Đôi dòng về thơ viết về biển đảo

 

(Toquoc)- Hẳn là, để hiểu hết kí ức của một dân tộc thì không thể dừng lại ở những trang sử đơn thuần mà phải lắng lòng nghe những thanh âm của nhạc.

Nhưng, để tìm đến sự đằm sâu, phải lặn lội tìm trong khúc thức của thi ca dân tộc với loại hình nghệ thuật tưởng như bóng vía, đỏng đánh ấy lại lưu giữ tốt nhất thứ bản mệnh ấy là tình yêu. Yêu những gì là hiển nhiên là tự thuở cha ông mình. Kể từ khi Lí Thường Kiệt viết câu thơ rạch đôi gầm trời cũng là khi thi ca nước Nam hình thành nguồn cảm hứng về cương vực đất nước cứ cồn cào như lớp lớp sóng không ngừng nghỉ. Con sóng ấy đâu chỉ từ đền Trương Hống, Trương Hát dội vào lòng chiến binh Đại Việt mà còn vọng mãi vào đá núi thành vọng phu, dội vào lòng Điện Biên bằng "năm mươi sáu ngày đêm khoét núi ngủ hầm", thăng hoa thành Điện Biên Phủ trên không. Nhưng, con sóng ấy còn là một khát vọng hướng về biển đảo luôn ngự trị trong tiềm thức: Thương đất nước trên ba ngàn hòn đảo/ Suốt ngàn năm bóng giặc vẫn chập chờn. (Nguyễn Việt Chiến)

Đất nước hình chữ S đã sinh thành trên cái thế tựa lưng vào núi và ôm lấy biển để hóa rồng. Biển là người mẹ để ngư dân, diêm dân dọc miền diên hải bú mởm, sinh sôi. Biển là kì vĩ Hạ Long, Múi Né, Nha Trang… nhưng còn là những chấm đảo như hóa thân của những người dân biển quanh lăm đội bão, đạp sóng, góp công tạo nên bản sắc của đất nước. Biết bao người phụ nữ đã hóa vọng phu trước biển, kiên gan đắp những ngôi mộ gió trong lòng mình nhưng vẫn tiễn con, tiễn cháu làm nên những đội hùng binh quyết giữ biển trời.

Từ thân phận lịch sử ấy, các nhà thơ đã nhận ra chân lí đất nước là tầm vóc của biển, là sinh mệnh của đảo. Nhớ khi người chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh, thân bị đầy ra đảo xa vẫn ngẩng cao đầu: "Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn" bởi đó vẫn là đất Việt, là biên cương nước Việt. Cho đến hôm nay con sóng đã vững vàng thành một âm hưởng vỗ về vào tâm thức Việt bằng một tình yêu biển đảo mạnh mẽ, quyết liệt. Yêu biển, cũng là khi cha ông ta biết bám biển, nương biển mà đánh giặc: Biển lùa gió bấc thổi băng băng/ Nhẹ kéo buồm thơ vượt bạch đằng/ Ngạc chặt, kình băm non lởm chởm/ Giáo chìm gươm gẫy bãi giăng giăng. (Bạch Đẳng hải khẩu- Nguyễn Trãi)

Cuốn sách “Phong ba trên đảo Hoàng Sa” phản ảnh khá đầy đủ về cuộc sống mưu sinh của ngư dân Quảng Ngãi

(Ảnh Internet)

Dẫu đứng từ lập trường nhân nghĩa, trọng hòa hiếu, không muốn nhắc nhiều đến chuyện binh đao đã qua nhưng qua những câu thơ của Nguyễn Trãi, ta vẫn thấy toát lên cái khí phách biển của dân tộc Việt. Khi đất nước yên bình biển chỉ là những bãi, những hòn diễm lệ, khi có bóng quân thù là "sóng hồng cuồn cuộn trôi về biển Đông" (Trương Hán Siêu) mà tỏ ngời khí phách. Thế mới hay những con sóng ấy đã lặn vào tâm hồn Việt thành từng nhịp đập trong huyết quản.

Đất nước mang hồn vía biển, có những lúc phong ba, có những khi bình lặng. Đã bấy nhiêu năm qua, những thế hệ cầm súng khi mái tóc còn xanh, giờ đã nhuốm màu sương gió thời gian. Biết bao nhiêu em bé cất tiếng khóc chào đời trong những ngày hòa bình đầu tiên, được may mắn sống dưới nền trời xanh và tiếng chim hót thanh bình. Thi ca bận bịu với những nỗi niềm của thế nhân đa sự, quyết liệt giành lấy những giá trị sống trong những lo toan mưu sinh đời thường. Bởi thế, đã có nhiều người nghĩ, và có lúc ngay cả chính chúng ta cũng nghĩ đến sự đứt đoạn của một dòng mạch thi hứng về đất nước, nguôi ngoai một khát vọng biển đảo. Nhưng kì thực, đất nước đẹp còn vì luôn phải vượt qua cái chênh chao mà giành lấy bình yên "Đất nước bốn ngìn năm trên sóng" (Đinh Vũ Hoàng Nguyên), người dân Việt đẹp vì luôn vượt qua thử thách mà đạt đến an nhiên. Biển đảo như hơn ba ngàn hồng cầu đỏ thắm màu cờ bởi luôn cảnh giác và sẵn sàng quyết tử để trường tồn. Bởi thế, những cảm xúc xưa, trước những thử thách của biển đảo hôm nay, lại dậy sóng trong những câu thơ của những nhà thơ hiện đại, giữa ánh sáng và minh triết của thời đại mới.

Chẳng biết từ bao giờ, đất nước của những người cha trẻ đã xuất hiện nguồn cảm hứng nói với con hay là khi các anh đang nói với tương lai, với khát vọng hòa bình như thế. Kể từ người cha Y Phương (Người đồng mình thương lắm con ơi) và giờ là những Đinh Vũ Hoàng Nguyên, Phạm Nguyễn Toan, Trần Nhật Minh.

Giữa lúc còn đang trên giường bệnh chống chọi với căn bệnh ung thư, kiệt cùng sinh- tử, trong lòng Đinh Vũ Hoàng Nguyên vẫn cồn lên con sóng từ những giọt máu, hơi thở như tinh chất cuộc đời: Khi hôm qua ôm con/ Có một phút giây, ba chợt xiết con vào lòng hơi mạnh/ Ba làm con đau!/ Bởi hôm qua/ Ba đọc câu chuyện về đồng bào mình - những huyết cầu Tổ quốc/ Máu lại tuôn…, xô dập, mảnh ván tàu…/ Con ơi/ Ba sẽ kể con nghe/ Câu chuyện những ngư dân/ Đang hóa thân thành hồng cầu/ để Trường Sa, Hoàng Sa/ Vẫn là thịt trong huyết hình Tổ quốc (Những huyết cầu Tổ quốc). 

Câu thơ anh viết trong thời khắc ấy nhưng không bị lụy như huyết lệ mà hừng hực một bầu nhiệt huyết với Tổ quốc. Khí phách không toát lên từ những đại ngôn tráng ngữ mà tựa như dáng cây tre Việt Nam với cánh cung hữu hình khiêm nhường mà gợi sức mạnh vô hình quật khởi. Đinh Vũ Hoàng Nguyên nhận ra đất nước là một sinh thể, mỗi vùng đất là một phần cơ thể và mỗi người dân là một huyết cầu. Thế nên khi một số phận đó mất mát, đau thương sẽ đánh thức của cả sinh thể dân tộc sục sôi lòng căm hờn. Khi anh nhận ra "Câu chuyện những ngư dân/ Đang hóa thân thành những hồng cầu" cũng là lúc anh bắt gặp quy luật muôn thuở "đất nước bốn nghìn năm trên sóng". Bàn tay mải siết chặt con vào lòng, siết chặt một "rạng rỡ một huyết cầu". Người cha ấy chỉ muốn con sẽ hiểu rằng "trong mỗi người Việt mình có mạch máu nối liền với biển". Bài học về đất nước, thay cho lời du đầu đời là lời tự vấn đằm sâu của chính anh, sau lông ngỗng trắng phau là huyết ngọc Mỵ Châu, bao bạch cầu cha ông đã mất để đất nước có thêm những hồng cầu thơ trẻ.

Trầm tĩnh lắng đọng những suy tư, quyết giữ lại phần mình những lo âu, Phạm Nguyễn Toan quyết nói với con về Tổ quốc bằng sự bình yên bất tử của một đất nước: Tối nay, khi xem ti vi/ Con hỏi cha: Tổ quốc là gì?/ Cha đã khóc và lòng như nghẹn lại/ Biết trả lời con làm sao cho phải. (…) Thôi, con hãy hiểu thế này:/ Tổ quốc là lời ru cho con ngủ ngoan/ Là cốc sữa cha để trên bàn/ Là chiếc ba lô con mang tới lớp…/ Con sẽ là một người yêu Tổ quốc/ Nếu biết làm cậu bé nghe lời À ơi!.../ Con hãy ngủ đi/ Để đêm nay cha thức/ Và tự hỏi mình xem: Tổ quốc là gì? (Tổ quốc là gì). Với mỗi thế hệ, Tổ quốc là một góc nhìn, một ý nghĩa. Nhưng với anh, Tổ quốc nhìn từ giấc ngủ của con mới thật ý nghĩa bởi đó là cốt tủy, là kết tinh của mọi giá trị sống. Thơ Phạm Nguyên Toan là một tiếng nói vọng vào tâm hồn người đọng gọi những cộng hưởng cảm xúc.

Trên mảnh đất kinh kì yên ả, Trần Nhật Minh đã khoác lên vai đứa con bé thơ của mình lá quốc kì đỏ thắm như một lời nhắn nhủ đầy xúc cảm. Với giọng điệu thơ nền nã mà quyết liệt, anh muốn thổi vào hồn con nhịp đập của con sóng yêu nước ấy: Con biết không mỗi trái tim đất Việt/ Đã đập cùng nhau/ Nhịp đập ngỡ quên rồi!/ Nhịp đau thương không có chân trời/ Khi cha khoác lên con/ Đỏ thắm một màu cờ/ Là khi thế hệ đã qua trao cho con nần nợ/ Cũng là lời cha nhắc con và mình nhớ/ Mỗi tấc đất, mảnh trời, thước biển thiêng liêng…/ Nhắc muôn đời khắc tâm trí không quên… (Thư cho con). Hẳn đó phải là món nợ núi sông, cái nghĩa của hòa bình mà ta phải trả (ai trả nghĩa đời mình bằng máu- Thanh Thảo). Nói với con như thế, mới thấy hết chiều sâu của tâm hồn dân tộc, bề dày của một nền văn hiến đã hun đúc qua bốn ngàn năm.

Với những nhà thơ đã sống qua những cuộc chiến tranh, con sóng lòng trong họ lại có một thanh âm khác dẫu vẫn cùng nhịp đập. Với các anh, Tổ quốc xác thực như từng địa danh để ta đặt điểm nhìn. Điều ấy trở thành một định ngữ cho danh xưng Tổ quốc: Tổ quốc nhìn từ biển; Tổ quốc ở Trường Sa; (Tổ quốc ở) đường chân trời… Nguyễn Việt Chiến đã viết: Khi hy sinh ở đảo đá Gạc Ma/ Họ đã lấy ngực mình làm lá chắn/ Để một lần Tổ quốc được sinh ra/ Máu của họ thấm vào lòng biển thẳm/ Cờ Tổ quốc phất lên trong mưa đạn/ Phút cuối cùng đảo đá hóa biên cương/ Họ đã lấy thân mình làm cột mốc (Tổ quốc ở Trường Sa). Từ nhận thức ấy, anh nhắn nhủ đất liền bằng nhân cách cao cả vì nước hi sinh của những linh hồn liệt sĩ trấn biển: Nếu mẹ gặp cánh chim về từ biển/ Con đấy mà, mẹ đã nhận ra chưa!. Cảm quan về thơ đã giúp anh tinh tế như thế hay chính lòng yêu nước đã "nhập" vào anh để hóa thân thành nhưng câu thơ cũng đáng bất tử với Trường Sa.

Dù sinh ra trong đất liền yên ả, nhưng khát khao được tận mắt một lần nhìn thấy biển đảo, Phạm Xuân Nguyên thật sự cảm động khi nhận ra đường chân trời nơi biên cương của nước và trời được xác lập bằng máu xương tử sĩ: Sừng sững đường chân trời/ Sáu mươi rư chiến sỹ hải quân hy sinh vì nước/ Máu các anh không thể nào tan được/ Giữa lớp lớp trùng khơi sóng vỗ bời bời/ Đường chân trời tôi đi từ những tiếng cười/ Những ánh mắt của trẻ thơ trên đảo/ Từ hàng cây bão táp, phong ba chịu nhiều gió bão/ Vẫn xanh hết màu xanh của đảo quê nhà/ (Đường chân trời). Đường chân trời ấy âu cũng là một vùng bất tận của những chiến công, những hi sinh thầm lặng. Tìm đến ranh giới của đất nước trên biển là lúc ta chạm vào những gì bình dị và kiên gan thần thánh giữa thử thách và hiểm nguy: Đường chân trời tôi đi từ những tiếng cười/ Những ánh mắt của trẻ thơ trên đảo. Để rồi anh nhận ra cái bến cuối cùng mà những mũi thuyền tự đất liền tìm ra với biển có thể chạm đến đó chính là những cột mốc sống, từ những người lính đã làm nên cái ấm áp, bình yên như đang giữa trốn quê nhà. Bằng những câu thơ ấy, Phạm Xuân Nguyên đã tự xác tạo nên một thứ sóng dội vào tâm, không ồn ào nhưng da diết.

Là người kinh qua những sóng gió cuộc đời, nhà thơ Hồng Thanh Quang với cái nhìn tinh tế đã cắt nghĩa về tình yêu tổ quốc bình dị mà minh triết: Vì đấy là Tổ quốc. Đó là một giang sơn được định danh bằng mồ hôi và máu của cha ông, là chủ quyền toàn vẹn dẫu chỉ đơn giản là một tiếng chim, một tia nắng bởi gần gũi mà thiêng liêng, đơn giản mà trí tuệ. Hồng Thanh Quang đã hướng đến biển đảo bằng những câu thơ mang tiết tấu của sóng, hồn vía của sóng. Câu thơ dập dồn như một dư ba bất tận, khôn nguôi. Ai đã và đang đương đầu với kẻ thù để giữ biển xin hãy vững tin vì thơ ca đã khắc ghi một trang sử ấy, ai đã từng nguôi quên một phần đất nước xin hãy khắc ghi. Xin mượn dư ba ấy để thay cho lời kết về những câu thơ dậy sóng khi hôm nay cả nước đang hướng về biển đảo:

Vì đấy là Tổ quốc

Đời này qua đời khác

Đâu có cần lí do

Một tình yêu âu lo

Một tình yêu lặng lẽ

Một tình yêu chiến sĩ

Cho đến lúc bạc đầu.

(Trích trường ca Những khúc hát đi tìm đồng đội).

Lâm Việt

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác