Để văn học địa phương dậy sóng


(Toquoc)- Có lần trong giờ giảng tôi đã đặt câu hỏi với sinh viên đại loại như: Các bạn có ấn tượng như thế nào đối với văn học của Quảng Ngãi, Huế, TP Hồ Chí Minh… thì các bạn trẻ đều lắc đầu. Ấy thế mà khi tôi nhắc đến Thanh Thảo, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Duy hay Nguyễn Quang Sáng (những tác giả trong trương trình SGK) thì tất cả đều ồ lên như thể vừa bị đánh lừa trước một bài toán đố của thày. Thế mới biết, văn học là thứ mà không ai dám tơ hào (dù chỉ trong ý nghĩ), nên trở thành thứ sôi động ở vùng trung tâm mà trống trải đến mức mơ hồ ở từng địa phương là vì thế. Người đọc biết đến văn học Việt Nam, hay là không muốn nhắc đến, không muốn đả động đến cái cuộc đời thường trú với mắm, muối, dưa, cà… của địa phương chăng?

 

Từ những cuộc gặp gỡ, đối thoại văn chương…

Vấn đề lại nằm ở chỗ, văn học địa phương đa phần đang đi đến chỗ hết sức… địa phương. Nghĩa là mỗi nơi gặp một khó khăn, một chuyện cắc cớ khó mà sẻ chia bởi đâu có “đồng bệnh” mà “tương lân” chứ. Đã vậy, thì không gì bằng thử một lần lặn lội xuống với “bờ xôi, ruộng mật” của những “ngực núi”, “rượu đắng’, “trăng ngồn ngộn trắng”… để thấy anh em văn nghệ đánh vật với chữ nghĩa như thế nào. Tất cả cũng chỉ mong một lần được thấy văn học địa phương thật sự dậy sóng, coi như đó là một điềm triệu may mắn cho tương lai văn học.

Đầu giờ sáng thì văn đàn đã khá đông đủ. Chủ tọa gọi là xin được bắt đầu nếu không muốn nói một thuật ngữ hơi xa với dân văn nghệ là nghị sự. Mỗi năm, những hội văn chương ấy chỉ có một đôi lần quần tụ đông đủ nhất các hội viên. Bởi thế, việc đầu tiên là ngồi ngắm lại thật kĩ tất cả đội hình những người cầm bút từ hình hài, diện mạo, phong thái… Điều rất dễ nhận ra là đội ngũ sáng tác ở địa phương rất phong phú. Tuy không được phân bố theo từng lớp đều đặn như trường viết văn nhưng cũng có đủ các thế hệ, nghề nghiệp, cá tính. Có những bạn trẻ mới vào đời văn hăm hở và e rè. Sự e ngại ấy bởi họ đã mắc sai lầm chết người trong sáng tạo là quyết sống bên cái bóng của những cây cao. Kinh nghiệm viết chỉ là một bài học chứ không thể là bài viết cho cuộc đời mình. Sự “cớm nắng” luôn ở bên tô vẽ, tấm tắc về sự nghiệp các bác, các cô ấy không thể giúp họ có một phong cách riêng được. Lắm bậc cao niên (chắc cũng là gạo cội) có vẻ chán viết. Chắc hẳn vì viết mãi, khơi dòng, mở đường mãi từng ấy tháng năm nhưng không thấy ai đi theo kế tục. Cũng có thể thấy cái gia sản chữ nghĩa của mình cũng hòm hòm, sách tự in, sách bạn biếu đã đầy tủ, giấy khen, giải thưởng đã chật bốn góc lều văn. Nhưng có khi, chỉ vì thấy chả còn cái đích nào để hướng đến, cũng chẳng hay văn chương là gì mà càng đi càng thấy mơ hồ. Các tiêu chí, trường phái mênh mông trong cái đầu vốn ưa kinh nghiệm, mẹo chữ hơn là quy luật đường hướng này… Ngoài ra, cũng còn phải kể đến những cây bút có tiềm lực nhưng vừa mới có thành tựu ban đầu thì đã phải nặng gánh với cái sứ mệnh làm trưởng chi hội hay ban này ban nọ. Ở địa phương, người có tài phát tiết sớm quá cũng khổ vì hội cần người uy tín để quy tụ anh em nghệ sĩ thay vì cho họ được thảnh thơi làm việc trọng đại là ngồi viết. Như thế thì còn đâu thời gian tự do để sáng tạo, còn đâu sự thư thái với cái tâm thế của kẻ không bị ai săm soi, không vướng bận để “đồng nhất mình vào chữ”.

Trong các buổi hạnh ngộ hiếm hỏi này, điều mong mỏi nhất là các ý kiến của từ chính những người tham dự. Hội chứng “nước nổi bèo nổi” khi đôn các hội viên ở nhiều câu lạc bộ thơ phường, xóm, hưu trí lên đội ngũ sáng tác chuyên nghiệp đã không chỉ của riêng một hội nào. Thậm chí, có người còn tỏ ra hào hứng với việc các bạn thơ trong các hội ấy của mình được trở thành “hội viên trẻ” ở cái tuổi khó mà tìm được sự đột phá. Ở chiều ngược lại, không ít người cầm bút có tâm huyết cho rằng, cần có hướng bồi dưỡng các cây bút trẻ, ưu tiên cây bút trẻ trong giới học sinh, sinh viên chứ không thể trông mong sự trẻ trung, mới mẻ ở những người đã quá thủ cựu như thế. Câu chuyện hướng đi lên, dậy sóng cho văn chương địa phương cứ dở dang, ngổn ngang như vậy ngay từ những ngày đầu năm mới. Liệu đó có là đặc thù riêng, là sự bế tắc không lối thoát của nghệ thuật không?

Câu trả lời là không, khi văn chương Việt chưa phát triển đến mức thành một ngoại lệ ngoài quy luật phát triển chung, chưa thành một dị biệt thì vẫn còn đó những rắc rối do chính chúng ta tạo ra. Không có cái gọi là nhà văn trung ương, nhà văn sống trên một tầng bậc khác bởi ai cũng đang sống, đang viết và phản ánh từ một không gian văn hóa nhất định. Thậm chí việc được sống ở các địa phương, tiếp xúc với đời sống nông thôn, các lễ hội văn hóa, phong cảnh, con người… lại là một cái lợi hơn khi về chung chiêng cảnh nhà thuê, gác xép ở các thành phố lớn.

 

…đến những vấn đề giữa nói và viết

Để văn nghệ địa phương dậy sóng thì trước hết phải là sự trăn trở, làm mới những gì mà chúng ta thường không nghĩ là đã cũ. Vấn đề ở đây là ở cái tâm lí thích được nhàn của người viết, tâm lí dễ an phận, bằng lòng khi sống gần người đọc, người ngoại đạo văn chương hơn sống gần các văn tài. Lắm khi, sự lười nhác trong sáng tạo ấy đã đẩy người ta vào chỗ nghĩ quẩn khi chọn những lối đi mà những người cầm bút trước đó đã tránh bởi nó đâu phải là sáng tạo văn chương. Ví như, viết về miền núi, dân tộc mà cứ mãi so sánh tình yêu của anh/em như cây này, quả nọ; người dân quê tôi như thân cây này, cây kia, rồi liệt kê tất thảy các di tích, thắng cảnh, địa danh…thế là được gọi là thơ. Văn xuôi thì nhiều khi truyện ngắn cũng chỉ quẩn quanh kể lể một hướng theo quan niệm của người viết. Tác giả không có cái thói quen trao cho người đọc quyền phán xét bằng những tình huống độc đáo thì dù tình tiết có li kì đến mấy thì cũng thoảng qua như tờ quảng cáo đẹp.

Cũng vì thế mà nói và làm thường rất đỗi khác nhau. Thử hỏi đã có mấy hội văn nghệ địa phương mà người viết dám bút chiến với nhau, dám đơn độc mà nói thẳng là văn của anh, thơ của chị mới ở cái tầm tập viết nên không thể vào hội sáng tác, càng không thể ngồi ghế chấp hành để chấm giải, để trao thưởng cho người khác. Khi mà cái tiêu chí giá trị sáng tạo không được đề cập đến thì chẳng thể hi vọng gì ở sự nối dài của các nhiệm kì, các cuộc thi hay các hội viên mới.

Sau cùng, phải nói tới cái tâm lí rất mâu thuẫn của các cây bút địa phương đối với người cầm bút trẻ. Đương nhiên, ai cũng muốn một đời sống văn học luôn vận động, luôn căn dặn những bạn văn  đi sau mình là phải đổi mới và sáng tạo nhưng lại quên bụng bảo dạ là bản thân mình phải mới hơn, sáng tạo hơn để ít nhất đọc được những sáng tạo của người khác. Cái việc quên mất tự đổi mới mình ấy đã dẫn đến cái mâu thuẫn khi chúng ta thường kêu toáng lên về thơ tân hình thức, về những lối viết mới từ phía sau lưng các bạn văn trẻ. Thử hỏi, những người bạn văn đi trước sao không thử đổi mới mình trước để khuyên nhủ, góp ý thay vì những phê phán từ những phương pháp sáng tạo cũ kĩ phia sau những người viết văn trẻ ấy. Như thế có đáng để lớp trẻ nể phục không?

Có người cho rằng, những hội văn nghệ địa phương chỉ thực sự dậy sóng khi có các nhà văn lớn. Lí do đó thực tình chỉ là sự thoái thác trách nhiệm thúc đẩy không khí văn nghệ. Thử hỏi những Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Huy Thiệp…họ là ai trước đó nếu không phải là luôn có một ý thức sáng tạo nghiêm túc mà tự làm mình lớn lên bằng chính con chữ của mình. Có lẽ, chỉ khi mỗi người cầm bút dám dũng cảm từ bỏ những theo quen cũ, lục lọi, tìm kiếm một cách thức viết riêng cho mình thì văn chương mới thực sự vận động, dậy sóng ngay từ các hội văn nghệ địa phương.

Bùi Việt

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác