Vương Trọng như tôi cảm nhận

Nhà thơ Hoàng Cát

Vương Trọng, với tư cách và thiên chức của một nhà thơ, đã thể hiện được rất đậm nét tình nhân hậu, lòng bao dung đối với con người, đối với cuộc đời lớn rộng - thông qua mọi sáng tác thơ của mình.

Vương Trọng như tôi cảm nhận - ảnh 1Chúng tôi - Vương Trọng và Hoàng Cát – quen biết rồi thân nhau từ dạo cả hai cùng được về dự học khoá 5 Trường bồi dưỡng những người viết văn trẻ, do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức năm 1972, tại Nhà sáng tác của Hội ở Quảng Bá, Hà Nội. Khi ấy, chúng tôi đều cùng là lính. Tôi vừa bị thương ở chiến trường miền Nam ra, phải lắp chân giả, đi chưa quen, còn rất tập tễnh, đau đớn trong từng cái nhấc chân lên, đặt chân xuống. Trọng thì bấy giờ đã là một sĩ quan trẻ của quân đội ở miền Bắc; mang quân hàm chuẩn uý hay thiếu uý gì đấy, làm giáo viên dạy Toán trong quân đội.

Thế là, nhờ cơ duyên trời xui đất khiến, từ đó đến nay, ngót ba mươi lăm năm, chúng tôi thành bạn văn chương và bạn chơi cờ tướng thân thiết của nhau. Ngoài ra, chúng tôi còn là bạn cùng quê Nghệ An, cùng một thế hệ trùng khít nhau trên nhiều phương diện về gia đình, dòng tộc cũng về xã hội. Tôi tuổi Nhâm Ngọ, sinh năm 1942; Trọng tuổi Quý Mùi, sinh năm 1943. Tôi đã về tận gia đình lớn của Vương Trọng ở quê nhà tại huyện Đô Lương, thăm cho biết thêm hoàn cảnh của bạn… Do vậy, tôi có thể nói mà không sợ nhàm rằng, tôi hiểu khá chính xác về con người và thơ Vương Trọng.

Trước hết, theo tôi, Vương Trọng là một con người rất nhân hậu. Ở lớp học của “những cây bút trẻ” tại Quảng Bá năm ấy, chúng tôi có khoảng hai chục học viên, đều là những cán bộ, chiến sĩ, công chức nhà nước được cử đi học; ai cũng đã ít nhiều có được một cái tên khá quen thuộc trên văn đàn lúc bấy giờ rồi. Nhưng trong lớp học ấy, thì chỉ có duy nhất mỗi mình tôi là thương binh tàn phế, đi lại rất khó khăn. Bỗng một đêm khuya, cuối tháng 12/1972, lúc trời sắp sáng, giữa lúc mọi người đang ngủ rất say, máy bay B52 của Mỹ đến ném bom ồ ạt xuống khu tập thể An Dương, cách Trường viết văn chúng tôi chưa đầy một ngàn mét đường chim bay. Thì người đầu tiên chạy ào đến phòng của tôi (ở cùng với các nhà văn Trần Hoài Dương, Bùi Việt Sĩ và Tòng Ín) để giúp cõng tôi chạy ra hầm trú ẩn, lại chính là Vương Trọng - mặc dù, hằng ngày anh ít khi sang phòng chúng tôi chơi.

Đấy là cái nghĩa cử đầu tiên của Vương Trọng đã dành cho tôi một cách tự nhiên, trong những ngày tháng chúng tôi gặp nhau lần đầu tiên ấy, cho nên con người anh đã đóng chặt và in đậm một cái dấu ấn, không cách gì tàn phai được trong tâm tưởng tôi. Tôi có thể kể ra đây hàng chục việc làm cụ thể của Vương Trọng mà tôi biết, để khẳng định rằng, thiên bẩm, anh là người hết sức nhân hậu, tử tế. Tuy nhiên, điều đáng mừng hơn hết cho Vương Trọng, là với tư cách và thiên chức của một nhà thơ, anh đã thể hiện được rất đậm nét tình nhân hậu, lòng bao dung đối với con người, đối với cuộc đời lớn rộng – thông qua mọi sáng tác thơ của mình.

Ví như trong bài thơ quen thuộc của anh: “Bên mộ cụ Nguyễn Du”; tôi không hiểu các thầy giáo, cô giáo khi giảng cho học sinh có cảm nhận hết được cái hay trong độ sâu của của câu thơ này không: “Không vầng cỏ ấm tay người/ Nén hương tảo mộ cắm rồi, lại xiêu”? Đó là, ngoài sự vô tâm, vô tình, vô đạo của người đời (cho dù vì bất kỳ lý do gì), bỏ mặc cho ngôi mộ của một Thi hào dân tộc như Nguyễn Du trơ trọi, hoang phế ra như thế, câu thơ còn hàm chứa ngoài lời của nó rằng nơi đây là cả một vùng đất “chó ăn đá, gà ăn sỏi”- đất bạc, đất cứng, đất khô đến nỗi nén hương tảo mộ “cắm rồi lại xiêu”; da diết và hay nhất là ở bốn chữ sau cùng ấy! Như thế là, người thi sĩ Vương Trọng không chỉ có xót thương cụ thể và trực tiếp cho phần hồn và phần mộ Thi hào dân tộc Nguyễn Du lúc bấy giờ thôi đâu, mà đã mặc nhiên xót xa cho biết bao cuộc đời của cả một miền đất khô cằn, khốn khó. Hiểu thơ, phải hiểu sâu sắc, thấu đến tận những tầng nấc như thế, mới thoả đáng với sự lao tâm, khổ tứ và những nỗi dày vò trong huyến quản của những nhà thơ tài năng đích thực.

Nhưng, cái bản chất nhân hậu trong con - người – nhà – thơ của Vương Trọng được thể hiện rõ nét nhất, gây ấn tượng mạnh mẽ nhất, là ở trong các bài thơ anh viết về thân phận bi hài của con người nói chung, đặc biệt là với trẻ em và phụ nữ trong cuộc sống gia đình, cũng như trong mối quan hệ với cộng đồng xã hội. Tiêu biểu về mảng đề tài này của anh, có hai bài: “Với đứa con ngoài giá thú”, và “Hai chị em”. Cả hai bài thơ này, anh đều thác lời của người trong cuộc; nghĩa là anh nói thay, nói hộ cho những số phận đắng cay, tủi nhục giữa cuộc đời dâu bể này. Tuy nhiên, dẫu là nói thay, nhưng nó hết sức chân thành và da diết. Nhiều người khi đọc những bài thơ này đã không cầm được nước mắt: “Mẹ làm mẹ mà chưa từng làm vợ/ Vẫn suất cơm tập thể quá khiêm nhường/ Nửa làm máu, nửa chia ra làm sữa/ Hạnh phúc nào bằng san sẻ yêu thương” (Với đứa con ngoài giá thú)

Điều đặc biệt bao trùm bàng bạc lên toàn bộ thơ Vương Trọng, đồng thời và liền ngay bên cạnh cái “bi” giữa cuộc đời là cái “hài” tự thân hiện diện như là bản chất bất biến của sự sống muôn thuở. Chẳng hạn, trong bài thơ chúng ta đang bàn ở đây, Vương Trọng vẫn phát hiện ra cái yếu tố “gây cười”, nhưng cười chưa xong thì đã muốn trào nước mắt: “Pháp cưới người như đốt để trêu nhau!” Hoặc trong bài “Hai chị em”, cái bi kịch bố mẹ ra toà để ly hôn, chia của, chia con; nó ảm đạm và nặng nề đến như thế; vậy mà Vương Trọng vẫn là người nhìn ra cái “hài”, nhưng lại đau xót đến thắt lòng hơn cả cái bi: “Đứa còn mẹ thì thôi không còn bố”! Riêng với tôi, tôi cho rằng, đấy là cái thiên chất Vương Trọng trong cuộc đời thường và trong cả sự nghiệp Thi ca của anh. “Khóc giữa chiêm bao” là một bài thơ thật buồn. Bài này anh viết cho bản thân cuộc đời của anh, về người mẹ nghèo khó thở nào anh còn bé tí. Vậy mà vẫn có thể bật ra được những câu cười ra nước mắt như: “Có gì nấu đâu mà nhóm lửa/ Ngô hay khoai còn ở phía mẹ về…”. Theo khoa học nghiên cứu về con người, ai mang trong mình đặc tính hài hước một cách bẩm sinh – dù trong hoàn cảnh nào- thì hàm lượng thiên lương, độ lượng, vị tha của họ nhiều hơn những người thiên về “bi trầm”. Tôi hoàn toàn tin chắc chắn điều đó.

Vốn là người có thiên tư thông minh từ nhỏ, lại được học nghiêm chỉnh chuyên ngành Toán của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội ra, đồng thời là người ham tự mày mò đọc và học về văn học cổ kính đông tây, Vương Trọng đã tự trang bị cho mình những vốn tri thức cần và đủ cho một nhà thơ, một con người trí thức bình thường như nhiều người khác trong giới cầm bút.

Được biết, anh đang âm thầm và cặm cụi dịch lại tất cả thơ chữ Hán của Nguyễn Du; riêng tôi vô cùng khâm phục tình yêu của anh dành cho Thơ nói chung, và cho thơ Nguyễn Du nói riêng. Anh là người chín chắn và lao động văn học khá nghiêm túc, kể cả trong những mẩu chuyện, những câu đối đầy tính hóm hỉnh mà nhiều người đã biết hoặc nghe tiếng. Chúng ta hy vọng và chờ đợi những thành tựu sáng tác cũng như phiên dịch mới tiếp theo của Vương Trọng…


                                                                                                    (Nghệ An cuối tuần)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác