Áp dụng linh hoạt các điều kiện đặc thù

 

(Toquoc)- Sau khi dư luận đưa ra nhiều dẫn chứng về thực trạng đào tạo của các ngành nghệ thuật từ trước đến nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có những điều chỉnh kịp thời. Nhưng sự linh hoạt này được xem là một ưu tiên để các trường yên tâm đào tạo hay chỉ nên coi là giải pháp tạm thời?

 

Nhà văn có “tự ái” không?

Nếu đem tiêu chí người giảng dạy cho sinh viên ở các trường đại học phải có trình độ bằng cấp ở mức cao hơn, vậy với các nhà văn, nhà thơ hầu hết chưa có bằng thạc sĩ nhưng lâu nay vẫn tham gia giảng dạy cho sinh viên có tự ái không?.

Khi được hỏi một số nhà văn, nhà thơ, họ tỏ ra khá ngạc nhiên với giả thiết này và không thể… không tự ái. Bởi trước nay, ngay các bậc thầy của các nhà văn, nhà thơ hiện nay tham gia giảng dạy cũng không bị những yêu cầu khắt khe về bằng cấp mà vẫn có những học trò xuất sắc, hoặc ra trường có nhiều đóng góp cho xã hội.

Nhà văn Tô Hải Vân người có nhiều năm tham gia công tác giảng dạy ở bậc đại học và là PGS.TS -  nhưng ở lĩnh vực khác văn chương. Gần đây cũng giảng dạy tại khoa Viết văn bày tỏ quan điểm: “Người ta đôi khi vướng phải thói quen vơ đũa cả nắm hoặc chẻ sợi tóc ra làm tư. Vấn đề là ở chỗ dạy môn gì, vì tương ứng với môn ấy thì sẽ cần có thầy ấy. Ví dụ, dậy làm cầu treo, không thể lấy một anh có bằng cử nhân, dậy lý luận văn học cũng vậy. Nhưng dậy múa thì phải có thầy giỏi múa chứ không nhất thiết là phải thầy có bằng tiến sĩ múa. Thông thường làm gì cũng cần có hai điều kiện: cần và đủ. Theo tôi, “cần” là người đứng lớp phải có cái gì mà dậy. Còn “đủ”, là phải có những “chứng nhận xã hội”. Với những môn kỹ thuật chẳng hạn, một trong số những “chứng nhận xã hội” đó là bằng cấp, thêm nữa là công trình đã được thừa nhận hay đã được áp dụng. Với nhà văn, cái “chứng nhận xã hội” chính là tác phẩm của anh ta”.

Tuy nhiên, cũng có nhà văn, nhà thơ thấy “không có vấn đề gì trầm trọng cả”. Nhà thơ Trần Ninh Hồ từng tham gia giảng dạy nhiều khoá Viết văn cho hay, tôi “không tự ái”, vì nhiều nhà văn, nhà thơ chúng tôi có khi còn không có bằng cử nhân, chỉ học hết cấp ba thôi. Nhưng công việc của chúng tôi chủ yếu là đến truyền nghề, truyền kinh nghiệm cho sinh viên. Rất khác với các giáo viên ở những bộ môn khác cần có những yêu cầu chuyên môn, sư phạm và bằng cấp. Xét về khía cạnh nào đó thì các nhà văn nhà thơ còn có nhiều điểm hay hơn, “huyền bí” hơn so với các giáo viên là thạc sĩ, tiến sĩ.

Là một người hoạt động trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, song song với giáo dục, nhà phê bình Văn Giá - Trưởng khoa Viết văn - Báo chí thuộc trường Đại học Văn hoá bày tỏ quan điểm về việc Bộ Giáo dục và Đào tạo dừng tuyển sinh một số ngành, trong đó có cả các trường nghệ thuật: “Có thể Bộ Giáo dục và Đào tạo đúng với một số ngành. Nhưng riêng các ngành (bộ môn) nghệ thuật thì hoàn toàn không đúng. Những người có học vị chỉ dạy cách nghiên cứu để tạo ra các công trình nghiên cứu, còn những nghệ sĩ mới có khả năng dạy thực hành sáng tạo nghệ thuật nhằm tạo ra các tác phẩm nghệ thuật”.

Vậy thực tế các nhà văn, nhà thơ khi được mời tham gia giảng dạy tại khoa Viết văn thì nhà trường có quan tâm đến vấn đề bằng cấp không hay dựa trên tiêu chí khác, nhà phê bình Văn Giá cho hay: Đối với khoa Viết văn - Báo chí, bên cạnh việc mời các cán bộ giáo dục là các nhà nghiên cứu có học hàm học vị nhằm trang bị các tri thức lý thuyết, thì phải mời nhiều nhà văn, nhà báo đến giảng dạy theo cách truyền nghề. Những người như vậy, tất cả họ đã có bằng cử nhân, nhưng tuyệt nhiên chưa ai có bằng Thạc sĩ, chứ đừng nói cao hơn. Ví dụ, những nhà văn/nhà thơ như Ma Văn Kháng, Khuất Quang Thụy, Lê Minh Khuê, Võ Thị Hảo, Sương Nguyệt Minh, Vũ Quần Phương, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Việt Chiến, Nguyễn Quang Thiều và nhiều người khác đã và đang giúp giảng dạy ở khoa tôi cũng mới chỉ có bằng cử nhân thôi. Nhưng các tác phẩm của họ (truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ…) của họ đã được cả nước biết đến, đố ông Giáo sư tiến sĩ nào sáng tạo nổi (dĩ nhiên họ sáng tạo cái khác). Thế thì việc truyền nghề các bộ môn nghệ thuật ở các ngành nghệ thuật nhất thiết phải là các nhà nghệ sĩ. Thế giới người ta cũng thế, chứ không riêng gì mình.

 Áp dụng linh hoạt các điều kiện đặc thù - ảnh 1

Lối mở linh hoạt cho các ngành nghệ thuật

Căn cứ vào đặc thù, tình hình thực tế của một số trường đại học thuộc khối nghệ thuật, mới đây Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch đã có công văn gửi Bộ Giáo dục và Đào tạo. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cho phép áp dụng linh hoạt các điều kiện đặc thù của ngành để đảm bảo đủ số giảng viên cơ hữu trong giai đoạn quá độ từ năm 2014-2017.

Theo đó, giảng viên cơ hữu được tính với giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ đúng ngành dù đã nghỉ hưu nhưng có hợp đồng dài hạn, làm việc toàn phần với cơ sở đào tạo. Hoặc giảng viên cơ hữu là giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ đúng ngành có tham gia giảng dạy dù đang công tác ở cơ quan khác, nhưng được sự đồng ý của lãnh đạo cơ quan đang công tác… Bên cạnh đó, các trường nghệ thuật có thể mời giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ đúng ngành, đang công tác tại các Viện nghiên cứu tham gia giảng dạy. Những ngành không thể tìm được tiến sĩ, thạc sĩ đúng chuyên ngành có thể thay thế bằng giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ ở ngành gần, nhưng phải đảm bảo ít nhất hai công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến ngành, chuyên ngành giảng dạy.

Quyết định đưa ra trước đó có thể chưa đúng tuyệt đối, nhưng đã khiến người trong cuộc, người ngoài cuộc, người liên quan được nhìn lại và nhận ra chặng đường dài đã và đang đi có những chỗ nào được và chưa được để điều chỉnh.

Việc Bộ Giáo dục và Đào tạo sau khi công bố quyết định tạm dừng tuyển sinh hơn hai trăm ngành, rồi lắng nghe phản hồi và đưa ra những quyết định linh hoạt hơn dành cho các ngành nghệ thuật là một phản ứng rất kịp thời. Giảng viên hữu cơ theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo là những cá nhân có học hàm học vị. Mà nguồn “nhân lực” này có thể phát sinh hoặc luân chuyển do các tác động, yếu tố chủ quan và khách quan. Thậm chí, trước những yêu cầu của thực tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo có thể đưa ra, thay đổi những quy định ở mỗi thời điểm khác nhau. Vì vậy, ngay cả việc Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép áp dụng linh hoạt với các ngành nghệ thuật thì các đơn vị đào tạo cũng không nên “thở phào nhẹ nhõm”. Bởi đó chỉ là sự “xem xét”, sự “đặc cách” có giới hạn. Nếu cứ áp dụng lâu dài, rất có thể nhiều trường sẽ tìm kẽ hở lách luật. Chẳng hạn sẽ có những cuộc chạy đua bằng cấp hơn là trau dồi kiến thức, chú trọng việc mời giảng viên ở các trường lân cận đến giảng dạy hơn là nguồn tự đào tạo dễ dẫn đến việc nể nang, lấy mối quan hệ…

Bên cạnh đó, các ngành đào tạo nghệ thuật không hoặc chưa bị dừng tuyển sinh vẫn cần những bước đi lâu dài, đảm bảo những chuẩn mực cần thiết của giáo dục. Có như vậy mới không “bị động”, lúng túng trước các yêu cầu khắt khe của giáo dục tương lai. Nói như nhà văn Tô Hải Vân thì “Bộ Giáo dục và Đào tạo có đưa ra yêu cầu về đội ngũ giảng viên cơ hữu là có lý, chứ không phải vô lý hay cứng nhắc hoàn toàn. Một người có học hàm học vị có thể chỉ chuyên sâu ở một phạm vi hẹp nhưng họ có “phương pháp” học tập, nghiên cứu và truyền dạy. Cái đó cũng rất quan trọng với một giảng viên khi truyền đạt kiến thức cho sinh viên dù là nghệ thuật hay không”.

Hiền Nguyễn

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác