Đôi điều về từ "ngông" trong thơ Việt

 

(Toquoc)- Phác thảo về cái ngông

Khi người ta phác hoạ một Nguyễn Tuân thì phải là cái mũi khoằm, Xuân Diệu là mái tóc bồng bềnh, Kim Lân là cái má hóp thì nhìn vào bức vẽ ấy ta mới gọi ra được Vang bóng một thời, Biển, hay Vợ nhặt... vậy còn anh chàng Đồng Đức Bốn, hay nhà thơ Nguyễn Duy… thì phải vẽ thế nào (?).

Không ai phủ nhận một điều rằng những nhà văn có tài dù công khai bộc lộ hay ngấm ngầm tuyên ngôn đều có một chút tự hào và vững tin ở ngòi bút của mình. Bởi nếu muốn đi xa được anh phải biết mình có lực thật sự hay không và tin ở tay lái của mình như người thuỷ thủ ra khơi. Cái ngông của nhà văn nào cuối cùng cũng được họ phát biểu thành tuyên ngôn. Nguyễn Công Trứ là: Kiếp sau xin chớ làm người/ Làm cây thông đứng giữa trời mà reo. Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu: Bởi ông hay quá, ông không đỗ/ Không đỗ, ông càng tốt bộ ngông. Dù kẻ thế này, người thế khác thì suy cho cùng họ đều là vì "sinh bất phùng thời" và muốn tự bộc lộ cái tư chất của mình. Dù đôi lúc họ có hơi ngậm ngùi về thân phận của mình nhưng vẫn là cái ngông của bậc đại nhân. Bởi thế dù có nhập vào "cây thông đứng giữa trời mà reo" - một biến thể của người quân tử, hay cách nói ngạo nghễ của Tản Đà thì đều là tự mình nói lên mình. Trong khi đó ở Đồng Đức Bốn, cái chất ngông của ông đã làm dư luận xôn xao từ lâu nhưng để nắm bắt thì không hề đơn giản. Rất nhiều người đã lầm cái ngông ấy với cái "tự ái vặt" trong thơ ông. Cái ngông cũng là một dung hoà đối cực hưng phấn và ức chế của tâm lý nhưng sang trọng và đàng hoàng hơn nhiều. Đã có lần "suýt nữa" ông nói về cái ngông ấy: Hiểu tôi là ngọn núi cao/ Thương tôi có một ngôi sao cuối trời. Rất may đó chỉ là hiểu và thương chứ không phải là hiểu và khen hay nể sợ, đáng gờm gì đó... thì chúng ta lại có thêm một sự xoàng xĩnh nữa rồi. Một con người luôn ám ảnh về cái tôi mồ côi của mình như thế bao giờ cũng thể hiện rất rất kín đáo và tinh tế trong sự phát ngôn của mình. Thiết nghĩ người thơ ồn ào mà sâu lắng ấy không phát biểu thô thiển như thế. Kẻ lĩnh hội được lục bát không thể là phường phàm phu, tục tử được. Đó phải là: Người đời không hái được ta/ Thì em đừng mộng ta là tình nhân. Kẻ đó phải là ai để có thể lọt cả "lưới đời" bủa vây và lưới tình mơn trớn (ải mỹ nhân). Hoặc ta lại thấy bóng dáng ấy trong bến bờ thơ mộng: thảo dân. "Xử" và "tàng" thực chất vẫn là một dạng tồn tại đặc biệt của cái tôi hành đạo. Kể đến cả bậc tiền nhân Đào Tiềm về ở ẩn từ rất sớm thì vẫn tạo ra cả một hệ thống biểu tượng để soi chiếu cho phép hành xử của các nhà Nho sau này từ xuân, lan, thu, cúc. Chỉ có các nhà thơ lục bát hiện đại này thì về với dân mới là dân thật. Bởi: dân là toàn bích, dân là toàn tri chăng. Bởi thế mới có được đôi mắt của thảo dân, đôi mắt có con ngươi vàng nhìn cái đẹp huyền diệu mà bản mộc trong khi mà người ta vẫn mơ mơ hồ hồ. Thi nhân truyền thống ngông ngạo muốn người đời nhìn ra mình, còn họ lại nhìn ra cuộc đời: Khói thuốc lá đường bên trời/ Rượu trong cất ở mắt người sang nhau - (Đồng Đức Bốn), Xin nghe anh nói cực nghiêm/ Linh hồn cát bụi ở miền trong veo - (Nguyễn Duy).

Nếu như cái ngông của các bậc tiền nhân là hiện thân của con người quân tử được ẩn, được soi chiếu trong những biểu tượng của Nho giáo thì cái ngông của các nhà thơ này phải tìm cho mình một thứ gì đó để mà cư ngụ, để tránh tình trạng nói nhiều để không trở thành dở ông, dở thằng ngay giữa thi đàn. Vậy là họ phải tìm cho mình những biểu tượng riêng: Nguyễn Duy nhận là thảo dân (Chu Văn Sơn) nhưng là thảo dân hiện đại. Thảo dân tài năng và nhạy cảm với thế sự. Phạm Công Trứ là cỏ may nhưng là cỏ may mọc trên hoa gấm thị thành, không đến nỗi thành tinh nhưng lắng nghe được mọi chuyện. Còn với Bốn, ông lúng túng để tìm một hoá thân nhưng cuối cùng thì phải là lục bát, nhưng đó là một lục bát hiện đại. Lục bát có mắt thần nhìn ra lẽ đời, lắng tai nghe thấu chuyện đời. Lâu nay văn đàn đã vắng cái ngất ngưởng của thi nhân, nhiều người ngỡ là không còn cái ngông nữa hoặc thi thoảng nghe thấy vài tiếng hô cho đó là cái ngông không bằng ngày trước. Thế nhưng họ đã quên rằng cái "bụi" của Duy, cái "gai" của Bốn, cái dằm dặm của "cỏ may" mọc trên nhung lụa của Trứ chẳng phải là cái ngông mới sao.

Thi nhân xưa lấy thơ viết về cái ngông, thi nhân nay ngông vì có thơ, có thơ là có báu vật, có thơ để nhận diện cuộc đời. Có thơ để được nói ngọng, để hiểu thấu lẽ cuộc đời. Phải chăng họ tồn tại bằng chính lương tri của mình khi cái lương tri ấy và thơ nhập vào một. Chứ họ không còn coi thơ là phương tiện nữa. Cái ngông đã nhập vào cái hoá thân của mình. Có thể diễn giải cái ngông ấy thế này: Mình ngông mình được làm mình. Riêng với Bốn, tôi tồn tại bởi tôi là lục bát. Cái ngông của Bốn không phải từ quan phương tìm đến dân gian để tạo ra một phương thức tồn tại đặc biệt mà ông và các nhà thơ cùng thời từ dân gian chiếm lĩnh độc giả bằng cái vạn đại, vô danh nhưng vô giá của mình. Đứng từ cỏ dại, bụi bặm để luận ra, nhìn ra thế giới: Địa cầu mải miết suy tư/ cho râu tóc cỏ rối bù trong đêm (Nguyễn Duy). Từ dân dã họ tiến vào chiếm lĩnh trung tâm, tạo ra chất dân gian hiện đại thông qua việc dùng hình ảnh, tích dân gian, từ ngữ, cách ví von làm nghiêm trọng hoá một số vấn đề nhưng vẫn giữ được vẻ bông phèng, họ luôn nhắc nhở với chúng ta rằng họ vẫn đang phát ngôn những lời ấy từ cửa miệng bông phèng của mình. Với Nguyễn Duy đó là những: ngọng nghẹo, tỉnh tình tinh, xỉnh xình xinh... để nhắc lại tư thế của mình: Ngứa nghề hát ngọng nghẹo thôi; Đàn kêu tinh tỉnh tình tinh (Xẩm ngọng); Phàm trần bớt chút lung linh/ các em bớt xỉnh xình xinh mấy phần (Kiêng); Anh nhét tấm huân chương vào hộc tủ/ dửng dừng dưng với mọi vui mừng (Từng trải). Với Phạm Công Trứ: là cái tôi cù lần và em đa điệu xen vào những nét "nghiêm trọng ấy". Người ta "duy vật" khắp nơi/ Em thì "duy lý", còn tôi "duy tình" (Duy). Còn với Đồng Đức Bốn, ông không có được cái cười ngạo nghễ mà vẫn làm như không có gì xẩy ra theo kiểu tỉnh tình tinh như hai tác giả kia. Ông không phải hình ảnh của thi nhân ôm cây đàn mà là cây đàn làm nên thi nhân. Nếu có những "trầm trọng hoá" cũng được ông giải thích bằng một lối đi quen thuộc theo kiểu ca dao, thành ngữ: Chuông chùa tiếng đục tiếng trong/ Thảo nào cát bụi long đong thân cò. Với Bốn, ông không dùng thuật ngữ hiện đại để nêu ra các luận điểm về sự ngang trái, eo le của cuộc đời ở phần đề (câu 6) và đồng thời lại thuyết (ở câu 8) cũng bằng những cách thức quen thuộc theo kiểu như vậy: Trăm năm tưởng gỗ hoá trầm/ Nào ngờ lại đá lặng câm đứng chờ; Trời xanh mây cũng đầy rêu/ Trên hoa áo các vương triều mủn ra; Chân lý không là đường cong/ Mà sao cứ phải lội vòng thế kia; Muốn tìm đến với ban mai/ Phải qua những trốn đền đài hư vô... Nếu chúng ta bỏ qua những cụm từ cố định mang phong vị dân gian như: gỗ hoá trầm, lội vòng... tuy đã mang ý nghĩa hiện đại nhưng phần nào đã mòn và cũ thì những: tưởng, nào ngờ, cũng, mủn ra, muốn tìm, phải qua... là những từ ngữ gợi sự khẳng định chắc chắn và quyết liệt. Thơ Bốn không giầu chữ, ông không biết rộng và đi nhiều theo cái kiểu cái tâm thảo dân nhưng cái tầm nhiều chữ để nói hay và nói sắc về mọi thứ. Trong thơ ông chỉ là người "lẩy" lục bát cục mịch, ít nói nhưng luôn nhận rõ trắng - đen, trân - nguỵ. Chính điều ấy tạo nên một nghịch lý cho người đọc khi tiếp nhận đó là: Thấy thơ Bốn rất ít từ mới, rất mòn và cũ nhưng lại đầy ắp chất dân gian hiện đại. Cái ngông cũ là cái vỏ che đậy cái yếu đuối, cái ngông mới mượn cái vỏ nhẹ nhàng, mỏng mảnh, lông bông, lang bang thiếu qui chuẩn để đưa ra cái lập luận kiên định, chắc như đinh đóng cột của mình.

 

Điệu ghẹo với chất ngông

Chất ngông thể hiện bằng giọng điệu:  Với các nhà thơ giai đoạn trước, chất ngông thường được thể hiện thông qua hình tượng (Nguyễn Công Trứ qua hình tượng cây thông, bậc quân tử, đại nhân. Tản Đà qua hình tượng núi Tản, sông Đà, kẻ hầu văn nhà trời…). Với các nhà thơ lục bát mới chất ngông được thể hiện qua giọng diệu là chủ yếu: Cùng là là một kiếp thi nhân/ Kẻ men lục bát người trần tự do; Trên đò các cụ tụng kinh/ Chúng mình trẻ quá chúng mình “tụng” nhau (Phạm Công Trứ). Với Nguyễn Duy: Đừng chê anh khoái bụi đời/ bụi dân sinh đấy bụi người đấy em; Ai sinh ra thói tình tang/ Để ai hoá gió lang bang quên nhà. Với các nhà thơ trung đại, chất ngông ấy đa phần được thể hiện trong lục bát điệu ngâm và các tác giả sau này là lục bát điệu nói với những điệu than. Nhưng đến giai đoạn này, cùng với sự đổi mới thi pháp của văn học hiện đại (diễn ra từ đầu thế kỉ XX) chất ngông có thêm điệu ghẹo. Trong cuộc giao duyên chữ nghĩa ấy bản lĩnh người tình được thể hiện chất ngang tàng trong sự đắm đuối, lại vừa thể uyển chuyển, linh hoạt trong những thử thách của tình yêu: Biết rồi !... vai cứ kề vai/ Kệ cho mấp mé cả hai mạn xuồng… (Nguyễn Duy). Cũng với xu hướng ấy Đồng Đức Bốn dường như cũng tìm cho mình một cách thể hiện giọng điệu của mình một chất ngông được hoà quyện trong điệu ghẹo mới: Cánh hoa sắc một lưỡi dao/ Vì yêu tôi cứ cầm vào như không; Khổ mà tôi vẫn muốn yêu/ Đau mà tôi chẳng đặt điều cho ai; Trẻ thì đất động trời sôi/ Già thì mơn mởn cái hồi đương tơ; Nói gì thì kệ người ta/ Không em phố chẳng còn là phố đâu… Đôi khi còn thêm vào đó cả mầu sắc huyền thoại nữa: Nếu không trả được bằng tiền/ Tôi lấy trăng liềm làm bím tóc cho; Rút trăng buộc lại con đò/ Thu lời em hát chỉ cho riêng mình.

“Ngông” là một bản lĩnh cần có trong thơ, “ngông” trong sáng tạo chính là niềm tin ở nội lực, ở khả năng thấu thị, nhận diện sự vật. Bởi thế không quá lời khi nói thơ còn “ngông” tức là còn những điều lí thú để ta cảm nhận.

Phương Mai

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác