Một thời Văn nghệ và nhuận bút Văn nghệ

Nguyễn Huy Thắng

KỶ NIỆM 60 NĂM BÁO VĂN NGHỆ (1948-2008)

Một thời Văn nghệ và nhuận bút Văn nghệ - ảnh 1
Bản in thử bìa Văn Nghệ Số 2, được Nguyễn Huy Tưởng dùng để ghi chép ở mặt sau
Văn Nghệ Số 1
ra tháng ba năm 1948, cách đây vừa đúng sáu chục năm. Khi ấy được ra dưới dạng tạp chí, khổ 16x24 cm.

Trên trang đầu ấn phẩm, sau hàng chữ Tạp chí nghị luận và sáng tác, có ghi rõ: Ra ngày 15 mỗi tháng.

Nhưng xem ra, tiêu chí “hàng tháng” không được - hoặc không cần - theo đúng. Số tiếp theo, Số 2, vẫn ra vào tháng tư, nhưng đến số sau đó, Số 3, lại ra vào tháng sáu. Như vậy là bỏ qua tháng năm.

Sau Số 7 ra cuối năm 1948 là Số Mùa xuân 1949, tuy không đề cụ thể, nhưng thực chất là thay cho hai số 8 và 9. Để đến số tiếp theo đề là Số 10, ra tháng ba năm 1949. Như vậy có thể coi Số Mùa xuân 1949 là số Văn Nghệ gộp đầu tiên.

Về số trang cũng không thống nhất. Nếu như Số 1 có số trang là 82, thì sang Số 2, số trang là 70, Số 3 là 74 trang, và đến Số 7, số trang lên đến con số 92... Chỉ có giá tiền là thống nhất: 18 đồng, dù số trang có là đầu 6, đầu 7 hay đầu 8, đầu 9. Số gộp thì tăng giá gấp đôi (36 đồng), mặc dù số trang hầu như không thay đổi: Số Mùa xuân 1949 (gộp hai số 8 và 9) chỉ hơn Số 7 trước đó 2 trang, nhưng giá tiền thì gấp đôi, có lẽ là căn cứ vào tính chất của ấn phẩm. (Tất cả những dữ liệu này, cũng như các số liệu tiếp theo, chúng tôi đều lấy theo Sưu tập Văn Nghệ 1948-1954, Từ Tập 1 (1948) đến Tập 6 (1953) do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành trong các năm từ 1998 đến 2005; trường hợp sử dụng tài liệu khác, chúng tôi sẽ nói cụ thể sau).

Về Ban biên tập cũng không cố định. Nếu như Số 1, Tòa soạn gồm có Đặng Thai Mai, Tố Hữu, Thế Lữ, Văn Cao, Nguyên Hồng, do Tố Hữu làm Thư ký tòa soạn, thì sang Số 2, Tòa soạn bao gồm Hoài Thanh, Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Lưu Hữu Phước, Tô Ngọc Vân, Thế Lữ, Nguyễn Huy Tưởng, vẫn do Tố Hữu làm Thư ký tòa soạn. Đến Số 4 thì Thư ký tòa soạn chuyển sang Nguyễn Huy Tưởng, người sẽ giữ vai trò này cho đến hết Số 19 tháng giêng 1950 thì bàn giao cho Tô Hoài, bắt đầu từ Số Xuân 1950... Nguyễn Hữu Đang có tên trong danh sách những người cộng tác ở hai số đầu, bên cạnh những tên tuổi như Ngô Tất Tố, Nam Cao, Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Đoàn Phú Tứ, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Xuân Khoát..., nhưng từ Số 3 trở đi thì không thấy xuất hiện nữa.

Nếu như về hình thức, khó có thể nói Văn Nghệ thời kỳ đầu đã đạt đến một sự thống nhất cao ở các số, thì về nội dung (hay nói đơn giản hơn, về bài vở), ngay từ số đầu tiên đã xuất hiện những bài có thể coi là “đáng mơ ước” đối với bất cứ tờ tạp chí (hay báo) nào ở vào bất kỳ thời điểm nào. Về văn, thơ, có thể kể đến các truyện ngắn Làng của Kim Lân trên Văn Nghệ (VN) Số 1, Đôi mắt của Nam Cao (VN Số 2), Trận Phố Ràng của Trần Đăng (VN Số 14), nhật ký ở rừng của Nam Cao (VN Số 6 Số 7), bút ký Nhận đường của Nguyễn Đình Thi, tùy bút ấp Đồi Cháy của Nguyên Hồng, thơ Cá nước của Tố Hữu, Nhớ máu của Trần Mai Ninh (cùng trên VN Số 1), Đợi anh về của Simonov, Tố Hữu dịch (VN Số 2)... Về kịch, có Những người ở lại của Nguyễn Huy Tưởng (VN Số 4, trích đăng màn IV). Về nhạc, có trường ca Sông Lô của Văn Cao (VN Số 1)... Về họa, do điều kiện in ấn khó có thể giới thiệu, nhưng chỉ riêng cái bìa của họa sĩ Trần Đình Thọ, với kiểu chữ vừa mềm mại, thanh thoát vừa đậm đà chắc khỏe, và cái vi-nhét với ngôi sao trên nửa vòm trời bên trên chữ V như hứng lấy, cũng đã là một giá trị đáng ghi vào lịch sử báo chí Việt Nam...

Một thời Văn nghệ và nhuận bút Văn nghệ - ảnh 2
Một trang bút tích của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng
Thế còn về nhuận bút thì sao?

Rất may, người viết bài này mới tìm ra, trong số những tài liệu mà cha mình, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng để lại, một cuốn sổ ông ghi chép các số liệu, vụ việc vào chính quãng thời gian này. Cuốn sổ chỉ nhỏ bằng lòng bàn tay, giống như một cuốn lịch túi, tuy không còn nguyên vẹn, nhưng những gì còn lại thì đều rõ chữ và thường là có thể luận được. Trong đó có nhiều chi tiết liên quan đến tờ tạp chí mới ra đời.

Ví dụ, ngày 29-7-1948, ứng với thời điểm chuẩn bị ra Văn nghệ Số 4, ông ghi “Tòa soạn: mỗi tháng 100 đ - bắt buộc gửi bài”, tiếp đến là việc phân công, theo đó Đoàn Phú Tứ chịu trách nhiệm về kịch, Xuân Diệu: thơ, Tô Ngọc Vân: họa, Nguyễn Xuân Khoát: nhạc. Ngày 24-8-1948, ông ghi các đầu việc để bàn trong Tòa soạn, trong đó có việc “Định giá” mà ta có thể hiểu được là xây dựng thang nhuận bút. Mức đề ra, vẫn theo cuốn sổ của Nguyễn Huy Tưởng, là: Truyện, kịch, bút ký - từ 150 đến 250 đồng (ít nhất 6 trang in); thơ - từ 100 đến 250 đồng; dịch - từ 100 đến 150 đồng; luận thuyết - từ 150 đến 250 đồng... Những trang cuối cuốn sổ ghi nhuận bút của một số cây bút chủ chốt, khi Văn nghệ đã ra đến số 7. Theo đó, người có tổng nhuận bút cao nhất là Nguyễn Đình Thi (bút danh Học, hoặc Anh Nghĩa). Cụ thể, tác giả Nhận đường nhận nhuận bút cho bài ký nổi tiếng của mình trên Văn nghệ Số 1 là 250 đồng. Cũng trên số đó, ông còn có bài giới thiệu sách Những con người và những con khác, tiểu thuyết của nhà văn ý Vittorini, 100 đồng. Trên Văn nghệ Số 3, ông có bài Hội nghị toàn quốc năm nay của Văn hóa và Văn nghệ, đăng trong mục “Văn nghệ - Thời đại” với bút danh Anh Nghĩa, 100 đồng. Số 4 Số 5, ông được hưởng lương Tòa soạn, 100 đồng cho mỗi số, ngoài ra còn hai bài khác, mỗi bài 150 đồng. Tổng cộng 950 đồng, cao hơn Tố Hữu và Nguyễn Huy Tưởng - cùng 800 đồng, Xuân Diệu - 750 đồng. Người có nhuận bút trung bình trên mỗi số cao nhất là Nam Cao, với truyện ngắn Đôi mắt (VN Số 2), 250 đồng; đoản văn Mạch máu (VN Số 3), 70 đồng, nhật ký ở rừng (đăng hai kỳ trên VN Số 6Số 7), mỗi kỳ 250 đồng. Tổng cộng 820 đồng trên bốn số báo (trung bình mỗi số 205 đồng) hoặc cho ba đơn vị bài (trung bình 273 đồng mỗi bài).

Về thơ, tuy thang nhuận bút có đề ra mức cao nhất 250 đồng, nhưng thực tế chỉ trả đến 200 đồng, ví dụ cho các bài Cá nước của Tố Hữu (VN Số 1), Ngoại ô mùa đông 46 của Văn Cao (VN Số 2), Nhớ mùa tháng Tám của Xuân Diệu (VN Số 3)... Bài thơ nổi tiếng Đợi anh về của Simonov do Tố Hữu dịch, được trả theo thang dịch thay vì thang nhuận bút thơ, nên chỉ ở mức 100 đồng!

Về họa, nhuật bút bìa của Trần Đình Thọ được trả 200 đồng, bằng với bài tranh luận Vẫn tranh tuyên truyền và hội họa của Tô Ngọc Vân (VN Số 2).

Mức nhuận bút như thế là cao hay thấp?

Đáng tiếc là thời gian đã quá xa để chúng ta biết được về thời giá lúc bấy giờ. Nhưng ít nhất ta có thể làm phép so sánh giữa các đơn giá từ chính tờ tạp chí với nhau. Chẳng hạn, mức nhuận bút cao nhất 250 đồng, được trả cho các tác phẩm: Nhận đường, Đôi mắt... như đã nói, và các nghệ phẩm khác như: bản nhạc Sông Lô của Văn Cao (VN Số 1), bút ký Hai sườn Tam Đảo của Đoàn Phú Tứ (VN Số 3), kịch Những người ở lại của Nguyễn Huy Tưởng (VN Số 4), truyện ngắn Tào Lường của Tô Hoài (VN Số 5), hay bài thuyết trình Mấy vấn đề thắc mắc về văn nghệ của Trường Chinh (VN Số 6)... Trong khi đó, lương Tòa soạn chỉ là 100 đồng, tương đương 40% mức nhuận bút cao nhất - mà không phải số nào cũng trả!

Một sự so sánh khác. Nhà văn Kim Lân cũng được trả mức nhuận bút cao nhất (250 đồng) cho truyện ngắn Làng (VN Số 1). Với số tiền này, nếu như ông muốn mua biếu lão Hai và các bà con làng Chợ Dầu trong câu chuyện nổi tiếng của mình, thì có thể mua được 14 tờ tạp chí (thiếu 2 đồng, coi như làm tròn). Lại vẫn câu hỏi: Như thế là nhiều hay ít. Có thể là không nhiều so với ngày nay. Nhưng với khi ấy, được sở hữu một tờ tạp chí Văn nghệ là cả một đại sự đối với phần lớn độc giả đang thiếu thốn cả về vật chất lẫn tinh thần…

(Văn nghệ)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác