Cách tân thơ là trách nhiệm xã hội của nhà thơ

(Toquoc)- Triết học ngôn ngữ duy trì một niềm xác tín lớn lao vào vai trò các nhà thơ. Thi nhân không phải ai khác mà chính là những kẻ canh gác cái tinh túy, yếu tính của ngôn ngữ. Mà ngôn ngữ lại là ngôi nhà của tồn tại. Nhà thơ do đó, thông qua việc cách tân thơ, đổi mới ngôn ngữ thơ đã cung cấp thêm cho nhân loại những dữ kiện ngôn ngữ mới để tư duy về thế giới.

Người ta có quyền đòi hỏi triết học sự chặt chẽ của các khái niệm, đòi hỏi lịch sử những sự thật đã tồn tại trong quá khứ, đòi hỏi đạo đức học những nguyên tắc vững chắc để tổ chức đời sống lành mạnh, nhưng người ta không thể nào đòi hỏi thơ những điều như thế. Bởi, thế giới của thơ là tình cảm, bất định, là địa hạt của niềm mộng mơ thông qua chữ. Nhưng cũng không phải vì thế mà thơ chỉ biết tồn tại cho chính nó, vì nó, như một mục đích tự thân, tự thể, không có bất cứ mối quan hệ nào với thế giới bên ngoài. Sự thực thì thơ cần thiết cho tất cả mọi người, chừng nào, người còn là một sinh thể biết mơ mộng.

Nếu như tồn tại được định nghĩa như một chuỗi liên tiếp những xúc cảm, buồn vui, theo nhau như sóng biển gối đầu. Mà ngày tháng thì phôi phai nhạt nhòa giữa hàng loạt những hình ảnh cũ, ước vọng mới, và sự vụ của ngày hôm nay vẫn cứ chồng chéo lên nhau, không còn biết đâu là đường biên rõ rệt, kỷ niệm này tiếp kỷ niệm khác, ảnh hình này gọi về ảnh hình kia, thì thơ hiện hữu là để phản ánh thế giới sinh/biến động ấy, trong tính bất định, tương đối, mong manh và phức hợp. Người ta có thể đòi hỏi các hoạt động trí năng khác của con người tính mạch lạc, riêng chỉ với thơ, thì cái hỗn độn mà hài hòa của đời sống mới được lên ngôi. Thơ là một sinh thể độc đáo, bởi chỉ với thơ, sự tưởng tượng, niềm mộng mơ thành vô bến bờ. Ở trong thơ, thế giới của những liên tưởng nở sáng, biểu tượng mọc dậy và con người thỏa thích để tâm hồn vươn đôi cánh khép, mở mà lượn bay về mọi phía chân trời. Ngày hôm nay, khi kỹ trị lên ngôi, người đang rơi vào vấn nạn làm con-người-máy thì thơ càng xốc vác trên đôi vai tưởng tượng của mình sứ mệnh mộng mơ hóa trở lại hồn người xơ cứng. Trách nhiệm xã hội của thơ, vì thế, càng lúc càng lòa sáng. Ở trong thơ, con người lại có thể tự do mà bay bổng, vượt thoát mọi hữu hạn, gọi về hoa trái rủ ngọt, thơm tho cho hiện hữu người vốn ngắn ngủi và bé nhỏ. Người của thời đại sắt thép, tiêu dùng, kim tiền phân hóa giàu nghèo, xung đột sắc tộc gay gắt, tranh chấp tôn giáo tràn lan trên thế giới thì, vượt đau thương có đường mơ mộng. Niềm mơ mộng chắp đôi cánh cho những hiện hữu gầy mòn trong một thế giới phi lý, hư vô, thế giới ấy không thể cùm nhốt con người, nếu người biết lượn bay lên trên chật chội nhờ niềm mơ mộng. Thơ đến để mơ mộng vui reo. Đọc thơ, trải nghiệm trong thơ là khi con người đang ăn trái quả để nuôi sống niềm mơ mộng. Thơ vì thế hơn lúc nào, cần một cách khẩn thiết cho xã hội ngày hôm nay.

Nhưng thơ sẽ cạn khô như dòng suối mất nguồn, cây rừng cụt rễ, nếu thơ không tự làm mới chính mình. Hình ảnh sáo mòn, nhạc điệu quen thuộc, liên tưởng mốc thếch và ngôn từ, cấu tứ như con ngựa già cứ lê bước chân tàn tìm về đường cũ, thì khi ấy, thơ đã chết. Thơ khi tái lặp lại chính mình, không biết tự làm mới thì thơ không thể cưu mang mơ mộng. Vì người ta không thể khai triển, giãn nở niềm mộng mơ từ một mớ ảnh hình xưa cũ. Và người thơ khi ấy sẽ không còn hiện hữu mà chỉ còn là những thợ chữ, tháo lắp máy móc các con từ, khớp nối cứng nhắc các con âm. Niềm mơ mộng chỉ đâm trồi khi cây tưởng tượng được tự do, không có quy tắc và khuôn phép. Thơ khi đi vào chuẩn định là thơ sáo mòn, khi ấy, thơ cũng làm luôn giấy khai tử cho chính mình. Bản mệnh của thơ là đổi mới không ngừng. Cũng như bản mệnh của sự tưởng tượng là làm mới các hình ảnh mộng mơ. Cách tân thơ vì thế là một yêu cầu đầu tiên và cuối cùng để thơ hiện hữu như chính thơ là. Thời đại nào thì có mã mộng mơ ấy. Ngày xưa, mộng mơ với tuyết rơi, gió thổi, trăng thu, sương mờ. Ngày nay, còn thêm mộng mơ với không gian ảo của Internet, với không gian xa xôi được nối dài bởi khoa thiên văn đến những tinh cầu thăm thẳm trong vũ trụ. Nói tóm lại, ảnh hình mộng mơ thì có tính lịch sử, nhưng bản thể đều là niềm-mộng-mơ. Thơ cũng thế, thơ sẽ là thơ trong mọi thời khắc nếu thông qua những ảnh hình tươi mới từ sáng tạo của nhà thơ mà thông qua nó, người đọc còn biết thi vị hóa tâm hồn. Đổi mới thơ, thế nên, là bản thể của nhà thơ. Đồng thời, đổi mới thơ cũng là trách nhiệm xã hội mà nhà thơ phải mang vác, như mang thập giá trong sáng tạo, nhằm gìn giữ sự trinh nguyên cho mộng mơ, nuôi hồn người mãi lung linh để chống kỹ trị bạo tàn.

Triết học ngôn ngữ duy trì một niềm xác tín lớn lao vào vai trò các nhà thơ. Thi nhân không phải ai khác mà chính là những kẻ canh gác cái tinh túy, yếu tính của ngôn ngữ. Mà ngôn ngữ lại là ngôi nhà của tồn tại. Nhà thơ do đó, thông qua việc cách tân thơ, đổi mới ngôn ngữ thơ đã cung cấp thêm cho nhân loại những dữ kiện ngôn ngữ mới để tư duy về thế giới. Trí óc của nhân loại, vì thế, thông qua lời của tư duy mơ mộng thi ca mà được triển nở thêm mãi. Thi gia và tư tưởng gia, thế nên, xứng đáng là kẻ canh giữ cho tinh túy của ngôn ngữ nhân loại. Hơn khi nào hết, đổi mới thơ ca nghĩa là làm đầy, làm giầu, làm bất tận thêm mãi kho tàng ngôn ngữ chung của cả nhân loại. Đổi mới thơ ca, do đó, dù là để làm phong phú thêm kho ngôn ngữ chung loài người, hay đổi mới thơ ca để nuôi dưỡng niềm mộng mơ, thì đằng nào cũng vậy, nhân loại luôn cần một cách khẩn thiết nhiệm vụ đổi mới thơ ca của các nhà thơ. Và chỉ cần bấy nhiêu lý do mà thôi, thì cách tân thơ, có thể nói một cách dứt khoát, khẩn thiết, là trách nhiệm xã hội của nhà thơ./.

Trịnh Nữ

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác