Câu chuyện chuyên nghiệp và nghiệp dư với phê bình trẻ


 

(Toquoc)- Hội nghị Phê bình văn học lần thứ III do Hội Nhà Văn Việt Nam tổ chức đã khép lại. Nhưng những vấn đề đặt ra từ Hội nghị này vẫn gợi nhiều băn khoăn, suy ngẫm của người trong cuộc. Một trong những vấn đề thu hút được sự chú ý của các tác giả tham luận, các ý kiến phát biểu trực tiếp tại Hội nghị và báo chí trước, trong và sau Hội nghị là vấn đề tính chuyên nghiệp/tình trạng nghiệp dư hóa của phê bình. Bài toán đặt ra đối với tất cả mọi người tham dự là làm thế nào để nâng cao chất lượng, hiệu quả của phê bình văn học? Câu trả lời chung nhất, “ổn định nhất”, “muôn thuở nhất”, vẫn là nâng cao, và nâng cao hơn nữa tính chuyên nghiệp của phê bình văn học.

Tiếp theo những ý kiến đã được tác giả Hồng Quảng và Hoàng Anh đề cập trong những bài trước (Thế nào là “phê bình nghiệp dư”?Giảm trừ chức năng trung gian của phê bình văn học), ở đây, chúng tôi đề cập đến vấn đề nâng cao tính chuyên nghiệp của phê bình văn học Việt Nam hiện thời và giải quyết ở nhiều góc độ mà do khuôn khổ có hạn, dưới đây, chúng tôi chỉ đề cập đến ba nhóm vấn đề liên quan (trực tiếp hoặc gián tiếp) đến phê bình trẻ.

Trước hết là góc độ đào tạo. Điều này được nhiều đại biểu xem như là cái gốc của vấn đề, quyết định các khâu khác, tức là ở đây bàn đến vấn đề con người, chủ thể của hoạt động phê bình, đến lớp trẻ, nhà phê bình trẻ. Đào tạo đội ngũ phê bình kế cận, chuyên nghiệp là quan điểm, giải pháp, định hướng của các cấp quản lí văn nghệ, các cơ quan hữu trách, các nhà sư phạm, các khoa ngữ văn của các trường đại học, và còn là nhu cầu của chính một số người viết trẻ muốn hòa nhập. Theo quan điểm này, có nhà giáo cho rằng lực lượng hoạt động chính hiện nay trên báo chí đa phần là những người “tay ngang”, không được đào tạo từ chuyên ngành Ngữ văn, nên không có đủ công cụ lý thuyết, kinh nghiệm thẩm mỹ trong việc đọc và giải mã văn bản. Ngay cả đối các khoa ngữ văn đào tạo sinh viên thành các cử nhân nghiên cứu văn chương trong tương lại cũng không chú trọng đúng mức bộ môn phê bình trong tương quan với các bộ môn lý luận văn học và văn học sử, thêm nữa lý thuyết phê bình trang bị cho sinh viên nghèo nàn cũ kĩ lạc hậu, sinh viên thiếu cơ hội cọ sát thực hành, đa phần học theo kiểu cuốn chiếu, học để thi rồi thôi, cho nên nhiều sinh viên ra trường không khác mấy những người làm tay ngang - không đủ khả năng thẩm định các hiện tượng văn học mới, không có nhãn quan tinh nhạy phát hiện ra những cách tân, những đặc trưng mới, không gắn bó với thực tiễn đời sống văn học, không áp dụng được lý thuyết đã học vào nghiên cứu phê bình, thực hành phê bình vẫn theo phương pháp cũ hoặc định kiến, thiếu cập nhật lý thuyết mới hoặc phê bình không có điểm tựa lý thuyết, không theo kịp được trình độ, tư duy và sự vận động của văn học đương đại. Như vậy, theo quan điểm, lo gíc trên, hàng năm các khoa ngữ văn đào tạo ra rất nhiều nhà nghiên cứu phê bình, lỗi hệ thống của ngành nghiên cứu phê bình văn học hiện nay là từ nhà trường người học;cái thiếu, yếu lớn của phê bình nghiên cứu trẻ hiện nay là thiếu, yếu về tri thức, kĩ năng. Do vậy muốn nâng cao tính chuyên nghiệp, cải thiện tình hình này phải thay đổi chương trình giảng dạy, tăng tính thực hành phê bình thông qua các hội thảo, bài tập lớn, cập nhật lý thuyết mới, gắn hoạt động học tập, nghiên cứu phê bình của sinh viên với những hoạt động công tác cụ thể của Hội văn nghệ nói chung và Hội nhà văn nói riêng ở địa phương, với các nhà văn thành danh ở địa phương…

Câu chuyện đào tạo các nhà phê bình nghiên cứu chuyên nghiệp, nâng cao chất lượng của phê bình từ công tác đào tạo không chỉ bó hẹp trong nhà trường (đại học) mà là việc của các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp văn nghệ, của ban tuyên giáo, trực tiếp là của Hội đồng lý luận phê bình văn học nghệ thuật trung ương. Ngay từ phổ thông trung học, chương trình học cũng đào tạo các em học sinh trở thành các nhà phê bình, đối với các em có năng khiếu, các hội văn nghệ địa phương cũng mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng, cho đi thực tế, nghe các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu chia sẻ kinh nghiệm, nói chuyện chuyên đề. Gần đây, Hội nhà văn Việt Nam, Hội đồng lý luận phê bình văn học nghệ thuật trung ương cũng mở nhiều lớp tập huấn, bồi dưỡng lý luận phê bình, với mục tiêu “nâng cao trình độ, sự hiểu biết về một số vấn đề cơ bản trong công tác tư tưởng, công tác báo chí, văn nghệ trong thời kỳ mới; củng cố sự hiểu biết có tính hệ thống về quan điểm, đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng và tình hình phê bình văn học, nghệ thuật ở Việt Nam cũng như ở trên thế giới hiện nay; trao đổi kinh nghiệm nghề nghiệp, rèn luyện kỹ năng thực hành viết bài phê bình văn học, nghệ thuật…”. Khác với các trường đại học hướng tới đối tượng sinh viên, việc đào tạo ở đây hướng đến các cây bút phê bình “nghiệp dư”, các cán bộ quản lí, các nhà báo, biên tập viên văn nghệ, một số cán bộ, giáo viên giảng dạy bộ môn văn học, nghệ thuật, tức là gồm cả việc đào tạo mới và đào tạo lại đội ngũ sẵn có cả về bản lĩnh chính trị và chuyên môn, có tâm huyết và tài năng… Tính chuyên nghiệp trở thành mục tiêu, điểm mấu chốt để tháo gỡ, đẩy lùi tình trạng làng nhàng èo uột hiện nay của phê bình, đó là giải pháp hàng đầu và cấp bách trong việc phát triển nền nghiên cứu phê bình văn học nước nhà.

Nhưng một câu hỏi đặt ra, vẫn là thế nào là chuyên nghiệp? Chuyên nghiệp theo hướng nào. Chuyện chuyên nghiệp từ các nhà khoa học được diễn giải ra sao, từ các nhà báo, nhà quản lí văn nghệ thì nó phải đáp ứng yêu cầu nào. Phê bình nghiên cứu văn học hiện thời hoạt động theo cơ chế thị trường như một nghề nghiệp như bao nghề nghiệp khác, người viết có thể sống được bằng nghề phê bình nghiên cứu; hay nghiên cứu phê bình hoạt động theo cơ chế bao cấp, là mặt trận tư tưởng văn hóa có chế độ chính sách đãi ngộ; phê bình là công việc làm công ăn lương, kiêm nhiệm hay tự do. Phê bình trẻ cần trả lời được những câu hỏi đó trước khi dấn thân vào hoạt động nghiên cứu phê bình văn học.

Thứ hai là chế độ, sự đãi ngộ, nhuận bút. Không ít ý kiến cho rằng, để thúc đẩy phê bình văn học phát triển, vấn đề cần quan tâm hàng đầu là kinh tế, nói một cách trực diện là vấn đề tiền (nhuận bút, hỗ trợ, kinh phí giao khoán đề tài…). Tiền nhuận bút trả cho người viết phê bình, làm khoa học phải cao hơn nhiều lần hiện nay mới có thể đảm bảo hứng thú nghề nghiệp, mới có thể thu hút được nhiều người tham gia và cải thiện chất lượng bài vở. Tiền là chìa khóa nâng cao chất lượng hiệu quả của phê bình văn học, vì viết phê bình đòi hỏi nhiều tâm sức tra cứu, dịch thuật, nghiên cứu…. Có ý kiến khẳng định chắc chắn thế này, “muốn nâng cao chất lượng của lý luận phê bình văn học, trước hết, phải giải quyết triệt để vấn đề cơm ăn áo mặc đã. Có như vậy các nhà phê bình chuyên nghiệp mới chuyên tâm, thực sự yêu nghề, ở lại với nghề. Nếu không thì vẫn cứ xảy ra tình trạng thiếu hụt, thưa vắng đội ngũ lý luận phê bình và vẫn tiếp tục đề ra các giải pháp một cách chiếu lệ”. Theo quan điểm này, tiền là yếu tố quyết định tất cả, tiền mới là vấn đề căn cốt nhất. Đặc biệt là đối với người trẻ. Người trẻ phải đối diện với chuyện sinh kế không nên thơ chút nào, họ phải làm nhiều việc khác ngoài học thuật để nuôi nghề, theo đuổi đam mê, họ phải “sống đã rồi hãy viết”. Các báo, tạp chí không phải thích trả bao nhiêu tiền nhuận bút cho mỗi bài phê bình thì trả, vấn đề tiền nhuận bút còn là vấn đề của kinh doanh. Đã là kinh doanh thì cạnh tranh, phải tính toán, cân nhắc, không phải là chuyện làm từ thiện, ban phát ân huệ. Không phải ngẫu nhiên các báo chí thuộc các lĩnh vực kinh tế, thu hút được nhiều quảng cáo, và bán được nhiều báo sẽ trả nhuận bút cao hơn hẳn các báo chí văn nghệ - vốn chỉ phục vụ cho người trong nghề. Nhà phê bình muốn bán sản phẩm của mình thì phải lựa chọn thị trường, đối tượng tiêu dùng (báo chí, độc giả), họ phải có sản phẩm chất lượng cao, đáp ứng được các nhu cầu thị trường, các thị hiếu. Không thể khác: họ phải tự đào tạo, tìm tòi, phải lao động đổ mồ hôi thực sự, phải biết trân trọng các đơn đặt hàng, phải chủ động tìm các cơ hội nghề nghiệp và “bán hàng”, tìm các nguồn tài trợ và hợp tác, chứ không thể trông chờ vào “cảm hứng”, đợi các báo chí, tổ chức mời mọc, không thể vỗ ngực làm oai và làm cao, nhà phê bình cần trở về đúng vị trí xã hội của họ để làm nghề…

Thứ ba là cần có một 'sân chơi' rộng, một không gian văn hóa xã hội thực sự cởi mở, dân chủ, bình đẳng dành cho người làm phê bình, trong đó, có các tác giả phê bình trẻ. Chúng ta có quá ít báo và tạp chí dành cho phê bình văn học, nghĩa là những không gian thiết thực nhất, chính thống và có tính truyền thống, ổn định của phê bình đang quá chật hẹp. Báo chí văn nghệ địa phương vẫn tồn tại, song thiên về các vấn đề ngoài học thuật và nếu có những trang phê bình riêng thì vẫn là dành cho thứ phê bình cục bộ theo kiểu có hoa mừng hoa có nụ mừng nụ, hoạt động phê bình văn học ở các báo chí hội địa phương phần lớn là do các giáo viên phổ thông, các hội viên thuộc các chuyên ngành sáng tác tham gia; các mục văn học, văn hóa của các báo/ tạp chí trung ương hoặc của một số báo chí mặc dù là địa phương nhưng có lượng phát hành rộng vượt ra ngoài không gian tỉnh thành cũng vẫn chưa phải là mảnh đất thích đáng của phê bình học thuật: chưa kể, không gian này đang có xu hướng chuyển về tay một nhóm tác giả nhất định (những gương mặt “chuyên gia” quen thuộc; những cây bút gác cổng, các phóng viên chuyên trách; các nhà văn, nhà thơ có quan hệ thân thiết với người phụ trách trang, với TBT đảm nhận việc phê bình). Những nơi trả nhuận bút cao cho mỗi bài viết (trong đó có bài phê bình văn học) lại không phải dành đại trà cho các cây bút phê bình, “thiên đường” ấy dường như chỉ thuộc về các cây viết đặc tuyển, bởi đó không chỉ là công ăn việc làm mà còn là địa vị, uy tín, danh tiếng, ảnh hưởng. Nghề phê bình đòi hỏi nhiều cạnh tranh, cạnh tranh thông tin, đánh giá, nhận định; cạnh tranh thị trường, thị phần độc giả, cạnh tranh cả “cần câu cơm”. Người viết trẻ, mới vào nghề, ít kinh nghiệm về trường văn trận bút, không dễ có những lợi thế này, số phận các bài viết của họ, vì thế, rất mong manh.

Thực tế, việc đăng, in các bài phê bình (đăng bài nào, dung lượng bài vở bao nhiêu chữ, xuất bản loại sách nào, của tác giả nào…), việc mở rộng đất cho phê bình, xuất bản sách phê bình không phải là khó khăn gì, nhưng những vấn đề đó lại là vấn đề của kinh tế thị trường, của thiết chế văn nghệ, thiết chế chính trị xã hội, của cơ chế, nó có quy luật riêng, yêu cầu riêng của nó; chứ không phải là vấn đề của bản thân phê bình văn học. Nâng cao chất lượng, hiệu quả, hiệu ứng của phê bình văn học, và làm thế nào để phê bình thích ứng với cơ chế, với các chủ thể khác nhau xét cho cùng là việc thiết thực, sát sườn của chính người làm phê bình, nếu anh ta muốn tồn tại được, muốn các bài viết/công trình của anh ta có ảnh hưởng, có sức lan toả, được đông đảo bạn đọc quan tâm đón nhận. Không nên nhập vấn đề kinh tế và học thuật làm một để kêu ca phàn nàn về sự thiếu hụt, trống vắng của phê bình. Anh làm học thuật thuần túy, chỉ chú trọng vào đối tượng phê bình, không tính tới nhu cầu độc giả, các gu của mỗi báo chí, yêu cầu của thời đại, thậm chí là thể chế thì anh ta buộc phải chấp nhận những trở ngại nào đó về đầu ra. Ngược lại, anh chạy theo các vấn đề thời sự, thị hiếu, chú trọng đến các vấn đề kinh tế, đáp ứng kịp thời những nhiệm vụ cần thiết về mặt trận tư tưởng… cũng buộc phải chấp nhận những vấn đề có thể chưa đáp ứng về mặt khoa học chuyên ngành. Rất khó để điều hòa cân đối được hai khu vực này, trừ khi Nhà nước có cơ chế chính sách đãi ngộ đảm bảo thỏa đáng cho các nhà khoa học nói chung. Ở đâu chứ ở lĩnh vực khoa học (phê bình) hiện nay thì kinh tế, chính trị không chỉ quyết định đầu ra (xuất bản, in ấn, vận dụng triển khai) mà còn là chi phối quan trọng đến đầu vào (đầu tư, hỗ trợ, đãi ngộ…).

Phê bình là một mặt trận văn hóa văn nghệ, là lĩnh vực của tư tưởng, một khoa học, nhưng cũng là một nghề, một thứ hàng hóa, một thị trường dư luận. Phê bình không chỉ gắn với tài năng, vốn sống, vốn tri thức văn hóa mà luôn liên quan chặt chẽ với các quyền lợi kinh tế, với quan hệ chức vị, với nghĩa tình, với truyền thông, “mặt trận”… Phê bình trẻ phải đối diện với tất cả những vấn đề đó - đối diện với vấn đề khen - chê, đối diện với sự lựa chọn, với thứ bậc tôn ti, với sự mưu sinh và trách nhiệm nghề nghiệp, với các ân oán, đối diện với “những thứ quyến rũ”… Phê bình là một nghề nguy hiểm, đầy mời mọc mà cũng rình rập những mối nguy, mở rộng cho tất thảy mà cũng có thể bất ngờ khép chặt, giáng xuống những đòn đau. Thế mới có chuyện như sau: trong phê bình, vồ vập khen quá cũng “chết”, lạnh lùng chê quá cũng “chết”. Thái quá bất cập, chuyện đó đương nhiên rồi. Song còn bởi có đủ thứ hệ lụy, bất trắc, khó khăn rình rập người cầm bút viết phê bình. Nhà phê bình là một người đi trên dây. Có người bảo phê bình là đánh cược. Nhưng đánh cược với thời gian, đánh cược với dư luận hay đánh cược với số phận, tính mệnh…? Vậy phải làm phê bình ra sao? Có người khuyên, phải viết sao cho khéo mới tồn tại được. Trong trường hợp đó bảo nâng cao chất lượng phê bình văn học thế nào được? Phê bình là một nghề đòi hỏi nhiều “kĩ năng sống”, bản lĩnh sống, lương tâm trách nhiệm, đòi hỏi phải có sức mạnh thực sự - một thứ quyền lực tối cao là tri thức, không phải ai cũng làm được, có được điều đó. Sau rất nhiều băn khoăn, giả thiết và trường hợp như đã nêu trên, tôi vẫn nghĩ, xét cho cùng, phê bình đích thực phải tôn vinh chân - thiện - mỹ, phải tôn vinh văn hóa, văn chương nghệ thuật hữu ích, nó là một nghề thử thách nhân cách sống của chúng ta nhiều hơn. Một bài phê bình thành công, là sau bao nhiêu năm, đọc lại, ta vẫn cảm thấy một cái gì đó nhẹ nhõm, thanh thản, có ích và có trách nhiệm với nghề nghiệp mà ta gắn bó. Chuyên nghiệp là sống trong nghề, còn nghiệp dư đến rồi đi.

Trương Thắng

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác