năm 80 trở đi, một thế hệ thứ hai các cây bút nữ châu Phi đã xuất hiện tạo ra một hiện tượng xâm lấn, đôi khi có tính lật lại trật tự trên văn đàn; ở Nga văn xuôi nữ mạnh dạn cất tiếng nói về bản thân vào những thập niên 80-90 cũng chiếm ưu thế; thì ở Việt Nam từ sau những năm đổi mới và đặc biệt là từ thập kỉ 90 trở đi, văn xuôi nữ đã thực sự chiếm ưu thế trên văn đàn… Diện mạo văn học Việt Nam thế kỉ XXI đang được tạo nên bởi sự góp sức của một lực lượng sáng tác dồi dào là các cây bút nữ. Chính họ sẽ làm nên giá trị của văn học đương đại nước ta”

 

Hồ Khánh Vân (Trường ĐHKHXH&NV, TP. Hồ Chí Minh): Tự thuật tính dục - Một lối viết nữ trong văn xuôi nữ Việt Nam từ năm 1990 đến nay

 Trong không khí chung của thời đại, những cây bút nữ ngày nay đã mạnh dạn vượt qua mọi rào cản và cởi trói cho tính dục nữ giới. Những năm vừa qua, văn đàn Việt Nam đã nhiều lần xôn xao, chấn động vì sự “nổi loạn” của khao khát nhục thể ở các ngòi bút nữ. Trong thơ có Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Phương Lan, Lynh Bacadi và nhóm Ngựa trời… Trong văn xuôi, những vệt phác ban đầu với Phạm Thị Hoài, Võ Thị Hảo, Dạ Ngân… đậm đặc dần trong Cánh đồng bất tận - như một đột biến tự bứt phá và lột xác của Nguyễn Ngọc Tư, trong Bóng đè - sự xuất hiện bạo liệt ngay từ lần đầu tiên của Đỗ Hoàng Diệu, trong I am đàn bà - sự tự “buông thả” và không “biên tập” chính mình của Y Ban khi viết về đề tài tính dục và Vân Vy, quyển tiểu thuyết ra đời gần đây nhất của Thuận cũng thấm đẫm xúc cảm nhục dục của những thân phận xa xứ… Có thể thấy rằng, trong khi mô tả và tái hiện tính dục, đặc biệt là tính dục của giới mình, các nhà văn nữ đã trần thuật từ góc nhìn bên trong của sự trải nghiệm nội tại, bộc lộ bằng thế giới hình tượng và ngôn ngữ riêng của mình, đồng thời, mang lại những giá trị biểu đạt riêng biệt, mới mẻ, khác lạ so với sáng tác của các nhà văn nam về phạm vi hiện thực này. Từ đó, những cây bút nữ đã dần tạo lập nên lối viết nữ (L’écriture féminine), hệ hình thi pháp nữ trong việc tái hiện thế giới tính dục: lối viết tự thuật, nhưng không chỉ đơn thuần là sự tự thuật cá nhân, mà là tự thuật giới trong thế đối sánh với lối viết của nam giới….”

 

Nguyễn Duy Bình (ĐH Vinh)

“Sáng tác văn học từ rất trẻ, Françoise Sagan có thể được coi như một trong những nhà văn nữ quyền đúng nghĩa đầu tiên trên thế giới. Bàn về văn xuôi nữ mà không nhắc đến nữ văn sĩ lắm tài nhiều tật này quả là thiếu sót! Chỉ đọc Buồn ơi chào mi thôi cũng có thể vỡ vạc được nhiều điều về vấn đề về “giới tính thứ hai”… Qua Buồn ơi chào mi, chúng ta thấy rõ cá tính mạnh mẽ của F. Sagan trong cách tiếp cận vấn đề về con người trong nghĩa trần tục nhất. Ở trong con người Cécile, con quỷ đam mê luôn sống mãnh liệt với những dục vọng trần thế không bức tường nào có thể vây tỏa, không chuẩn mực nào có thể kiềm chế. Đây hẳn là bài học lớn cho các cây bút nữ: Viết là phóng thích những gì chất chứa trong lòng, viết là để tâm tình bùng nổ một cách tự nhiên, viết là để tuôn trào ra từ ngòi bút những gì tinh túy nhất của tâm hồn và trí tuệ. Sức mạnh của các nhà văn nữ phải chăng nằm ở chỗ khi viết, họ quên mình là phái nữ, họ bắt nhịp được hơi thở của thời đại và hòa chung tiếng nói với đồng loại.”

 

Đỗ Thị Hường (Viện Văn học): diện mạo văn xuôi nữ Nga ở Việt Nam

“Văn học nữ từ cuối thế kỷ XX nổi lên như một hiện tượng tiêu biểu trong đời sống văn hóa, văn học ở Nga. Từ đó cho đến nay, văn học nữ Nga đã ghi nhận sự tiếp nối của các thế hệ nhà văn nữ thành danh. Trước hết, phải kể đến các tác giả nữ tiêu biểu giai đoạn những năm 80 - 90 của thế kỷ XX: Bella Akhmadulia, Rima Kazacova, Tachiana Tolstaya, Ludmila Ulitskaya, Ludmila Petrushevskaya, Victoria Tokareva… Sang thế kỷ XXI số lượng các nữ nhà văn Nga đã tăng lên nhanh chóng, sáng tác của họ cũng phong phú hơn… Tại Việt Nam, từ đầu thế kỷ XXI, văn xuôi nữ Nga (truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết) đã được nhiều dịch giả quan tâm dịch và giới thiệu tới bạn đọc. Có thể kể đến sáng tác của Ludmila Ulitskaya, Ludmila Petrushevskaya, Tachiana Tolstaya, Victoria Tokareva, Kira Teniseva, Oksana Robski, Alexandra Marinina và một số nhà văn trẻ như Anna Matveeva, Slava Sergeev, Nina Romanova, Ludmila Makarova, Irina Polianskaya… Nhìn vào các thế hệ nhà văn Nga đã giới thiệu ở trên, rõ ràng chúng ta thấy số lượng các tác giả tác phẩm văn xuôi nữ Nga ở Việt Nam khá khiêm tốn”

 

Lê Thanh Huyền (Viện Văn học): đổi mới nghệ thuật của văn xuôi nữ Nhật Bản đương đại

“ Hòa chung vào sự phát triển của văn xuôi thế giới, văn xuôi nữ Nhật Bản đương đại có nhiều đổi mới bằng cách học hỏi phương Tây và cách tân truyền thống. Tuy nhiên, các nhà văn nữ Nhật Bản đương đại vẫn không hoàn toàn tách rời lối viết của nền văn chương duy cảm truyền thống. Ví như: nếu R. Grilet trong Những viên tẩy, Ghen miêu tả thế giới đồ vật ngổn ngang để làm mờ hóa tâm hồn nhân vật thì Banana trong Nhà bếp lại làm mờ hóa nhân thân, nghề nghiệp, giới tính, ngoại hình để làm nổi bật tâm hồn vi diệu của con người. Có thể chỉ ra một vài nét đổi mới, đặc sắc về mặt nghệ thuật của văn xuôi nữ Nhật Bản đương đại: 1- Người phụ nữ - “Chúa trời của những chuyện vụn vặt” trở thành nhân vật trung tâm của hầu hết các tác phẩm. Ngày nay, trong nhiều tác phẩm tự sự hiện đại, hậu hiện đại, các tác giả đã cố gắng đổi mới cách xây dựng nhân vật gắn với cái nhìn về thế giới và con người như một sự phi lý. Họ “triệt tiêu”, “tẩy trắng” vai trò của nhân vật bằng các thủ pháp như xóa mờ tiểu sử, giản lược nhân dạng, phi quá trình trong miêu tả tâm lý, phi nhân quả trong miêu tả hành động, phi logic trong tổ chức các “lát cắt” thời gian và không gian… Tuy nhiên, bất chấp nỗ lực của họ, nhân vật vẫn là một “hằng số” của thể loại tự sự. Nhân vật nữ trong văn xuôi đương đại nói chung, trong đó có Nhật Bản vẫn có tính gắn kết của nó, chỉ có điều khó nắm bắt hơn; 2- Các thủ pháp của văn học phương Tây hiện đại được vận dụng nhuần nhuyễn, mang hơi hướng hậu hiện đại: sử dụng lối viết dòng ý thức, phi nhân quả trong mô tả hành động và tổ chức không gian - thời gian, phi tâm lý hóa, đa điểm nhìn, phối hợp cùng lúc nhiều thể loại trong một văn bản… 3- Cuộc sống hiện đại muôn mặt qua được thể hiện qua các tiêu đề đầy khiêu khích, có xu hướng nổi loạn hoặc mô tả hiện thực trần trụi: Đi tè, Chết cha mày đi!, Trứng không thụ tinh, Sơn của môi, Lịch mang thai, Cái lưng mà tôi muốn đá... Nữ tính không chỉ xuất hiện ở dạng thức nổi loạn mà xuất hiện cả trong dạng thức nguyên thủy truyền thống. Nữ tính nguyên bản biểu hiện rõ nét nhất trong những đoạn miêu tả nội tâm, miêu tả thiên nhiên đầy chất thơ và trong cách xử lý các mối quan hệ đầy cảm tính….”

 

Trần Thị Thanh Hương (Trường ĐHKHXH&NV, TP. Hồ Chí Minh): Tiểu thuyết Mắt biếc và phê bình nữ quyền da đen

“Về cơ bản, lịch sử tư tưởng nữ quyền trên thế giới có thể chia làm 3 giai đoạn chính và thường được gọi là ba cao trào, ba làn sóng đấu tranh. Trong đó mỗi một giai đoạn đều đạt được những thành tựu quan trọng và đều có những lý thuyết nữ quyền làm nền tảng. Như làn sóng nữ quyền thứ nhất gắn với thuyết nữ quyền Tự do, làn sóng thứ hai gắn với thuyết nữ quyền Xã hội chủ nghĩa, nữ quyền Cấp tiến thì thuyết nữ quyền Da đen đánh dấu mốc quan trọng cho làn sóng nữ quyền thứ ba. Nếu như trong hai cao trào đấu tranh đầu, phong trào nữ quyền chủ yếu tập trung đấu tranh cho quyền bình đẳng giữa phụ nữ với nam giới trong các vấn đề về quyền lợi, kinh tế, phúc lợi xã hội… thì làn sóng nữ quyền thứ ba lại tập trung nghiên cứu vào sự bất bình đẳng giữa phụ nữ và phụ nữ. Các nhà lý luận nữ quyền làn sóng thứ ba nhận ra rằng phụ nữ thuộc các tầng lớp khác nhau, chủng tộc, xã hội khác nhau cũng chịu sự áp bức ở các mức độ khác nhau. Do đó đã hình thành nên ba vấn đề trọng tâm của thuyết nữ quyền Da đen là Giới (Gender), Chủng tộc (Race) và Giai cấp (Class)… Phê bình nữ quyền Da đen đã và đang đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong việc chống lại chế độ nô lệ và ảnh hưởng của nó, đòi quyền bình đẳng so với nam giới và xa hơn nữa là tiến tới xây dựng một nền mỹ học da đen với những truyền thống văn hóa đặc sắc riêng giữa lòng nước Mỹ.”. “Mắt biếc là tác phẩm đầu tay của Toni Morrison -nhà văn da đen đầu tiên được trao giải Nobel, hơn nữa còn là một người phụ nữ. Tiểu thuyết này khởi đầu cho một chặng đường dài Morrison khám phá nguồn cội Châu Phi. Nó không chỉ là tiếng nói của những da đen nói chung, mà còn là của những người phụ nữ da đen đã sống sót như thế nào giữa sự hà khắc của chế độ nam quyền và sự khốc liệt của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc vốn tồn tại như một bóng ma trong lòng nước Mỹ?”

M.V

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác