70 năm “Văn học khái luận” qua cái nhìn đương đại

Sáng 25/9 tại Viện Văn học đã diễn ra Hội thảo khoa học sự nghiệp văn học Đặng Thai Mai nhân tưởng niệm 30 năm ngày mất học giả Đặng Thai Mai và kỷ niệm 70 năm Văn học khái luận – công trình lý luận văn học hiện đại đầu tiên, có hệ thống của lý luận và mỹ học mác xít Việt Nam.

Tiếp tục khẳng định giá trị của Văn học khái luận

Năm 1943 bản Đề cương văn hóa của Đảng, một bản tuyên ngôn về đường lối văn hóa văn nghệ mác xít ở Việt Nam do đồng chí Trường Chinh Tổng bí thư của Đảng khởi thảo đã có tác động lớn đến tầng lớp trí thức, văn nghệ sĩ. Theo ý kiến TS. Trần Văn Toàn tầng lớp trí thức thời ấy không tránh khỏi những hoang mang với thời cuộc, với những kiến thức mình lĩnh hội và chỉ đến khi Bản đề cương văn hoá ra đời họ mới nhận thấy con đường đi của mình tiếp theo như thế nào. Đặng Thai Mai cũng vậy, Bản đề cương văn hoá đã có tác động nhất định để một năm sau ông cho ra mắt tác phẩm Văn học khái luận. Theo đánh giá của Viện trưởng Viện Văn học - Nguyễn Đăng Điệp: “Đây là công trình lý luận mác xít đầu tiên được viết một cách có hệ thống, giới thiệu và luận giải về các nguyên lý quan trọng nhất của văn học cách mạng”.

70 năm “Văn học khái luận” qua cái nhìn đương đại  - ảnh 1
Giáo sư Đặng Thai Mai

Văn học khái luận gồm 7 chương nói về các vấn đề lý luận. Chương 1 định nghĩa về văn học. Chương 2 nói về nguyên tắc văn học biểu hiện ý thức hệ và phát triển cùng sự tiến hóa của xã hội. Chương 3 đề cập vấn đề sáng tác, tính giai cấp qua các hình thái xã hội. Chương 4  nói về nội dung và hình thức. Chương 5 bàn về điển hình và cá tính. Chương 6 bàn về tự do sang tác, chương 7 đề cập đến tính dân tộc và tính quốc tế.

Mặc dù cho đến nay Văn học khái luận đã trải qua một mốc thời gian khá dài – 70 năm nhưng vẫn để lại những giá trị to lớn cho nền văn học đương đại.

Tại Hội thảo sự nghiệp văn học Đặng Thai Mai, khi nhìn nhận về Văn học khái luận, Giáo sư Phương Lựu nhận ra từ đó 5 bài học còn mãi, trong đó đang chú ý là “ Thành tố nước ngoài trong Văn học khái luận”. Đây cũng chính là tiêu đề tham luận ông gửi đến Hội thảo. Theo đó, GS. Phương Lựu đánh giá cao quan điểm của Đặng Thai Mai, rằng: Ở Việt Nam, chỉ có lý luận văn học học tập, ảnh hưởng khu vực và thế giới, không có thứ lý luận thuần tuý Việt Nam. Đặng Thai Mai từng viết: “Nếu như muốn gây dựng một nền văn học quốc gia cho đầy đủ, vững vàng thì ta càng cần thâu thái lấy những tinh hoa của thế giới, của nhân loại”.

Còn GS. Hà Minh Đức đánh giá giáo sư Đặng Thai Mai là người đắc đạo mới hành đạo. Sở dĩ ông học vấn uyên thâm như vậy nhưng phải đến năm 40 tuổi mới viết sách. Và khi đã viết là viết một loạt, trong đó có Văn học khái luận là một minh chứng.

Trong tham luận “Sức sống của một công trình lý luận văn học” PGS. TS Trần Khánh Thành tiếp tục khẳng định giá trị và những đóng góp to lớn của Văn học khái luận. Theo PGS.TS Trần Khánh Thành, Văn học khái luận đã đặt nền móng cho lý luận phê bình và có một sức sống không thể phủ nhận ở các phương diện: Đề cập bản chất của văn học, mối quan hệ giữa lý trí và tình cảm; Phẩm chất của nhà văn trong hoạt động nghệ thuật; Nhìn nhận tính dân tộc khá toàn diện, thẳng thắn.

Đánh giá về Văn học khái luận, PGS - TS Nguyễn Đăng Điệp nhấn mạnh: Những tư tưởng học thuật và phương pháp luận mác xít trong các công trình khoa học của Đặng Thai Mai đã ảnh hưởng sâu rộng đến tư duy nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học nói riêng và khoa học xã hội, nhân văn ở nước ta nói chung trong suốt mấy chục năm qua.

Những vấn đề không còn phù hợp

Báo cáo đề dẫn, bên cạnh ghi nhận những đóng góp nhiều mặt, nhiều lĩnh vực trong suốt cuộc đời cống hiến của sự nghiệp học giả Đặng Thai Mai, nhất là tác phẩm Văn học khái luận, PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp cũng rất thẳng thắn đưa ra quan điểm: “Từ điểm nhìn hôm nay, có thể nhận thấy trong công trình này còn một số vấn đề không còn phù hợp, những điểm cần được bổ sung hoặc cần được nhìn nhận một cách mềm dẻo, linh hoạt hoạt hơn”.

GS.TS Trần Đình Sử đã chỉ ra: Trong tư tưởng học thuật của giáo sư Đặng Thai Mai cũng có những điều ngày nay cần được nêu lại. Chẳng hạn thứ nhất, ông cho rằng bộ phận văn học chữ Hán trong văn học Việt Nam, do viết bằng chữ Hán, cho nên thuộc văn học Trung Quốc, không thuộc văn học Việt Nam.

Điểm nữa là Đặng Thai Mai đồng nhất văn nghệ với tuyên truyền. Theo lý giải của Trần Đình Sử thì “vấn đề văn học tuyên truyền là yêu cầu bức thiết của thời kì kháng chiến chống ngoại xâm. Văn học không thể không tuyên truyền cho cuộc kháng chiến của dân tộc. Không một nghệ sĩ Việt Nam chân chính nào từ chối công việc ấy”… Thực tiễn nghệ thuật của mấy chục năm qua cũng cho thấy đã có nhiều tác phẩm vừa tuyên truyền vừa văn học đã ra đời, như thơ Tố Hữu hay tùy bút của Nguyễn Tuân chẳng hạn.

Vấn đề biểu đạt cũng được GS. TS Trần Đình Sử nhắc tới trong đó có Văn học khái luận, bên cạnh những chỗ văn hay, khúc chiết, hóm hỉnh, thì việc biểu đạt vẫn có phần hạn chế do thiếu trong sáng, lạm dụng nhiều từ Hán Việt. Ví dụ ông không nói chủ trương mà nói “chủ trì”, không nói nêu vấn đề mà nói “đề khởi” vấn đề, không nói quan điểm rõ ràng mà nói quan điểm “thanh sở”, không nói kế thừa mà nói “tiếp tục”, không nói liên hệ mà nói “liên lạc”…

Riêng về vấn đề biểu đạt, có thể có nhiều người đồng tình và không. Bởi vì ngôn ngữ nhiều khi mang tính lịch sử. Giai đoạn này, thời điểm này thì viết như vậy, nói như vậy không có trở ngại gì, ai cũng đọc và hiểu được. Không riêng Văn học khái luận mà có rất nhiều văn bản, tác phẩm xa xưa có những đặc điểm này. Độc giả cần đặt tác phẩm trong bối cảnh ra đời để hiểu và tìm hiểu kỹ hơn khi tiếp cận với tác phẩm.

Bên cạnh nhìn nhận và đánh giá những đóng góp của giáo sư Đặng Thai Mai, Hội thảo còn là dịp để những học trò xuất sắc như Nguyễn Đình Chú, Hà Minh Đức… tri ân mới người thầy tài đức vẹn toàn

Hiền Nguyễn

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác