Đôi dòng về công việc sáng tác ở địa phương


(Toquoc)- Văn chương tồn tại những cách phân định thành những cặp quen thuộc, kiểu như: văn học trung tâm và ngoại vi; bác học và bình dân; hiện đại và truyền thống… ấy vậy mà với những người cầm bút, trước hiện thực đời sống và những mục tiêu sáng tạo khác nhau đang tồn tại sự khác biệt giữa những nhà văn đang viết nơi đô thị và những cây bút ở các địa phương mà chúng ta quen gọi là nhà văn tỉnh lẻ.

Thoạt nghe, hai chữ “tỉnh lẻ” ấy hẳn sẽ gây phản cảm với nhiều người bởi có gì đó khiến ta liên tưởng tới những “vĩ nhân tỉnh lẻ” (nhan đề một truyện ngắn của Dương Thu Hương) hay những chuyện tình tỉnh lẻ của các bài nhạc sến. Ở đây, người viết chỉ muốn nhấn mạnh đến không gian văn hóa, môi trường sống và bối cảnh xã hội của các vùng miền với những đặc trưng riêng không lẫn vào nhau và sự độc lập tự tại của những người cầm bút.

Sáng tác nghệ thuật (nhất là viết văn), nhìn ở phương diện hoạt động tinh thần là công việc hết sức âm thầm, bình dị cho dù nó mang ý nghĩa thiêng liêng và cao quý. Bởi lẽ, đến như chuyện nhà văn Nguyên Hồng chong đèn viết Cửa biển (tiểu thuyết 4 tập); Tô Hoài, Nam Cao thời còn cầm bút viết chung trên chiếc bàn bóng bàn ở Nghĩa Đô; Vũ Trọng Phụng viết trong căn gác chật hẹp phố Hàng Bạc… cũng chẳng có gì ồn ào như các chương trình giải trí cho dù sau này tiếng vang của nó có sức lan tỏa hơn rất nhiều. Sự đặc biệt ấy giúp người viết được chuyên tâm vào những gì mình thích, lắng nghe những rung cảm tâm hồn, những vẫy gọi từ tiềm thức, kí ức cộng đồng… những nếu không “độc thiện kì thân” cũng sẽ là sự dung túng cho những dễ dãi trong sáng tạo.

Mỗi cây bút trước khi ngồi vào bàn viết thường đã có sự bén duyên nhân định với một mảng hiện thực đó là chủ đề cụ thể. Hiện thực ấy trước khi là những chân trời xa xôi thì hãy là những “góc sân”, “khoảng trời”, “cây đa”, “bến nước”, “con đò”, “mái nhà sàn”, “bếp lửa”… ngay trước mắt đã ăn sâu vào kí ức, đã làm nên lề lối, bản sắc dân tộc mình. Và từ những chất liệu ấy, cộng thêm những giây phút thăng hoa kiểu cảm xúc để có được một tác phẩm có tiếng vang. Nhưng như thế mới là những yếu tố cần chứ chưa thể đủ để góp thành nội lực. Hiện thực thô nhám ấy dẫu có đặc sắc từ tên gọi đến đặc tính, có duyên cớ, tích truyện nhưng vẫn cần phải nhờ vào khả năng cấu trúc của người viết để tạo thành hình tượng nghệ thuật. Ví như, lên với miền núi Tây Bắc, dẫu không có nhiều thời gian nhưng Quang Dũng, Tô Hoài, Nguyễn Tuân và cả những Lương Cầm Giang, Nguyễn Việt Chiến, Thanh Thảo… đều đã thành công khi tạọ tác được một Tây Bắc của thơ, cấp cho những địa danh hoang sơ ấy một cuộc đời trong thi ca. Trong khi ấy, đọc rất nhiều sáng tác của các tác giả địa phương, ta vẫn thấy sự sượng sung trong lựa chọn câu chữ. Thậm chí, thất vọng hơn là sự vắng bóng những giá tị văn hóa vùng miền và thay vào đó là những nỗi niềm suy cảm đơn thuần của một tâm hồn bó hẹp. Điều thường thấy là khi đọc hàng chục tập thơ của các tác giả địa phương, dẫu tác giả có viết về nhiều đề tài, địa danh như hàng trăm chiếc rễ tỏa ra bốn phương thì vẫn là sự tìm tòi nông cạn, hời hợt và chẳng thấy ở đâu sự mới mẻ của lần sau so với lần trước. Sự nghèo nàn trong hành trang thơ ấy là gì nếu không bắt đầu bằng sự dễ dãi với sáng tác của nhau, tung hô nhau theo kiểu có đi, có lại.

Nhưng điều căn bản nhất phải là việc họ đang đánh mất chữ và nghèo chữ. Không khó để nhận ra, đọc các trang thơ đều thấy những thi ảnh ngầy ngà với ngực núi, men rượu, trăng suông… hay tệ hại hơn là dùng lại những chữ quá mòn, sao lại các nhà thơ lớn đến mức dễ dàng nhận ra nguồn của các phiên bản. Chả thế, khi thi phẩm Tổ quốc nhìn từ biển của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến đã thấy nhan nhản những bài na ná tập theo giọng điệu, hình hài thậm chí là sao ý cả nhan đề đặt cho đứa con tinh thần của mình. Trong khi, nhiều cây bút truyện ngắn chẳng màng đến sự vận động của thể loại, chú tâm vào tư duy truyện mà vẫn mê mải kể lể những cốt truyện dằng dặc sự kiện.

Nhưng, nói thế, không hẳn những người cầm bút đã thuần một màu xám xịt. Cũng ở những mảnh đất ấy, chúng ta vẫn có những trang văn để đời. Nhà thơ người dân tộc Thái Lò Vương Trung lặng lẽ đến khi tạ thế bằng những thi phẩm bằng tiếng nói của dân tộc mình. Rồi khi nhà thơ Y Phương mang cả một đời thơ về với đất kinh kì sau những năm tháng với sương gió Cao Bằng, Thanh Thảo với Quảng Ngãi, Nguyễn Ngọc Tư với Cà Mau… Họ đâu chỉ là những người không lạc đường dù ít có những dịp đàm đạo văn chương mà còn là những người mở ra những hướng sáng tạo mới mẻ. Thế mới hay, viết văn ở các địa phương cũng luôn là thách thức nhưng lại chứa đầy những cơ hội thành công.

Việt Phương

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác