Kí ức nhân loại qua con mắt nhà văn


(Toquoc)- Tiểu thuyết lịch sử tự bản thân tên gọi đã thể hiện rõ đặc trưng thể loại, phản ánh tính chất kép: pha trộn giữa sáng tạo, hư cấu vốn là đặc tính cố hữu của tiểu thuyết với những sử liệu - một thứ kí ức đã được ghi chép lại của nhân loại.

Thuộc về quá khứ nên lịch sử có hai đặc tính: vừa là cái đã hoàn kết, đóng băng trong những giá trị đã được cộng đồng qua nhiều thế hệ chấp thuận, lại vừa “mù mờ”, khó minh định.

Lí do khiến lịch sử trở nên “mù mờ”, bất khả kiểm trong nhận thức của hậu thế là bởi xét đến cùng tất cả các pho sử, công trình sử học do các nhà chép sử chấp bút đều bị chi phối, chỉ đạo bởi một thể chế, một thế lực chính trị nhất định hay chí ít cũng là thiên kiến chủ quan của cá nhân anh ta. Trong tình thế có tính thời đại đó thì lịch sử chịu một thứ bị quyền uy thao túng, là trò chơi của một số ít người. Nguyên tắc sử quan phải tôn trọng sự thật luôn luôn bị phá vỡ, bị vi phạm. Do đó yêu cầu các ghi chép lịch sử phải đạt đến độ “chân không” - chân thực, khách quan tuyệt đối là một điều không tưởng. Vì thế, theo tôi tinh thần hoài nghi lịch sử là một trạng thái có thật. Những gì được ghi chép lại và truyền đến tận ngày nay mới chỉ là “phần nổi” của tảng băng, còn bao nhiêu phần trăm của sự thật bị khuất lấp? Đặc điểm còn bỏ ngỏ này đã trao cho nhà văn cơ hội tuyệt vời để hư cấu, phục dựng, tái tạo lịch sử. Nếu như trong các ghi chép lịch sử, những nhân vật lịch sử chỉ được biết đến trong vài dòng ngắn ngủi ghi lại sự tích, công trạng; những sự kiện lịch sử chỉ được biết đến với những cột mốc ghi lại ngày tháng và những thất bại hay chiến công thì tiểu thuyết lịch sử giúp kéo gần khoảng cách giữa quá khứ và hiện tại, đề lớp hậu thế “nhận mặt cha ông của mình”, để thấy tiền nhân cũng gần gũi biết bao trong những giá trị NGƯỜI phổ quát chứ không phải chỉ là những vĩ nhân mãi mãi ở trên bệ thờ để cháu con chiêm bái từ xa.

Tôi cho rằng hư cấu là một yếu tố không thể thiếu trong tiểu thuyết lịch sử. Không chỉ bởi đặc quyền của tiểu thuyết là hư cấu và tưởng tượng, mà còn bởi ở chính bản thân chất liệu lịch sử đã chứa đựng, khơi gợi những khả năng cho phép tác giả hư cấu và tưởng tượng.

Một tác phẩm tự sự (không chỉ là tiểu thuyết) viết về đề tài lịch sử phải thực sự chứa đựng các cứ liệu lịch sử, có nhân vật trung tâm là nhân vật có thực trong lịch sử, với những biến cố lịch sử được xác định phù hợp với không gian và thời gian. Cứ liệu lịch sử là hành trang mà nhà văn bắt buộc phải mang theo trên hành trình sáng tạo của mình. Nếu một tác phẩm chỉ dựng lên một bối cảnh lịch sử, một cái phông nền lịch sử như một không gian nghệ thuật mà không đề cập tới các sự kiện lịch sử, không có các nhân vật lịch sử có thực trong đó thì cũng chưa phải là một tác phẩm viết về đề tài lịch sử. Tôi đồng ý với ý kiến của tác giả Hà Quảng trong bài viết “Tiểu thuyết lịch sử có cần “nhân vật lịch sử” hay không?” đăng trên trang Vanvnn. net khi tác giả phản bác ý kiến của giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh vì giáo sư đã xếp bộ ba tiểu thuyết “Quê người”, “Mười năm”, “Quê nhà” của Tô Hoài vào thể loại tiểu thuyết lịch sử.

Tôi cho rằng tiểu thuyết hóa lịch sử chính là quá trình tái tạo hóa kí ức, thổi hồn cho những sử liệu khô khan, đặt ra những giả thuyết có thể có trên nền những cái đã có, cái mà ai cũng biết, đã được cộng đồng chấp nhận. Mối quan hệ giữa sự thật và hư cấu là mối quan hệ bình đẳng, giữa cái cần có và cái phải có. Vì tiểu thuyết lịch sử là một “đứa con lai” nên ta không thể nhìn nhận, đánh giá nó một cách “thuần chủng”. Là tiểu thuyết đương nhiên nó phải được hư cấu. Là lịch sử đương nhiên nó phải mang dấu ấn hiện thực, phải chịu sự quy định của hiện thực. Mục đích cuối cùng của các công trình sử kí là phải tái hiện một cách chân thực những gì đã xảy ra trong quá khứ để chỉ ra tiến trình vận động và những quy luật của lịch sử. Nhưng mục đích cuối cùng của tiểu thuyết lịch sử lại là những hình tượng nghệ thuật, qua đó khái quát nên những quy luật lịch sử, những bài học nhân sinh một cách gián tiếp theo phương thức tiếp nhận đặc thù của nghệ thuật.

Hư cấu trong văn chương là không giới hạn, nhưng với tính chất kép đặc trưng thì giới hạn của hư cấu trong tiểu thuyết viết lịch sử chính là cái cốt lõi lịch sử mà nhà văn sử dụng.

Nếu hư cấu lấn át sự thật, bóp méo sự thật, xuyên tạc sự thật, gây hiểu lầm, hiểu sai cho độc giả về lịch sử thì quả thực rất nguy hại.

Những nhận định về lịch sử nói trên là lịch sử tính theo đơn vị thế kỉ, là những câu chuyện của hàng trăm, thậm chí là cả ngàn năm về trước. Bên cạnh nó vẫn còn một dòng chảy khác đó là lịch sử đương đại - lịch sử của ngày hôm qua và chính bản thân tác giả là một chứng nhân, trực tiếp trải qua những biến cố, dâu bể của thời đại. Những tiểu thuyết lấy lịch sử đương đại là chất liệu cũng không thể thoát khỏi những quy chuẩn về đặc trưng thể loại của tiểu thuyết lịch sử nói chung, có khác chăng là ở chỗ hành trình sáng tạo của nhà văn sẽ đỡ nhọc nhằn hơn. Lịch sử với họ là cái mới xảy ra ngày hôm qua chứ không phải là cái đã chìm vào quá khứ với độ sâu hàng thế kỉ.

Trong các truyện lịch sử của mình, nhà văn cố gắng sử dụng đa dạng các bút pháp, vận dụng nhiều kĩ thuật viết truyện hiện đại, gia tăng yếu tố tưởng tượng hư cấu và dựa vào các điểm tựa lịch sử, một sợi dây nối kết với quá khứ, tôn trọng quá khứ. Giống như con diều có bay xa bay cao đến đâu thì vẫn có mối liên hệ với mặt đất để không bay mất vào cõi vô tăm tích.

Mục đích của nhà văn khi sử dụng các yếu tố hư cấu trong các sáng tác về đề tài lịch sử không phải là để cung cấp cho người đọc một cái nhìn khác về lịch sử mà là nhằm gia tăng chiều sâu cho cái nhìn đó. Người đọc sẽ thấy một bản diện tinh thần đầy sống động đằng sau những cái tên đã bị đóng băng bởi thời gian, bị cố định trong những những nhận định đã hóa thành chân lí của người đời. Tôi muốn hướng tới một mục đích gần gũi và thiết thực là nắm bắt, thấu hiểu được những suy tư, trăn trở từng diễn ra trong tâm thức cha ông. Lấy nay để hiểu xưa và ngược lại. Tôi cho rằng “giải thiêng” nhân vật lịch sử không có nghĩa là hạ bệ, tầm thường hóa họ mà để kéo họ lại gần với hậu thế hơn nữa.

Tuy nhiên, bên cạnh việc “con người hóa” các nhân vật lịch sử thì vẫn rất cần có một khoảng cách tâm linh để chúng ta thành kính, chiêm bái, ngưỡng vọng, tự hào về truyền thống của dân tộc.

Lịch sử là cái đã xảy ra, không ai có thể thay đổi được nhưng nhà văn có thể làm cho lịch sử sống động hơn, gần gũi hơn. “Kí ức của nhân loại” qua ngòi bút nhà văn vì thế mà hấp dẫn hơn, tươi mới hơn. Liệu như thế đã xác đáng chưa?

Đông Bắc

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác