Một cách nhìn về văn hóa dân tộc thiểu số hiện nay

Dương Thuấn

 

Nếu lấy mốc đánh dấu về sự đổi mới từ năm 1986, văn hóa của các dân tộc thiểu số sau gần 30 năm nhìn lại đã có gì khác hơn trước. Các dân tộc Tày, Thái, Ê đê, Ba na, Chăm, Khơ me, Nùng, Mường, Mông, Lô Lô, Dáy, Sán Chí, Cao Lan, Dao, Pa Dí, Khơ Mú… văn hóa đã phát triển như thế nào? Hạn chế gì còn tồn tại cần phải khắc phục? Đó là những vấn đề cần phải trao đổi để định hướng phát triển tốt hơn. Nước Việt Nam là một quốc gia nhiều dân tộc chung sống sẽ xây dựng một nền văn hóa đa sắc tộc như thế nào?

Lâu nay ở nước ta trên các diễn đàn chính thống và phương tiện thông tin đại chúng luôn nhấn mạnh đến mức cực đoan các thuật ngữ “tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”, “thống nhất trong đa dạng”… quên mất đi khái niệm riêng của văn hoá từng dân tộc. Đối với một quốc gia như Việt Nam cần có một nền văn hóa đa sắc tộc thực sự, hơn là ngày ngày nói đi nói lại đến nhàm chán các thuật ngữ đó. Do chính sách chung chung nên không ít người đã không hiểu được thế nào là một nền văn hoá đa sắc tộc. Từ đó đã dẫn đến những áp đặt về chính sách và cách làm khiên cưỡng đối với văn hóa các sắc dân thiểu số. Người quản lý chỉ luôn nhăm nhăm đi tìm cái chung để hoạch định chính sách, ít có ai chú ý đến cái đặc sắc, cái riêng biệt mỗi nền văn hoá của từng dân tộc. Nước Việt Nam có 54 dân tộc đã là cả nhân loại thu nhỏ, vì vậy văn hoá rất là phong phú, không phải quốc gia nào cũng có may mắn như thế.

Những năm gần đây các chương trình của chính phủ thực hiện đối với vùng núi, chủ yếu tập trung vào giải quyết các vấn đề an sinh xã hội, ít chú ý đến việc phát triển văn hóa của từng dân tộc cụ thể. Các giải pháp tình thế như cấp phát gạo và bảo hiểm y tế cho người nghèo, chính sách cho con em tuyển thẳng vào đại học, mở các trường dân tộc nội trú, miễn giảm học phí, trợ cấp học sinh vùng núi khó khăn… Các giải pháp đó chưa giải quyết tận gốc những vấn đề căn cốt của sự đói nghèo để người dân có cuộc sống tinh thần và vật chất tốt hơn. Cũng đã đôi lần trên diễn đàn Quốc hội có một vài đại biếu đề cập đến vấn đề ưu tiên cho miền núi, cho cái cần câu hay cho con cá. Hình ảnh ví von rất mỹ miều nhưng cuối cùng nào có đưa ra được giải pháp gì?

 Từ lâu người ta đã quên đi thế mạnh của miền núi là văn hóa, không biết rằng văn hóa là một loại tài sản vô giá không thể định lượng, bao gồm tài sản hữu hình và tài sản vô hình. Những người quản lý nếu biết sử dụng trí tuệ của nhân dân để phát triển văn hóa thì khối tài sản đó sẽ đem lại nguồn lực vô cùng tận cho quốc gia, đặc biệt là phát triển miền núi. Thực trạng quản lý văn hóa như ở nước ta hiện nay là một sự lãng phí lớn, không những khối tài sản văn hóa lớn đó không đươc sử dụng mà còn bị mai một, thất truyền…

Một số di sản văn hóa ở các vùng dân tộc thiểu số ở phía nam như Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Thánh địa Mỹ Sơn được UNESCO công nhận, thử hỏi đã có điều gì làm được tốt hơn so với trước kia, đã được bảo tồn và phát huy như thế nào? Hay là văn hóa của các khu vực dân tộc thiểu số khác, đặc biệt là miền núi phía bắc hiện tại văn hoá đang ở trong trạng thái rơi tự do, không có định hướng phát triển. Các chính sách của nhà nước thường chỉ chú ý ở việc xây dựng các quy chế nếp sống văn hóa, gia đình văn hóa, làng bản văn hóa… Cái kiểu xây dựng văn hoá như thế này ở một số nơi còn gây ra phản cảm, gây tác dụng ngược lại. Là một người nghiên cứu văn hoá độc lập, tôi thấy rất nhiều vấn đề bức xúc hiện nay của văn hóa dân tộc thiểu số cần phải chấn chỉnh và khắc phục để phát triển. Sau đây xin nêu một vài điều cụ thể.


1.
Các chính sách về văn hóa dân tộc thiểu số từ trước đến nay đều chung chung, mang tính chất ứng phó hơn là tính chiến lược lâu dài. Không có chính sách riêng để phát triển văn hóa của từng dân tộc. Xoá nhoà sự độc đáo đặc sắc của mỗi dân tộc. Sự kỳ thị văn hóa dân tộc thiểu số luôn thể hiện trong chính sách: văn hóa dân tộc thiểu số ở miền núi luôn bị coi là lạc hậu, phải đem ánh sáng từ miền xuôi lên để soi sáng cho vùng cao… Đây là sự thể hiện nhận thức hạn chế của người soạn chính sách và vô tình đã hạ thấp văn hóa của các dân tộc thiểu số. Trên thực tế, văn hóa của các dân tộc thiểu số có rất nhiều điểm mạnh, không ít cuộc thi nghệ thuật và giao lưu văn hoá quốc tế, văn hóa dân tộc thiểu số đã đem về cho cả nước nhiều thành tích rất đáng tự hào.

Đã nhiều năm, họat động văn hóa của ngành văn hoá tổ chức thường chỉ lặp đi lặp lại một vài hoạt động: lễ hội cồng chiêng, lễ hội lồng tồng, liên hoan dân ca, triển lãm trang phục, triển lãm ẩm thực, gần đây thi hoa hậu các dân tộc… Từ trung ương đến địa phương cùng một kiểu làm rập khuôn giống nhau, năm nào cũng giống năm nào, không sáng tạo cái mới. Nhu cầu thưởng thức văn hóa của người dân sẽ không chấp nhận sự nhàm chán đó, cuộc sống luôn cần những cái mới hơn.

Điều cần thiết nhất cho việc phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số miền núi hiện nay là phải có các chính sách đúng đắn mang tính chiến lược. Phải khắc phục ngay tình trạng văn hóa đang theo xu hương rơi tự do. Tại sao sau bao năm các cơ quan trung ương và các tỉnh tổ chức thi hát dân ca, liên hoan dân ca, liên hoan lễ hội… nhưng các dân tộc thiểu số vẫn chưa có một bản băng đĩa dân ca đúng nghĩa để nghe. Sự suy thoái về thuần phong mỹ tục vẫn tiếp diễn không được ngăn chặn, các bản nhà sàn bị dỡ bỏ hàng loạt đem về xuôi nhưng các cấp chính quyền đều bỏ mặc, để miền núi hiện nay mất gần hết nhà sàn, hay là các trò chơi dân gian rất đặc sắc cũng bị biến mất. Biết bao pho sách quý và các loại chữ viết cổ của Tày, Thái, Chăm không được tổ chức sưu tầm, dịch thuật và truyền dạy cho thế hệ sau. Chữ Nôm Tày hiện nay chỉ còn có vài ba người biết đọc biết viết, trong khi đó kho sách Nôm Tày rất khổng lồ, bao gồm các lĩnh vực: văn học, y học, lịch sử, địa lý, thiên văn, phong thuỷ, gia huấn, cúng tế, phép thuật...

Chính sách phát triển văn hóa cho miền núi trong thời gian tới dứt khoát phải định hình hướng đi cho từng dân tộc một cách cụ thể. Nếu chính sách nào chỉ muốn xây dựng văn hóa miền núi giống hệt như miền xuôi thì tức là vô hình chung là đã thủ tiêu văn hóa các dân tộc thiểu số. Quan điểm đem ánh sáng văn hóa miền xuôi lên miền núi chính là đã giết hại văn hóa dân tộc thiểu số.

 

2. Kể từ khi đất nước đổi mới năm 1986, văn hóa các dân tộc thiểu số đã phục hồi trở lại với tốc độ rất nhanh. Sự phục hồi trở về nguyên gốc phù hợp với quy luật của tự nhiên. Trước kia, các hình thức cúng bái dân gian như Tảo, Mo, Then… bị ngăn cấm, khi có luồng không khí đổi mới thổi vào thì mọi thứ đều bừng lên như hoa xuân nở rộ rồi dần đi vào ổn định. Văn hóa ổn định nên kinh tế xã hội ổn định theo, cuộc sống của người dân dễ chịu hơn. Người dân tộc thiểu số ngày càng yêu văn hoá của mình và có ý thức giữ gìn bảo vệ hơn. Tuy vậy, có không ít các hình thức tín ngưỡng thờ cúng dân gian đã trở nên dị dạng, méo mó. Do những người quản lý văn hóa không nhìn nhận thấy vấn đề này, nên đã không có sự định hướng của các cơ quan quản lý. Mộ số hình thức cúng bái phát triển tràn lan, những hành vi phá họai công trình văn hóa không được ngăn chặn. Tượng núi nàng Tô Thị ở Lạng Sơn là một giá trị văn hóa tự nhiên rất đặc sắc đã bị đập lấy đá nung vôi để xây nhà. Tất cả những sự tàn phá văn hóa không có ai trong các cấp chính quyền quan tâm…

Qua những lần về quê tham gia các lễ hội, dự các đám cưới, viếng các đám ma ở các bản, tôi thấy nếu cứ để văn hóa các dân tộc thiểu số phát triển không có sự định hướng như hiện nay chắc chắn sẽ dẫn đến nguy hại cho xã hội. Những vấn đề thuộc về tâm linh, tín ngưỡng đã bị những người hành nghề mê tín dị đoan lợi dụng. Người có trình độ văn hóa cao lẫn người trình độ văn hoá thấp đều bị cuốn vào rất nhiều hoạt động tâm linh. Các thầy cúng đã bói ra rất nhiều thứ ma để bắt người dân phải mổ trâu bò, lợn gà cúng bái… Đám ma cũng bị làm giá cát-xê từ một chục triệu đến vài chục triệu đồng. Có không ít gia đình, con cái đã phải bán ruộng lấy tiền trả thầy cúng để thầy đến làm ma cho cha mẹ. Đây là những điều xưa nay chưa từng có trong xã hội miền núi, cần phải cảnh báo cho trong toàn xã hội. Tuy các sự việc bức xúc như thế diễn ra hàng ngày nhưng các cấp chính quyền và ngành văn hoá vẫn chưa có văn bản mang tính pháp lý để điều chỉnh. Nếu để tình trạng này tiếp diễn thì sẽ gây ra rất nhiều điều bất lợi cho người dân và làm vẩn đục không gian văn hóa vốn rất trong lành của vùng cao.

 Một cách nhìn về văn hóa dân tộc thiểu số hiện nay - ảnh 1
Lễ hội mừng mùa mới của người M'Nông ở Đăk Lăk (ảnh: danviet.vn)


3. Trong tình hình hội nhập với trong nước và thế giới, việc biết nhiều thứ tiếng ngoài tiếng mẹ đẻ là cần thiết. Ai cũng có quyền sử dụng ngôn ngữ dân tộc khác, nếu ngôn ngữ đó cần thiết cho sự thành đạt. Nhưng ở nước ta hiện nay có không ít các bộ phận người dân tộc thiểu số chỉ muốn sử dụng tiếng Việt, bỏ tiếng dân tộc mình. Hiện tại có ngôn ngữ của một số dân tộc thiểu số đã có dấu hiệu suy thoái. Một số gia đình ở vùng cao dạy con cái từ khi sinh ra nói tiếng phổ thông, không nói tiếng mẹ đẻ. Đấy là điều rất kỳ cục, nguy hiểm cho tương lai của đứa bé và cho cả dân tộc đó. Con cái của họ lớn lên sẽ nói một thứ ngôn ngữ hổ lốn tạp pí lù, tiếng Việt và tiếng dân tộc lẫn lộn, tất yếu dẫn đến sự suy giảm trí tuệ của thế hệ sau. Bởi vì, đối với con người đòi hỏi cần phải nắm vững đầy đủ ngôn ngữ cụ thể để tư duy.

Có một thực tại là hiện nay người miền núi nói tiếng phổ thông thường hay lẫn lộn về quy tắc, còn khi họ nói tiếng dân tộc thì đế bằng tiếng phổ thông. Đây là nguyên nhân dẫn đến tư duy không mạch lạc, hành văn viết ra sẽ lủng củng sai ngữ pháp. Nhưng nếu con cái họ được dạy từ bé sử dụng ngôn ngữ dân tộc, khi lớn lên sẽ học tiếng phổ thông, chắc chắn khả năng sử dụng cả hai ngôn ngữ sẽ tốt như nhau. Ngôn ngữ của mỗi dân tộc không phải đơn giản chỉ là phương tiện để thông tin mà ngôn ngữ còn hàm chứa trong đó rất nhiều các yếu tố huyền bí của văn hóa của riêng từng dân tộc. Ngôn ngữ chỉ linh thiêng khi nó là tiếng mẹ đẻ. Tất cả các pháp thuật, bùa chú, lời sấm, lời nguyền… chỉ thiêng với người nói bằng tiếng mẹ đẻ. Liên hợp quốc đã khuyến cáo các dân tộc thiểu số trên thế giới cần phải dạy cho con trẻ nắm chắc ngôn ngữ của dân tôc mình rồi mới học các ngôn ngữ khác.

 

4. Việc sân khấu hóa các lễ hội như hiện nay đã làm mất đi phần nhiều các giá trị nhân bản của truyền thống. Nguồn gốc của các lễ hội là bắt đầu từ lao động sản xuất, mô phỏng và cách điệu hóa các động tác lao động sản xuất để cho cuộc sống tinh thần được thăng hoa. Sân khấu hóa lễ hội chính là đã làm ngược lại quy luật của tự nhiên, tước đi tính đánh thức con người bản thể là đặc điểm quan trọng của lễ hội.

Thông thường lễ hội ở mỗi nơi đều có tính chất và ý nghĩa khác nhau, một làng bản muốn thể hiện được sự thăng hoa của làng bản mình đều phải thể hiện qua lễ hội. Đối với một lễ hội truyền thống, quan trọng nhất là giữ gìn sự độc đáo riêng. Nếu lễ hội bị sân khấu hóa thì sẽ mất đi sự độc đáo đó. Phải có lễ hội độc đáo thì khách du lịch và người các nơi mới đến xem. Thử hỏi, nếu nơi nào cũng tổ chức một kiểu lễ hội như nhau thì ai cần đến sự đơn điệu tẻ nhạt đó. Cũng trong các lễ hội, người ta thường tổ chức các cuộc thi tài năng, việc trao giải thưởng bằng tiền thay cho hiện vật như trước đây cũng làm mất đi một phần giá trị của lễ hội. Thông thường mỗi lễ hội, bao giờ cũng có một loại phần thưởng gắn với nguồn gốc của lễ hội đó, có thể phần thưởng không có giá trị cao về mặt kinh tế nhưng có giá trị tinh thần rất lớn.

Việc sân khấu hóa lễ hội từ trung ương đến các địa phương để truyền hình trực tiếp như hiện nay sẽ góp phần làm méo mó và mất đi tính nhân bản của lễ hội. Nhiều lễ hội tổ chức ở miền núi rồi truyền hình lên vệ tinh nhưng không thấy sự đặc của văn hoá miền núi vùng cao, người đạo diễn đã bỏ qua văn hoá dân tộc thiểu số.

 

5. Văn hóa dù là văn hóa vật chất hay văn hóa tinh thần cũng đều do con người sáng tạo ra mới có. Quá trình sáng tạo có thể là trong thời gian rất dài, gắn với sự lịch sử hình thành mỗi dân tộc. Văn hóa của các dân tộc thiểu số dù ở vùng núi Việt Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ, đồng bằng Nam Bộ hoặc ở đâu cũng vậy, phải có chính sách đúng đắn và phù hợp. Trước đây bài trừ tận gốc các hình thức cúng bái Tảo, Mo, Then… dẫn đến cấm hát then, cấm gảy đàn tính, đốt hết sách cúng bái. Các chính sách cực đoan như vậy bây giờ đã hết thời. Hiện tại, văn hóa các dân tộc thiểu số đang rất cần sự định hướng để phát triển lành mạnh và ngày càng phong phú.

Một bài hát của một tác giả miền xuôi có câu “Cô giáo hiền như con nai rừng…”. Cách ví von như vậy có thể đúng với người miền xuôi, nhưng hoàn toàn không đúng với người miền núi. Bởi người miền núi có thành ngữ: “Nghịch như hươu như nai”. Nếu đem cô giáo để ví với hươu nai thì chắc chắn học trò sẽ hiểu cô là người hư hỏng. Bởi vì hươu nai là loài thú rừng hay phá họai mùa màng, giẫm nát lúa ngô. Người miền núi sẽ không thể chấp nhận cô giáo “hiền như nai rừng”. Chúng ta cần phát huy sự độc đáo của văn hoá mỗi dân tộc nhưng cũng rất cần sự thông đạt lẫn nhau về văn hoá giữa các dân tộc để tránh làm văn hoá về miền núi mà ví von như bài hát này.

Trước đây cũng như hiện nay, nhà nước Việt Nam luôn nhất quán chủ trương xây dựng Việt Nam là một quốc gia có nền văn hóa đa sắc tộc. Để thực hiện thành công điều đó rất cần có sự trao đổi để hiểu biết lẫn nhau giữa người soạn thảo chính sách với cộng đồng các sắc dân thiểu số.          

(Văn nghệ)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác