Cái đỉnh Đường thi và thơ dịch của Đỗ Trung Lai

Phan Cẩm Thượng

Ngày 05/10/2008 này, nhà thơ Đỗ Trung Lai sẽ tổ chức giới thiệu bộ sách dịch thơ Đường của mình về ba nhà thơ vĩ đại Trung Hoa: Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị. Cũng nhân dịp này ông tổ chức một triển lãm thơ Đường và tranh vẽ tại Viet Art Center, 42 Yết Kiêu, Hà Nội.

Cái đỉnh Đường thi và thơ dịch của Đỗ Trung Lai  - ảnh 1
Nhà thơ Đỗ Trung Lai và nhà thơ Bằng Việt
1.
Thời đại nhà Đường (618-907) ở Trung Hoa cách đây đã hơn 1.300 năm, nhưng thơ Đường vẫn được người ta đọc và dịch. Có lẽ Đường thi đã nêu được tính bất biến của đời sống nhân văn và một giá trị văn chương giản dị mà sâu sắc, tới mức Đường thi trở thành một khái niệm mỹ học. Với hàng nghìn nhà thơ và trên năm mươi nghìn bài thơ, thơ Đường thực sự là một khu rừng đầy cây cỏ muông thú, mà những người tự cho là hiểu thơ Đường nhất cũng chỉ ngắm được vài cái cây, bẻ được vài cành lá, và may mắn lắm thì nhặt được vài bông hoa và quả chín.

Cho nên đọc thơ, dịch thơ và làm thơ Đường dù đã phổ biến ở nước ta đến cả ngàn năm qua, nhưng cũng chưa bao giờ thành chuyên nghiệp cả. Người dịch được sát ý thì thiếu hồn thơ, người toát lên được hồn thơ thì lại không hết ý. Ví dụ dịch hay như Tản Đà với câu Hạc vàng bay mất từ xưa/ Ngàn sau mây trắng bây giờ còn bay, trong bài Hoàng hạc lâu của Thôi Hiệu, nguyên văn: Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản/ Bạch vân thiên tải không du du, thì vẫn còn sót một ý: một đi không trở lại. Hay câu: Xá nam xá bắc giai xuân thủy/ Hốt kiến quần âu nhật nhật lai của Đỗ Phủ. Đàn hải âu tung cánh chập chờn trên vùng sông nước mênh mông, cảnh tượng hoành tráng và hoang vu như thế, mà không hiểu sao tất cả những ông đồ nước ta lại dịch ra là đàn vịt bơi, hay đàn cò bay!

 

2. Cách đây hai năm, tôi nhớ Đỗ Trung Lai viết cho những bài bình thơ trên tạp chí Khoa học và Tổ quốc, chọn thơ nào bình ra sao là tùy ông. Dịp Tết năm đó ông đã dịch và bình bài Tương tiến tửu của Lý Bạch, và nggay lập tức nhiều người cho rằng đây là bản dịch hào sảng nhất về bài thơ. Ngay ba câu đầu Lý Bạch viết: Quân bất kiến/ Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai/ Bôn lưu đáo hải bất phục hồi. Ông dịch:

“Anh không thấy

Nước trời rơi mãi

Thành mênh mông một dải Hoàng Hà

Chảy mau về với biển xa

Có trôi trở lại cùng ta bao giờ...”

Sau đó, ông dịch liền bốn bài Nguyệt hạ độc chước (Uống rượu dưới trăng) có câu: Sầu cùng thiên vạn đoan/ Mỹ tửu tam bách bôi/ Sầu đa tửu tuy thiểu/ Tửu khuynh sầu bất lai. Được dịch là:

Sầu thì ngàn vạn mối/ Rượu ba trăm chén thôi/ Sầu nhiều rượu lại ít/ Uống vào sầu tạm lui.

Như vậy Đỗ Trung Lai vừa nắm được cái khẩu khí của nguyên tác, lại mạnh dạn đưa vào trong bản dịch cái cảm hứng thi ca của chính mình. Cái dịch thơ của một nhà thơ có khác một sự dịch thông thường. Trong vòng hơn một năm không còn hứng thú với công việc làm báo và hành chính, Đỗ Trung Lai đi uống rượu, đánh bóng bàn, bàn chuyện thế sự và bóng đá, rồi cặm cụi dịch thơ Lý Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị liền một mạch. Ông cũng sống phong lưu và lang thang trong trời đất như các bậc ẩn giả ngàn năm trước, tất nhiên chỉ có thu nhập bằng đồng lương, nhưng đã có một gia tài khác là ba tập thơ dịch, tuy có nhiều chỗ còn phải bàn, nhưng chắc chắn là rất hào sảng. Vì ông coi việc dịch giống như thường nhật làm thơ vậy, cái gì không biết thì tra cứu, hỏi han, nắm lấy đại ý, chuyển thoát ý tưởng của cả bài chứ không quá phụ thuộc vào từng câu chữ.

Tôi nghĩ rằng chỉ trong hơn một năm, nhà thơ họ Đỗ đã làm được cái việc “tày đình”, rất nghệ sỹ, rồi cũng may mắn được một nhà xuất bản nhận in luôn, nhưng trên cơ sở này nếu để nghiền ngẫm thêm trong mười năm nữa ắt là một công việc hoàn mỹ. Đây chính là cách giải thích tại sao thơ Đường cứ được dịch đi dịch lại, mà rất ít bài được chốt lại là không thể hay hơn, như bài Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị do Phan Huy Vịnh dịch. Mỗi một bài thơ Đường đều là một viên ngọc lóng lánh, người dịch giống như người thợ cao tay mài một viên tương tự như thế đặt vào lòng bàn tay chúng ta, đó là điều hạnh ngộ duy nhất, chỉ có ngôn ngữ tiếng Việt với làm được. Khi tiếng Việt có nhiều nguồn sâu xa từ tiếng Hán và thơ ca Việt cũng đã thành tựu với mọi loại Đường thi. Khi tiếng thời Đường rất gần với tiếng Hán thời Lý Trần và tiếng Việt cận đại, ở các phương diện tu từ học, hàm ý, cách đặt câu và tư duy.

 

3. Lý Bạch (701-762) nhà thơ vĩ đại của Trung Hoa được coi như bậc Tiên thi, Đỗ Phủ cũng vĩ đại như thế được coi là Thánh thi, còn Bạch Cư Dị (772-846) cũng vĩ đại, đáng gọi là Thế thi, lập nên cái đỉnh ba chân trong thơ ca Trung Hoa. Theo như Đỗ Trung Lai cái đỉnh ba chân thời Tam quốc Ngụy - Thục - Ngô chỉ tồn tại trong vòng 60 năm, còn cái đỉnh ba chân Lý - Đỗ - Bạch thì đã tồn tại hơn ngàn năm, vẫn còn làm say đắm lòng người. Phong cách siêu thoát của Lý Bạch làm cho con chim hạc ngôn từ không dễ chuyển hóa, triết lý hiện thực sâu sắc của Đỗ Phủ làm cho những bản dịch trở nên gai góc gồ ghề, còn tình ý thâm nhã của Bạch Cư Dị cần một diễn đạt tinh tế nhất.

Có thể nói, Đỗ Trung Lai không thể hoàn tất một cách đồng bộ những hàm ý chính yếu của từng thi nhân, nhưng ông đã từng trải trong thi điệu của mỗi người, và qua nhiều bài cụ thể làm nên một giọng điệu cũng như tương đồng với bản gốc. Điều ấy có được vì trước hết Đỗ Trung Lai là một nhà thơ. Ông rất xuất sắc trong thơ ngũ ngôn, song thất lục bát, đặc biệt trong thơ bốn chữ, sáu chữ và thơ bảy chữ có nguồn gốc từ thất ngôn cổ thi và thất ngôn tuyệt cú. Đại loại ông viết: Cau ngày càng cao/ Mẹ ngày càng thấp/ Cau gần với giời/ Mẹ thì gần đất. Cái ý vị nhân văn đó nào có kém gì cổ thi.

 

(TTVH)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác