Một hồn thơ hào sảng và tài hoa


(Toquoc)- Có lần nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh từng tâm sự: Chính những bài thơ thời chống Mỹ tôi đã viết như một cách để tự cứu mình. Đúng. Nhưng ông nói vui vậy thôi, chứ thực ra không phải chỉ có vậy. Thơ ông vừa “cứu” ông, lại vừa “cứu” bao đồng chí, đồng đội và đồng bào ta trên khắp mọi miền đất nước, trong những năm tháng chiến tranh chống Mỹ cam go và khốc liệt nhất. Thời ấy, không có thơ, dường như mọi người đều cảm thấy thiếu đi một cái gì đấy vừa mơ hồ, nhưng cũng rất thiết thực, khi phải đối mặt với bao khó khăn tưởng chừng như không vượt qua được. Cho đến khi ông trút hơi thở cuối cùng (21/10/2014) vào một ngày thu đẹp trời nơi trần thế để trở về cõi vĩnh hằng, để lại bao nỗi tiếc thương cho gia đình, bằng hữu, đồng chí, đồng nghiệp, những người đã kề vai sát cánh trong suốt 80 năm ông có mặt trên cõi đời này, thì dường như mọi người mới sực bừng tỉnh ra, thế gian này vẫn còn có một nhà thơ mang tên Phạm Ngọc Cảnh…


Displaying Pham Ngoc Canh.jpg
Nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh

Người đam mê kịch, duyên nợ với thơ

Nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh còn có bút danh Vũ Ngàn Chi, sinh 20/7/1934 tại thị xã Thạch Hà, Hà Tĩnh. Năm 1947, khi mới 13 tuổi, ông đã gia nhập Trung đoàn 103 Hà Tĩnh trong tư cách là một chiến sĩ giao liên. Từ đó, trên 50 năm ông đã gắn bó với binh nghiệp, chủ yếu trong lĩnh vực văn chương- nghệ thuật. Thế nhưng, Phạm Ngọc Cảnh lại có duyên hơn với thơ. Ông được trao tặng Giải thưởng Nhà nước, năm 2007 với các tập thơ: Đêm Quảng Trị (1971), Lối vào phía Bắc (1982), Trăng sau rằm (1985), Nhặt lá (1996).

Phạm Ngọc Cảnh vốn là một diễn viên của Đoàn kịch nói Tổng cục Chính trị. Vai diễn Trung úy Phương trong vở kịch Nổi gió của nhà biên kịch kiêm đạo diễn Đào Hồng Cẩm, đã trở thành vai diễn để đời của chàng trai xứ Nghệ này. Có thể sau này vở kịch đã được dựng thành phim cùng tên của đạo diễn, NSND Huy Thành, sản xuất năm 1966, mà NSND Thế Anh, người có khuôn mặt điển trai với cái răng khểnh đã vào vai rất thành công, khiến khán giả miền Bắc vô tình lãng quên vai diễn đầu tiên nhân vật Trung úy Phương của vở kịch này chính là diễn viên Phạm Ngọc Cảnh? Thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, khu IV nói chung và Hà Tĩnh nói riêng, là con đường huyết mạch để vận chuyển con người, vũ khí đạn dược và nhu yếu phẩm tiếp viện cho chiến trường miền Nam. Vì quá yêu quí con trai, bố ông đã treo ảnh Trung úy Phương, vai diễn mà Phạm Ngọc Cảnh rất thành công, ở nơi trang trọng nhất của ngôi nhà tại quê hương Thạch Hà. Là gia đình có truyền thống yêu nước và cách mạng, thời kỳ ấy nhà ông luôn đón nhiều đoàn quân chi viện cho chiến trường miền Nam. Có lần, nhìn bức ảnh Trung úy Phương, một ai đó đã nghi gia đình ông chắc là có quan hệ họ hàng thân thích với những người bên kia chiến tuyến nên mới treo ảnh một Trung úy Ngụy như thế. Đấy là chuyện đáng nhớ nhất trong cuộc đời diễn viên của nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh.

Hơn nửa thế kỷ đam mê với văn chương- nghệ thuật, ông là người ít ồn ào trên văn đàn, không bén mùi với các giải thương, nhưng lại khá cởi mở với bạn bè, đồng nghiệp ngoài đời, vừa hào sảng, vừa tình tứ, ý nhị vào loại nhất nhì trong thơ ca. Nửa đận về trước, ông coi diễn viên là một nghề cao quý, theo đúng nghĩa của thời bấy giờ cách đây chừng nửa thế kỷ. Đúng. Rất đúng. Thời ấy, ở đời này nghề lao động chân chính nào mà chẳng cao quí. Thế nhưng, trên dưới chục năm trở lại đây, bao nhiêu người đổ xô vào nghề diễn viên, những mong được tận hưởng sự thơm lây nghề nghiệp do các bậc tiền nhân để lại trước công chúng, mà vẫn kiếm bộn tiền...

Nhưng có lẽ với một người lính vừa muốn cống hiến cho nghệ thuật, lại vừa thích rong ruổi đến nhiều vùng miền khác của quê hương Việt Nam, với đầy sự đam mê khám phá cái hay cái đẹp, thì ánh đèn sân khấu cùng với những vai diễn không đủ sức cuốn hút và níu chân người diễn viên khi mới ở vào tuổi tứ tuần này. Thế là từ năm 1971, sau khi xuất bản tập thờ Đêm Quảng Trị, Phạm Ngọc Cảnh đã chuyển từ Đoàn kịch Quân đội về công tác tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội và gắn bó với Tạp chí này cho đến lúc nghỉ hưu. 

 

Một hồn thơ hào sảng và tài hoa

Trong lớp các nhà thơ chống Mỹ, Phạm Ngọc Cảnh đã để lại một dấu ấn riêng, rất khó quên về phong cách thơ. Lứa đàn em chúng tôi, chẳng mấy ai không thuộc lòng Lý ngựa ô ở hai vùng đất, Sư đoàn, Trăng lên… là những bài thơ thuộc diện hay nhất của ông. Đặc biệt bài thơ Trăng lên của ông đã được nhạc sĩ Thuận Yến phổ nhạc thành ca khúc Vầng trăng Ba Đình đã trở nên nổi tiếng và được nhiều ca sĩ tên tuổi như NSND Thu Hiền, NSND Thanh Hoa, ca sĩ Phạm Phương Thảo... thể hiện: Trăng lên, kìa trăng lên/ quảng trường dâng biển sáng/ ôi vầng trăng Ba Ðình/ mênh mông và thiêng liêng/... Trong lăng, Bác chợp nghỉ/ như sau mỗi việc làm/ trăng ơi, trăng biết thế/ nên bước nhẹ nhàng chăng…

Tuy nhiên, nếu xét về khía cạnh thơ, thì nhiều người đánh giá cao hai bài Lý ngựa ô ở hai vùng đấtSư đoàn. Một số người còn mạnh dạn đưa ra nhận xét chỉ cần bài Sư đoàn, Phạm Ngọc Cảnh đã xứng một nhà thơ đáng nể trọng. Bài thơ hào sảng, mang cốt cách người lính trận trong ông: Cương trực, dứt khoát, tự tin và luôn biết trước việc mình làm: Sẽ có những sư đoàn thép/ Bất kỳ nơi đâu/ Không khuất phục tù đày chém giết/ Nơi đâu/ Người sống nợ nần người chết/…/ Trùng điệp những sư đoàn/ Ai lên phía Bắc/ Tràn về hướng Nam/ Những vị tướng lại cầm quân đi đánh giặc/ Trải bản đồ/ Còn nguyên/ Vạch chỉ đỏ thắt quanh hầu giặc Pháp/ Bài học chiến tranh nhân dân…

Không những thế, bài thơ được viết từ 1966, khi mà cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn vô cùng ác liệt, mà nhà thơ- chiến sĩ Phạm Ngọc Cảnh vẫn tin vào thắng lợi ngày mai của dân tộc ta. Bài thơ có tính dự báo rất cao, vì sau đấy 9 năm (1966-1975) những đoán định của ông đã trở thành hiện thực: Lại có một ngày/ Mọi cửa ô xanh Sài Gòn hớn hở/ Như Hà Nội đã từng/ Ba mươi sáu đường hoa tung sóng đỏ/ Phất rừng cờ thổi hồng ngọn gió/ Ðón con em/ Ðón những sư đoàn/ Mang chiến thắng trở về/ Rập bước/ Ca vang.

Thế nhưng, cũng có người lại cho rằng bài Lý ngựa ô ở hai vùng đất mới là bà thơ hiển lộ rõ phong cách thơ của ông. Âm hưởng hào sảng, đắm đuối trong bút pháp tài hoa, ông đã viết nên những vần thơ trữ tình, nhưng vô cùng hào sảng, đúng với tâm hồn người Việt: Anh lớn lên vó ngựa cuốn về đâu/ gặp câu hát bền lòng rong ruổi mãi/ đường đánh giặc trẩy xuôi về bến bãi/ Lý ngựa ô em hát đợi bên cầu.

Trên đường đi đánh giặc thuở ấy, mà gặp những câu thơ này, như được uống ngụm nước trong từ nguồn cội dân ca mẹ ru: Hóa vô tận bao điều mơ tưởng ấy/ bao câu hát ông cha mình gửi lại/ sao em thương câu lý ngựa ô này/ sao anh nghe đến lần nào cũng vậy/ sao chỉ thấy riêng mình em đứng đấy/ chỉ riêng mình em hát với anh đây…

Đi đánh giặc mà còn mơ mộng thế, âu cũng là phẩm chất chung của những người lính trong hai cuộc hai cuộc trường chinh chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc ra. Đánh giặc để giải phóng quê hương, đất nước, để lứa đôi có những ngày xum vầy, hạnh phúc, âu cũng là mong ước của bao người: Em muốn về hội Gióng với anh không/ để anh khoe với họ hàng câu lý ấy/ em muốn làm dâu thì em ở lại/ lý ngựa ô xin cưới sắp về rồi/ đồng đội anh đã trọn mùa thắng giặc/ cũng sắp về chia vui.

Quả là chỉ có Phạm Ngọc Cảnh, một thi sĩ tài hoa mới có thể viết được những câu thơ vừa hào sảng, vừa đậm đà chất quê kiểng đến nao lòng như vậy. Dù chỉ có một hay ba bài thơ trên cũng đủ để các thế hệ sau nhớ về ông, mặc dù những cống hiến của ông sau này cho văn chương- nghệ thuật, bạn bè, đồng chí, đồng đội và đồng nghiệp cũng không thể nào quên với 6 lời bình cho những bộ phim tài liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh và gần 600 lời bình cho các phim tài liệu khác, hàng trăm bài bút ký, thơ mà ông vẫn làm cho đến khi trút hơi thở cuối cùng.

Một người lính, một người lao động nghệ thuật kiên gan, bền chí như đại tá, nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh dễ mấy ai sánh được. Xin được thắp nén tâm nhang cầu chúc ông yên nghỉ ngàn thu dưới suối vàng!

22/10/2014

Đỗ Ngọc Yên

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác