Câu chuyện ngành y hay câu chuyện giáo dục?

(Toquoc)- Mấy năm gần đây trong các kỳ thi tuyển sinh đại học, môn văn nói riêng và bộ môn khoa học xã hội nói riêng đang ngày càng lép vế so với các môn khoa học tự nhiên. Thế nhưng hiện nay, môn văn dường như đang được quan tâm khi tập thể tác giả nhóm Cánh buồm cho tái bản lần thứ 3 bộ sách tiểu học môn Văn và Tiếng Việt sau 5 năm hoạt động và Bộ trưởng Bộ Y tế khẳng định: “môn văn rất cần cho cán bộ ngành y”.

Cô Phan Thị Thanh Vân và học sinh HTK
Văn học trong nhà trường (ảnh Internet)


Môn văn đang được xã hội rất quan tâm?

Sau lời phát biểu của người đứng đầu ngành y tế, hàng loạt bài báo với hàng loạt ý kiến của các chuyên gia về sự cần thiết hay không cần thiết của môn văn đối với ngành y. Thậm chí còn có những ý kiến trái chiều nhau. Chắc hẳn người đang lo thon thót không ai khác là các thí sinh đang có ý định thi vào ngành y. Còn các nhà văn bỗng dưng lạc quan và hi vọng, một tương lai gần “văn học sẽ không mất giá”, sẽ trở thành môn học quan trọng, đến như ngành y, toàn những thí sinh đi đầu vào với điểm số chót vót còn nín thở, hồi hộp đến tận ngày công bố điểm chuẩn mới biết mình đỗ hay trượt mà còn đứng trước ngưỡng cửa phải xét đầu vào bằng môn văn nữa là.

Không phải ngẫu nhiên mà văn học cùng với toán học được chọn là những môn học quan trọng và bắt buộc ở mọi cấp học, xuất hiện trong các kỳ thi.

Có rất nhiều ý kiến và dẫn chứng được đưa ra khá thú vị, như ý kiến của PGS.TS Đoàn Lê Giang (Trường Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh): “Các bác sĩ cần đối xử với bệnh nhân như là một thân phận, một con người, chứ không phải con bệnh hay con mồi”… rồi ngay cả nền giáo dục một số quốc gia phát triển trên thế giới khi tuyển chọn ngàng y cũng lựa chọn thêm sinh viên các ngành xã hội, trong đó có văn học.

Trong cái biển thông tin đó, chúng ta bỗng thấy hoang mang.

Nhưng ngẫm kỹ  hơn, lại thấy các ý kiến đưa ra không chỉ thấy đúng với ngành y mà dường như môn văn còn cần thiết cho cả những ngành nghề khác. Thực tế, khi đã vào đến bậc đại học, tức là các sinh viên đều phải trải qua 12 năm học phổ thông và đều có môn văn song hành. Và lựa chọn trường đại học tức là lựa chọn học một ngành nghề để khi tốt nghiệp ngành nghề ấy được ứng dụng vào thực tế cuộc sống và nuôi sống bản thân. Việc sinh viên đã tốt nghiệp, thậm chí làm cán bộ mà ăn nói, diễn đạt văn bản giấy tờ rất dễ “đứt mạch máu não” là sự bộc lộ những lỗ hổng từ lý thuyết. Lỗ hổng này là do nhiều nguyên nhân; chủ quan - bản thân, khách quan - giáo viên, chương trình học của sách giáo khoa… Và nếu thực sự đã là lỗ hổng môn văn từ phổ thông thì chả cứ ngành y mới có tình trạng như dư luận đã và đang bàn thảo, có khi các ngành nghề khác cũng tương tự. Vấn đề chỉ là, ngành y trực tiếp đến sức khoẻ và sinh mạng của con người nên xã hội dễ nhìn nhận ra. Ngành nào chả cần công văn giấy tờ gửi trình các cấp, các nơi, ngành nào chả cần đến sự cảm thông với người dân, người lãnh đạo nào chả cần diễn đạt trôi chảy vấn đề cần trình bày trước đám đông một cách ngắn gọn, dễ hiểu… Bởi suy cho cùng, văn học là nhân học.

Và nói như vậy không có nghĩa là lại thêm một đề xuất tất cả các ngành nghề phải xét tuyển đầu vào với môn văn.

Vì vậy phải bình tĩnh nhìn lại cái gốc của vấn đề. Rằng 12 năm học phổ thông, học sinh đã được trang bị đầy đủ kiến thức nền tảng của văn học, ngữ pháp tiếng Việt để có thể sử dụng, diễn đạt thành thạo tiếng Việt trong mọi tình huống của đòi hỏi của công việc và cuộc sống chưa?. Cần hỗ trợ gì thêm cho chuyên ngành đang theo học?...

Nhà thơ Bùi Kim Anh từng kể câu chuyện, khi bà còn làm giáo viên đã nói cho học sinh biết rằng, học văn không chỉ là chuyện đối phó thi cử hay học sự lãng mạn viển vông mà rất có ích cho các em sau này khi đối mặt với công việc và cuộc sống. Tuy nhiên, những lời tâm huyết của cô không phải học trò nào cũng nghe. Có em, sau khi ra trường, thành đạt và gặp lại cô nói rằng, giờ em mới thấm thía lời cô dạy, giờ em mới thấy văn học cần thiết như thế nào trong công việc và cuộc sống.

Câu chuyện ngành y hay câu chuyện giáo dục?

Trở lại với câu nói của bà Bộ trưởng y tế, rõ ràng là bà phê phán việc học lệch của học sinh, chỉ chú trọng vào các môn học để dành cho thi tuyển đầu vào dẫn đến lơ là môn văn. Còn việc nói năng lưu loát, diễn đạt văn bản rõ ràng, đúng ngữ pháp là thuộc một phần của văn học -  ngữ pháp tiếng Việt.

Dư luận đồng tình với ý kiến của bà Bộ trưởng một phần vì đòi hỏi sự lưu loát, rõ ràng trong nói năng nhưng phần lớn là mong muốn sự đồng cảm giữa bác sĩ với bệnh nhân. Bởi vì sao, bởi vì chúng ta đã và đang chứng kiến quá nhiều mức độ “vô cảm” trong ngành y. Môn văn phải chăng như một cái phao mà người ta đang chới với và hi vọng nó sẽ cứu vớt sự vô cảm đó một cách hữu hiệu? Điều này chứng tỏ một điều, là ngành y đang rất được xã hội quan tâm nhưng cũng bất lực vì chưa thể tìm ra cách gì, thuốc gì đặc trị căn bệnh “vô cảm” từng ngày từng giờ xuất hiện trong đội ngũ y bác sĩ. Chứ thực chất môn văn dù có xứ mệnh cao cả, tuyệt vời, nhân văn đến mấy cũng không thể trở thành chiếc phao duy nhất và hữu hiệu để quét sạch “vô cảm”.

Đó phải là đạo đức nghề nghiệp, đạo đức ngành y.

Văn học có chăng, cũng chỉ một phần và phải kết cấu hợp lý.

Trong bộ sách Văn và Tiếng Việt của nhóm Cánh buồm, ngay từ cấp tiểu học đã phân chia khá rõ ràng. Học văn là học hướng tới nghệ thuật, năng lực nghệ thuật, còn học Tiếng Việt là hướng đến một bộ môn khoa học về cấu trúc từ vựng, ngữ pháp. Ở sách Văn lớp 1, học sinh đã được học cái gọi là Đồng cảm. Với mức độ đơn giản nhất của Đồng cảm là học sinh làm lại những hoàn cảnh đem đến cho nhà văn (hoặc người nghệ sĩ nói chung) một lòng đồng cảm với thân phận con người và trò chơi đóng vai sẽ là tiết học của các em. Sang đến sách Tiếng Việt lớp 5, sau bốn lớp học ngữ âm, từ vựng, cú pháp, văn bản là ứng dụng tổng hợp năng lực ngôn ngữ và các dạng hoạt động ngôn ngữ trong đời sống, bao gồm ngôn ngữ khoa học, ngôn ngữ hành chính, ngôn ngữ xã giao trong đời sống hàng ngày. Tiếc rằng, mô hình sách giáo khoa này dù nhóm Cánh buồm đầy tâm huyết và nỗ lực nhưng vẫn chưa được đem giảng dạy chính thức để chúng ta có cái nhìn so sánh, thực tế và kiểm nghiệm... Nhưng dù sao, cũng nên ghi nhận ít nhất ở khía cạnh phân chia rõ ràng các môn học với yêu cầu, nhiệm vụ và cái đích phía trước.

Vì thế, nếu cho rằng văn học có thể làm “thay đổi” sự vô cảm của ngành y, hoặc chỉ để bác sĩ diễn đạt trôi chảy chỉ đúng và cần trong một phạm vi hẹp.

Được biết, trong chương trình học của ngành y có môn đạo đức ngành y. Vậy thì làm thế nào để môn học này không cứng nhắc mà thấm đẫm tính nhân văn và tác động mạnh mẽ đến sinh viên là việc vô cùng cần thiết và thiết thực. Chẳng hạn, trong giáo trình hoặc ngay chính các giảng viên mang đến cho sinh viên những câu chuyện chạm được vào sự đồng cảm của con người kiểu hạt giống tâm hồn, quà tặng cuộc sống… Những câu chuyện mang tính đạo đức nghề nghiệp được truyền tải bằng chất liệu văn học liệu có dễ được đón nhận, dễ tác động lòng trắc ẩn mỗi con người hơn không?

Người xưa từng nói: Nhân chi sơ tính bản thiện.

Vấn đề là làm thế nào để cái tính thiện ấy theo suốt cuộc đời người bác sĩ, chứ không phải “tháo khoán” ở các cấp học, các chương trình học. Vì dù có học thế nào thì cái sự học ấy cũng có giới hạn vài ba năm, trong khi cái trường đời, cái thực tế đầy cám dỗ của cuộc sống luôn thường trực, luôn biến đổi. Nhưng nếu môi trường giáo dục đóng vai trò nền tảng thì chúng ta có quyền được hi vọng.

Hiền Nguyễn

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác