700 NĂM THƠ HUẾ- Tuyển thơ giá trị

Ngô Minh

(Toquoc)- Ban tổ chức Festival Thơ Huế (khuôn khổ Festival Huế) vừa ra mắt tuyển tập thơ “700 năm thơ Huế” dày dặn và in ấn sang trọng. Lật từng trang thơ với niềm xúc động bần thần như là mình đang được tao ngộ với cổ nhân, tôi có thể nói rằng, công trình thơ này lớn hơn nhiều so với dung lượng nghệ thuật của một định kỳ Festival Huế!

Từ năm bảy năm nay, những nhà thơ tâm huyết ở Huế đã bàn đến một tuyển thơ Huế chững chạc xuyên suốt chiều dài lịch sử 700 năm thăng trầm, vinh quang và bi tráng của mảnh đất Thuận Hoá- Phú Xuân - Huế từ ngày công chúa Huyền Trân dấn thân cho vua Chăm để đổi về cho Đại Việt ba châu Ô-Lý. Thơ Huế- Huế Thơ là tâm linh, phận người, là “vô thức tập thể” của cả một dân tộc trong cuộc giằng xé dữ dội nhất của lịch sử. Ấp ủ, bàn bạc, sưu tầm, dịch thuật, cho đến những ngày đầu tháng 6 này, tuyển 700 trăm năm Thơ Huế mới ra mắt độc giả.

700 NĂM THƠ HUẾ- Tuyển thơ giá trị  - ảnh 1
Tuyển "700 năm thơ Huế"
Tập tuyển thơ dày 1200 trang khổ 16 x 24 cm với hơn 1200 bài thơ của 492 tác giả chọn lọc trong khắp cả nước từ Yên Bái đến Cà Mau viết về Huế. Tất nhiên đa phần tác giả là những người đã từng sống ở Huế. Người “già” nhất là cụ Trương Hán Siêu (?-1354), người trẻ nhất là Lê Hưng Tiến (sinh 1981), Nhuỵ Nguyên (1980). Tuyển thơ gồm 2 phần: 1- Phần thơ Hán Nôm gồm 68 tác giả với 102 bài thơ do nhà thơ Nguyễn Phước Hải Trung tuyển chọn và dịch; 2- Phần thơ Quốc ngữ với 423 tác giả với hơn ngàn bài thơ. Tuyển thơ 700 trăm năm thơ Huế  là một công trình tuyển chọn, dịch thuật, hiệu đính, tư liệu rất  công phu và tâm huyết của tập thể các nhà thơ, nhà nghiên cứu văn hoá Nguyễn Khắc Thạch (chủ biên), Nguyễn Phước Hải Trung, Hồ Thế Hà, Trương Thị Cúc, Võ Quê, Nguyễn Xuân Hoa, Vĩnh Cao. Cuốn sách nặng đến mức phải nâng bằng hai tay, làm tôi lần đầu tiên cảm nhận được sức nặng của thơ trong tâm thức.

Huế là chiếc nôi sinh thành, mái nhà trú ngụ, lớn lên của nhiều thế hệ thi nhân Việt Nam  suốt 700 năm qua bắt đầu từ  bài thơ chữ Hán Hoá châu tác của Trương Hán Siêu viết từ thế kỷ thứ XIV, vua Lê Thánh Tông (1442- 1497) với bài Tư Dung hải môn lữ thứ (Nghỉ chân ở cửa biển Tư Dung). Đến Chúa Nguyễn như Nguyễn Phúc Chu, các vị vua thi sĩ như Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức... đến các ông Hoàng như Miên Thẩm, Miên Trinh, các bà Chúa như Mai Am, Huệ Phố... đến các bậc quan lại nho gia như Dương Văn An, Lê Quý Dôn, Cao Bá Quát, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Đặnh Huy Trứ, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Hữu Bài.v.v.. Từ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Đặng Huy Trứ, Trần Cao Vân… đến Tố Hữu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Tế Hanh, Lưu Trọng Lư.v.v.. đến Trần Vàng Sao, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Hải, Lâm Thị Mỹ Dạ, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Khắc Thạch, Văn Cầm Hải, Lê Thị Mỹ Ý.v.v.. Dường như tất cả các thế hệ thi nhân Việt Nam không ai là không có đôi ba bài thơ tặng Huế. Người ở Huế làm thơ về Huế, người xa Huế làm thơ nhớ Huế, người chỉ lần đầu đến Huế thôi cũng tức cảnh sinh tình mà có thơ... “Sự hiện diện của những tên tuổi và những bài thơ nổi tiếng trong tuyển tập 700 năm thơ Huế chính là kết quả của quá trình vẫy gọi và toả phát của một vùng văn học, một từ trường thi ca mạnh. Đọc hơn ngàn bài thơ được chọn vào thi tuyển, phần thơ chữ Hán- Nôm, hay phần thơ Chữ Quốc ngữ, ở góc độ hình tượng- tư tưởng hay ngôn từ, thơ Huế và Huế thơ bao đời đều lưu dấu những  nhà thơ tài danh, những bài thơ xúc động.

Ta gặp trong tuyển này đầy đủ những hình tượng thơ đẹp nhất, ấn tượng nhất, những câu thơ xuất thần nhất về Huế đã từ lâu đã tac vào lòng người đọc đến mức thành cổ điển. Đó là những bài thơ bất hủ: Lời kỹ nữ (Xuân Diệu), Ngậm ngùi (Huy Cận), Một đêm đàn lạnh trên sông Huế (Văn Cao), Tiếng thu (Lưu Trọng Lư), Đây thôn Vỹ Dạ (Hàn Mặc Tử), Đẹp và thơ (Nam Trân), Giời mưa ở Huế (Nguyễn Bính), Thăm Huế (Bích Khê); Chiều Hương Giang (Nguyễn Khoa Điềm), Bài thơ của người yêu nước mình (Trần Vàng Sao).v.v.. Và những tứ thơ, câu thơ ai cũng nhớ: Hương Giang trăng đơn chiếc / Xưa nay treo nỗi sầu (Nguyễn Du-Thu chí), Đập cổ kính ra tìm thấy bóng / Xếp tàn y lại để dành hơi (Vua Tự Đức- Khóc Bằng Phi), Trường Giang như kiếm lập thanh thiên (Cao Bá Quát)

Nói đến Huế là nói đến sông Hương, núi Ngự, nói đến Kinh đô nước Việt suốt 142 năm... Ai cũng nhớ nằm lòng câu thơ Dạ thưa xứ Huế bây giờ / vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương ( Bùi Giáng), hay Trên dòng Hương Giang /  Em buông mái chèo / Trời trong veo/ Nước trong veo... (Tố Hữu); Nếu như chẳng có sông Hương / Câu thơ xứ Huế giữa đường đánh rơi... (Huy Tập). Con sông dùng dằng con sông không chảy / sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu (Thu Bồn); “Thuyền nam đủng đỉnh sau hang phượng / Cô gái kim long yểu điệu chèo” (Nam Trân), “Áo em trắng quá nhìn không ra / Ở đây sương khói mờ nhân ảnh / Ai biết tình ai có đậm đà” (Hàn Mặc Tử); Giời mưa ở Huế sao buồn thế / cứ kéo dài ra đến mấy ngày... (Nguyễn Bính); rồi Sông Hương hoá rượu ta đến uống / Ta tỉnh đền đài ngả nghiêng say (Nguyễn Trọng Tạo); Ước gì cầm được cô đơn / Ném thia lia để hoá buồn thành vui (Lâm Thị Mỹ Dạ); Muốn thì thầm vuốt ve Huế thật khẽ / Lại sợ chạm vào nơi nhạy cảm của cơ thể Việt Nam (Phan Huyền Thư) .v.v..

700 trăm năm Thuận Hoá- Phú Xuân- Huế đã tích hợp những giá trị nhân văn riêng, đủ sức hội tụ, cảm hoá, thức dậy mỗi hồn người. Chất hoài niệm có tính lịch sử và nhân sinh, chất huyền ảo do sương khói Huế sinh ra đã làm nên độ lắng của từng bài thơ tạo nên sự lan toả suốt chiều dài lịch sử.

Tuy nhiên 700 năm Thơ Huế cũng có sơ suất đáng tiếc là trong tuyển không có hai nhà thơ gắn bó với Huế là Hoài Nam Nguyễn Trọng Cẩn là người có bài thơ nổi tiếng “Năm cụ bỗng nhiên rớt cái ình” và nhà thơ Vĩnh Mai, nguyên bí thư thành uỷ đầu tiên của Huế.

Đọc tuyển 700 trăm năm thơ Huế tôi phát hiện ra một sự thú vị: Tất cả Chúa, Vua, quan Đại thần cho đến phu xích lô nghèo Nguyễn Văn Phương, Phạm Huy Ngữ đều ngồi chung chiếu thơ Huế với những nỗi niềm tri âm đồng vọng. Cảm ơn những người biên soạn chí tình, cảm ơn UBND tỉnh Thừa Thiên- Huế đã đầu tư đến 250 triệu đồng cho tập tuyển thơ, để chúng ta có một tuyển thơ chất lượng cao, xứng tầm với Huế - vùng văn hoá trầm tích. Ở đất Huế thơ, ứng xử với thơ như thế thật “đáng đồng tiền bát gạo”.

 

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác