2014- Những cuộc chia tay các nhà văn lớn

 

(Toquoc)- Năm 2014 chưa hết, nhưng đã có hơn mười nhà văn, nhà thơ rời cõi tạm để trở về với đất mẹ bao dung. Trong số đó có cả những nhà văn từng xuất hiện trong buổi đầu tiên thành lập của Hội Nhà văn, hay còn gọi là Hội nghị thành lập Hội Nhà văn năm 1957, đó là các nhà văn: Anh Đức, Tô Hoài, Học Phi, Nguyễn Quang Sáng. Bên cạnh đó còn có nhà văn tên tuổi như Văn Linh, Nguyễn Kiên. Mặc dù trong số những nhà văn là Hội viên sáng lập - tức những nhà văn trong Ban chấp hành, và nhà văn có mặt tham dự từ buổi đầu thành lập Hội Nhà văn vẫn còn một vài người như Vũ Tú Nam, Nguyễn Xuân Sanh, Nguyên Ngọc… nhưng rõ ràng tên tuổi các nhà văn lớn lần lượt ra đi trong năm 2014 đã để lại niềm tiếc thương và một khoảng trống cho văn học Việt Nam.

 

Con đường Cách mạng và con đường văn chương song hành

Điểm chung dễ nhận thấy ở các nhà văn Anh Đức, Tô Hoài, Học Phi, Nguyễn Quang Sáng, Văn Linh, Nguyễn Kiên là đều tham gia Cách mạng từ khá sớm. Chiến trường đã tôi luyện ý chí để người lính cầm súng vững chắc đồng thời cũng là nơi bắt đầu sự nghiệp văn chương của họ.

Nhà văn Học Phi tham gia Cách mạng từ khi mới 15 tuổi, chưa đầy tuổi 20 ông đã được vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1932. Con đường viết văn của Học Phi bắt đầu từ năm 1936, khi ông ra khỏi nhà tù của thực dân Pháp. Vài năm sau thì những tác phẩm ông viết được xuất bản, như Xung đột (1939), Đắm tàu (1940), Dòng dõi (1941), Yêu và thù (1942)

Cũng như nhà văn Học Phi, nhà văn Nguyễn Quang Sáng khi mới 14 tuổi đã xung phong vào bộ đội, làm liên lạc cho đơn vị Liên Chi 2. Hai năm sau, trong môi trường quân ngũ, ông được đi học thêm văn hoá ở trường trung học kháng chiến Nguyễn Văn Tố. Học xong, Nguyễn Quang Sáng được về công tác tại phòng chính trị Bộ Tư lệnh phân khu miền Tây Nam Bộ, làm cán bộ nghiên cứu tôn giáo. Ông bắt đầu viết văn năm 1952 - khi 20 tuổi và in tác phẩm đầu tiên năm 1957- Con chim vàng, tập truyện ngắn Người quê hương năm 1958…

Nhà văn Anh Đức rời gia đình vào chiến khu của lực lượng kháng chiến ở miền Nam Việt Nam hoạt động từ khi còn rất trẻ. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp thì những truyện ngắn đầu tay của Anh Đức được ra đời. Tác phẩm đầu tay, với nhà văn Anh Đức được coi là một cuộc tự “khảo nghiệm” bản thân xem “có năng khiếu văn chương hay không”. Tác phẩm đầu tay được xuất bản của nhà văn Anh Đức là tập truyện Biển động in năm 1952 khi nhà văn mới 23 tuổi.

Ở tuổi 15, còn đang học trung học thì nhà văn Văn Linh vào bộ đội, chiến đấu tại chiến trường Bình Trị Thiên. Sau khi học sĩ quan, ông tham gia tình nguyện quân chiến đấu trên chiến trường Lào. Tác phẩm đầu tay của Văn Linh xuất bản khi ông 27 tuổi, là tiểu thuyết Mùa hoa dẻ. Năm sau là tiểu thuyết Goòng.

Tham gia Cách mạng trẻ nhất so với các nhà văn kể trên là trường hợp nhà văn Nguyễn Kiên, năm đó ông mới 12 tuổi đã là đội viên tuyên truyền xung phong thuộc Ban TTXP của Tổng bộ Việt Minh. Cùng với đó, ông cầm bút khá sớm, 21 tuổi, Nguyễn Kiên đã in tác phẩm viết cho thiếu nhi Những ngày đi lưu động (1956). Không những viết cho thiếu nhi, ông còn đều đặn viết truyện ngắn, truyện vừa.

Riêng nhà văn Tô Hoài thì có phần khác so với các nhà văn kể trên. Trước khi đến với văn chương, Tô Hoài làm nhiều nghề khác nhau như dạy trẻ, bán hàng, kế toán… thậm chí có lúc… thất nghiệp! Nhưng đến khi ông viết văn thì dường như cuộc đời của Tô Hoài chuyển sang một hướng khác. Ngay từ tác phẩm đầu tay Dế mèn phiêu lưu ký ra mắt bạn đọc năm 1940 , khi Tô Hoài 20 tuổi đã gây tiếng vang lớn từ khi xuất hiện cho đến tận bây giờ. Sau thành công bước đầu của văn chương, Tô Hoài gia nhập Hội Văn hoá Cứu quốc, sau đó làm ở báo Cứu Quốc của Tổng bộ Việt Minh.

 

Là những nhà văn đa tài

Bên cạnh viết văn sớm, các nhà văn kể trên còn là những người đa tài và liên tài. Chất lượng được khẳng định mà số lượng cũng rất đáng nể. Thể loại thì đa dạng và ở thể loại nào cũng mang lại thành công; từ truyện thiếu nhi, tiểu thuyết, hồi ký, truyện ngắn đến kịch bản sân khấu, kịch bản điện ảnh.

Về tiểu thuyết, có thể kể đến những tác phẩm để lại tiếng vang trong nền văn học Việt Nam như: Hòn đất của Anh Đức, Tô Hoài có Truyện Tây Bắc, Quê nhà, Miền Tây… Văn Linh có Mùa hoa dẻ, Đêm sương muối, Trên đất bạn… Đất lửa, Mùa gió chướng, Dòng sông thơ ấu… của Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Kiên có Vùng quê yên tĩnh, Nhìn dưới mặt trời, Một cảnh đời. Học Phi với Xung đột, Đắm tàu, Dòng dõi.

Về truyện ngắn, có các tập sách: Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng, Trong làng, Nơi xa… của Nguyễn Kiên, Một chuyện chép ở bệnh viện, Bức thư Cà Mau của Anh Đức, Nhà nghèo, Giăng thề, Người ven thành... của Tô Hoài, Nhà văn Văn Linh có tới 23 tập truyện ngắn…

Về văn học thiếu nhi Tô Hoài nổi tiếng với Dế mèn phiêu lưu ký, Nguyễn Kiên có Chú Đất Nung, Nguyễn Quang Sáng có Dòng sông thơ ấu, Văn Linh có Lý Tử Lân, Chiếc kèn đồng, Mùa bóng bưởi, Em bé thôn Vĩnh Thuận…

Một số tác phẩm văn học đã được chuyển thể thành kịch bản sân khấu và kịch bản phim khiến cho tác phẩm được biết đến rộng rãi hơn. Tác phẩm được chuyển thể cũng gặt hái được thành công. Những tác phẩm tiêu biếu đó là của nhà văn Tô Hoài với Vợ chồng A Phủ, Nguyễn Quang Sáng với Cánh đồng hoang, Mùa gió chướng, Học Phi với Cà sa giết giặc, Ngày mai, Chị Hoà, Ni cô Đàm Vân, Văn Linh với 20 kịch bản phim truyện, phim truyền hình và phim hoạt hình, Anh Đức với Chị Sứ, Chị Tư Hậu

Trong hệ thống sách giáo khoa ngữ văn, những tác phẩm tiêu biểu hoặc những đoạn trích của tác phẩm tiêu biểu đó được giới thiệu và trở thành nội dung tìm hiểu, học và đọc thêm của học sinh. Đó là tác phẩm của những tác giả Anh Đức, Tô Hoài, Học Phi, Nguyễn Kiên, Nguyễn Quang Sáng.

 

Là những nhà văn giữ nhiều trọng trách

Giữ nhiều trọng trách văn chương nước nhà là đảm nhiệm nhiệm vụ quan trọng của các tổ chức, Đoàn, Hội liên quan đến văn chương. Nói như cách nói vui bây giờ là “quan chức văn chương”. Hiểu một cách có móc nối thì phải những nhà văn như thế nào mới được tin tưởng giao phó và đảm nhiệm những trọng trách quan trọng của văn chương về các mặt. Trước tiên là giá trị tác phẩm, quan điểm nghệ thuật, đạo đức lối sống, uy tín đồng nghiệp…

Nhà văn Tô Hoài từng là Hội viên sáng lập hội Nhà văn Việt Nam năm 1957. Ngay từ Hội nghị thành lập Hội Nhà văn lần đầu tiên ông đã được bầu vào Ban chấp hành và giữ trọng trách Tổng thư ký. Các nhiệm kỳ sau, ngoài đảm nhiệm công việc của phó tổng thư ký, uỷ viên ban chấp hành, ông còn làm Bí thư Đảng đoàn Hội Nhà văn Việt Nam, Chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội.

Nhà văn Nguyễn Quang Sáng là Hội viên Hội Nhà văn từ năm 1957. Sau giải phóng năm 1975 ông làm Tổng thư ký Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh khoá 1,2,3, là uỷ viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khoá 2, 3 và Phó Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam khoá 4.

Nhà văn Học Phi được giao nhiệm vụ cùng Vũ Quốc Uy xây dựng Hội Văn hóa Cứu quốc Việt Nam. Sau Cách mạng tháng 8, ông làm Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Cách mạng tỉnh Hưng Yên. Năm 1946 làm Trợ lý Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền. Năm 1947-1948, ông làm Tổng thư ký Hội Văn hoá kháng chiến Liên khu III, sau chuyển lên Ban biên tập Ban Tuyên huấn Trung ương, rồi phụ trách Đoàn Văn công Trung ương. Hoà bình lập lại, Học Phi trỏ về Hà Nội. Ông giữ chức làm Giám đốc Nhà hát Kịch Việt Nam, rồi Tổng thư ký Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam cho tới lúc về hưu.

Ở các cương vị làm quản lý, trong giai đoạn chiến tranh, Anh Đức từng nắm giữ các chức vụ: tổng biên tập tạp chí Văn nghệ giải phóng, ủy viên Ban thư ký Hội nhà văn Việt Nam. Sau năm 1975, có thời gian Anh Đức là ủy viên Ban thư ký Hội nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh; tổng biên tập tạp chí Văn, ủy viên Đảng đoàn các khóa 2 và 3, đại biểu quốc hội khóa 7, Phó tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam khoá 5,6.

Nhà văn Nguyễn Kiên từng làm Tổng biên tập Nhà xuất bản Tác phẩm mới, giám đốc Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Uỷ viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam.


Nhà văn được ghi nhận bằng nhiều giải thưởng

Nhà văn Học Phi được Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng nhất và Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt 1)

Nhà văn Tô Hoài được các giải thưởng: Giải nhất Tiểu thuyết của Hội Văn nghệ Việt Nam 1956 (Truyện Tây bắc), Giải A Giải thưởng Hội Văn nghệ Hà Nội 1970 (tiểu thuyết Quê nhà), Giải thưởng của Hội Nhà văn Á-Phi năm 1970 (tiểu thuyết Miền Tây), Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật (đợt 1 - 1996), Giải Bùi Xuân Phái - Vì tình yêu Hà Nội 2010

Nhà văn Anh Đức từng được các giải thưởng văn chương: Giải nhất truyện ngắn của tạp chí Văn nghệ (1958), Giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu (truyện, 1965), Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học năm 2000.

Nguyễn Quang Sáng là nhà văn sở hữu nhiều giải thưởng văn chương, trong đó có: Ông Năm Hạng - truyện ngắn giải thưởng cuộc thi truyện ngắn báo Thống Nhất (1959), Tư Quắn - truyện ngắn, giải thưởng cuộc thi truyện ngắn tạp chí Văn nghệ quân đội (1959), Dòng sông thơ ấu - giải thưởng Hội đồng văn học thiếu nhi Hội Nhà văn (1985), Con mèo của fujita - tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh, giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1994, Cánh đồng hoang (kịch bản phim) bộ phim được tặng Huy chương vàng liên hoan phim toàn quốc (1980, Huy chương vàng liên hoan phim ở Moskva (1981), Mùa gió chướng (kịch bản phim) Huy chương bạc liên hoan phim toàn quốc (Hà Nội 1980), Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật đợt II.

Nhà văn Nguyễn Kiên cũng có những giải thưởng: Giải thưởng Nhà nước về VHNT đợt I năm 2001, Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2001, Giải thưởng văn học Đông Nam Á năm 2002.

Với những gì để lại cho hậu thế, các nhà văn dù đã ra đi nhưng chắc chắn tên tuổi cùng tác phẩm của họ sẽ sống với thời gian và trong lòng bạn đọc.

Hà Anh (tổng hợp)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác