VĂN CAO HÀO HÙNG VÀ VĂN CAO LÃNG MẠN

(Toquoc)- Nhân kỷ niệm 12 năm ngày mất của nhạc sĩ Văn Cao - tác giả Quốc ca, báo Tổ Quốc điện tử đã có cuộc phỏng vấn Nhà thơ, Nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha - Tác giả cuốn “Văn Cao - Người đi dọc biển” về hai dòng âm nhạc trong một con người Văn Cao: dòng cách mạng và dòng lãng mạn.

VĂN CAO HÀO HÙNG VÀ VĂN CAO LÃNG MẠN - ảnh 1


- Ngay sau khi ra đời, bài “Tiến quân ca” đã được đón nhận nồng nhiệt. Vì sao bài hát này được chọn làm Quốc ca?

Nhà thơ N.T.K: Bài “ Tiến quân ca” được Văn Cao viết ra từ chỉ thị của đồng chí Vũ Quý - Một cán bộ cao cấp của Mặt Trận Việt Minh - hồi cuối năm 1944. Sau khi bản hành khúc mang tính dự báo cách mạng này ra đời, nó đã được bí mật phổ biến tại miền chiến khu khi ấy đã thành lập Đội Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân. Càng qua thời gian, bản hành khúc càng được phổ biến rộng rãi và được đón nhận nồng nhiệt.

Tại Đại Hội Quốc Dân ở Tân Trào, bài “Tiến quân ca” đã được chọn làm bài hát chính thức của Mặt Trận Việt Minh. Sau Cách mạng Tháng Tám, bài hát đã trở thành bài hát chào cờ của Chính Phủ Lâm thời Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Đến kỳ họp Quốc hội đầu tiên ngày 6.1.1946, bài “Tiến quân ca” đã được Quốc hội chọn làm Quốc ca vì nó thể hiện được ý chí và khát vọng độc lập tự do của dân tộc. Có lúc, năm 1981, Nhà nước đã có ý định thay đổi một “Quốc ca mới”. Nhưng cuộc vận động sáng tác Quốc ca mới đã không thành công vì sức sống của “Tiến quân ca” đã hoá thành sức sống bất tử của dân tộc. Không thể thay đổi được.

- “Sông Lô” - một trong những bài hát cách mạng hay nhất. Không chỉ hoành tráng như một trường ca mà giai điệu còn thấm sâu vào mọi người dân Việt Nam bình dị nhất. Bài hát này đã ra đời như thế nào, thưa nhà thơ?

Nhà thơ N.T.K: Chiến thắng Sông Lô Thu Đông 1947 là chiến thắng vang dội đầu tiên của quân và dân ta, đập tan chiến lược “ tìm và diệt” của thực dân Pháp đã có một bộ tứ bình âm thanh ca ngợi chiến thắng này. Đó là “ Lô Giang” của Lương Ngọc Trác, “Chiến sĩ Sông Lô” của Nguyễn Đình Phúc, “Tiếng hát Sông Lô” của Phạm Duy và “ Trường ca Sông Lô” của Văn Cao. Khi chiến dịch xảy ra, Văn Cao đang còn thực hiện một nhiệm vụ lập phòng tuyến an ninh biên giới ở Lào Cai. Văn Cao về Sông Lô khi quân ta vừa chiến thắng. Khói lửa của trận đánh còn nghi ngút bên bờ sông. Văn Cao gặp đồng chí Doãn Tuế - Vị chỉ huy đầu tiên của pháo binh Việt Nam và được đồng chí đưa đi thăm chiến trường dọc Sông Lô. Vì đã viết “Chiến sĩ Việt Nam” cho bộ binh, “ Bắc Sơn” cho dân quân du kích, “Hải quân Việt Nam” và “Không quân Việt Nam”, Văn Cao có ý định viết về pháo binh Việt Nam từ chiến thắng Sông Lô. Nhưng thực tế lớn lao của chiến dịch, đã khiến cho cảm xúc của Văn Cao không thể dừng lại ở một binh chủng pháo binh, mà nó đã dâng lên chất ngất trở thành một bức tranh âm thanh hoành tráng. Từ một cấu trúc như “ Dòng sông Đa Nuýp xanh” của Johan Strauss, Văn Cao đã sáng tạo ra “Trường ca Sông Lô” mà trong đó có nhịp chèo thuyền (Bacaron) rất Việt Nam. Trường ca Sông Lô đã chảy lai láng trong lịch sử âm nhạc Việt Nam.

- “Ngày mùa”, “Làng tôi” mang màu sắc chiến tranh nhưng cũng mang đậm màu sắc trữ tình và khát khao hoà bình, tình yêu cuộc sống của mọi người. Giai điệu đẹp đến nỗi mỗi khi cất lên, người ta biết ngay là nét nhạc của Văn Cao khắc hoạ làng quê Việt Nam thời bấy giờ. Ông nghĩ gì về bức tranh âm nhạc đó?

Nhà thơ N.T.K: Bên cạnh thơ và nhạc, Văn Cao còn rất tài hoa trong hội hoạ. Bởi vậy không lạ gì âm nhạc của Văn Cao thường mang màu sắc và đường nét của hội hoạ. “Ngày mùa” và “Làng tôi” là hai bức tranh thuốc nước bằng âm thanh của Văn Cao về làng quê đồng bằng Bắc Bộ mà cụ thể là vùng Ba Thá - Hà Đông cũ. Một buổi chiều đi họp trở về, Văn Cao vừa đi giữa đồng lúa vừa nghe tiếng chuông nhà thờ bình boong, bính boong. Vậy nét nhạc “Làng tôi xanh bóng tre …” đã hình thành. Từ “Chiều quê” của huynh trưởng Hoàng Quý của nhóm “ Đồng vọng ” Hải Phòng, Văn Cao đã góp phần “Việt hoá” cái nhịp khiêu vũ cung đình - nhịp valse, trở thành nhịp làng quê Việt Nam. Vì lấy âm hình là tiếng chuông nhà thờ nên ca từ của Văn Cao đầu tiên ở “Làng tôi” là “Chiều khi quân ác qua…” chứ không phi là “Chiều khi quân Pháp qua …” như mọi người thường hát. Tầm nhìn của Văn Cao bao giờ cũng vượt lên trên những gì cụ thể, để đạt tới tầm khái quát. Hai bức tranh âm thanh bằng thuốc nước này là bước phát triển từ “Cung đàn xưa” và “Thu cô liêu” thời tiền chiến và cũng là bước chuyển tới “ Mùa xuân đầu tiên” sau này độc đáo một Văn Cao khi khắc hoạ về làng quê Việt Nam.

- Ca ngợi Hồ Chủ Tịch. Viết về lãnh tụ, là một điều cao cả và khó ... Phải chăng nhạc sĩ giống như mọi nghệ sĩ khác luôn tỏ lòng thành kính với Bác Hồ?

Nhà thơ N.T.K: Ngay từ chiều 2 tháng 9 năm 1945 lịch sử, Văn Cao đã được Tố Hữu đưa tới gặp Bác Hồ. Lần đầu tiên tác giả “ Tiến quân ca” gặp con người huyền thoại: Chủ tịch Hồ Chí Minh. Văn Cao thấy “ Cụ” lớn quá nên hoang mang, không thể viết ngay ra được một “ Biết ơn Cụ Hồ ” như Lưu Bách Thụ. Mãi tới khi đi chiến dịch Biên Giới, nhìn thấy những thương binh què, cụt, hỏng mắt nằm trên cáng nhưng vẫn luôn gọi tên Bác Hồ với ước ao mong được nghe tiếng Bác, mong được gặp Bác. Một rung cảm dâng đầy trong Văn Cao. Hồ Chủ Tịch khi ấy không còn là hình như một cá nhân nữa mà là một hình ảnh thiêng liêng “Cha già dân tộc”. Và đến khi ấy, nét nhạc của “Ca ngợi Hồ Chủ Tịch” mới thực sự da diết vang lên: “Người về đem tới ngày vui - Mùa thu nắng cỏ Ba Đình ...”

- Văn Cao được coi như một trong những nhạc sĩ cây đa cây đề của âm nhạc Việt Nam. ấn tượng nhất với tôi là “Thiên Thai”, khi nghe có cảm giác như được lạc vào cõi tiên. Ngoài mơ ước con người, bài hát còn miêu tả điều gì khác theo ông? Hoàn cảnh ra đời của bài hát?

Nhà thơ N.T.K: “Thiên Thai” là một bản ba - lát (ballade). Kể về cảm giác khi nghe khúc “Thiên Thai cổ” của ca trù và nhớ tới tích Lưu - Nguyễn ngày xưa lạc vào cõi tiên. Ngoài mơ ước bay lên cõi tiên của con người, “Thiên Thai” còn chứa đựng nỗi khát khao của tuổi trẻ về tình yêu, mong mỏi: “ánh trăng xanh mờ tan thành suối trần gian - ái ân thiên tiên em ngờ phút mê cuồng có một lần ...”. Nhờ sức bay bổng của giai điệu, “Thiên Thai” đã được tấu lên bằng dàn nhạc và được các phi công vũ trụ mang theo khi rời trái đất. Hiện nay, nhạc “Thiên Thai” đang được sử dụng trong bài thể dục dưỡng sinh “Thái cực trường sinh” của người cao tuổi Việt Nam.

Văn Cao viết “ Thiên Thai” bằng ám ảnh sông Hương xứ Huế mà ông có dịp tới thăm mùa thu năm 1940 và ấn tượng khi đi thuyền trên sông Phi Liệt - Thuỷ Nguyên Hải Phòng và nghe ca trù. Năm ấy Văn Cao vừa tròn 18 tuổi (1941).

- Thời lãng mạn, các nhạc sĩ thi nhau đưa ra những lời hay ý đẹp nhất, miêu tả khung cảnh lãng mạn nhất mà con người hướng tới. Văn Cao có “Thu cô liêu”, một nét riêng, giai điệu và lời thơ hoà quyện, ý tứ sâu sa. Cảm nhận này có đúng không, thưa ông?

Nhà thơ N.T.K: Rất đúng. “Thu cô liêu” được Văn Cao viết vào mùa thu năm 1942. Khi ấy, ông lên Hà Nội học dự thính tại Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương và tá túc tại Chùa Láng. Không khí Phật thiền của ngôi chùa đã khiến cho Văn Cao vừa nhớ tiếc thuở cắp sách xa xưa và nhớ nhung những bóng hồng lướt nhanh qua năm tháng đầu thanh xuân. Giai điệu nhạc rất đẹp. Lời ca vừa mờ ảo, vừa ý nhị: “Thu cô liêu tịch liêu, cô thôn chiều”. Cách ngẫm nghĩ rất già của một chàng trai mới 19 tuổi.

- Lời bài hát của Văn Cao đẹp như thơ và như tranh. Thường ngày ông có phải là người “ xuất khẩu thành thơ”? Những nguồn cảm hứng chủ yếu của một người đa tài như ông? Một cảnh đẹp? Một người con gái đẹp?

Nhà thơ N.T.K: Bên cạnh tài thơ văn và nhạc, Văn Cao còn vẽ rất đẹp. Bởi vậy, lời bài hát của Văn Cao được ngẫm nghĩ và viết ra rất đẹp như thơ và như tranh. Bài “ Suối mơ” còn được gọi là “Bài thơ bên suối”. Tuy Văn Cao không phải là người “ xuất khẩu thành thơ” mà chỉ “xuất khẩu thành tư tưởng”. Nhưng khi làm bài hát, ông ngẫm nghĩ rất kỹ càng. Nguồn cảm hứng của ông thời lãng mạn chủ yếu là thiên nhiên và những mộng mơ tuổi trẻ. Tuy nhiên cũng có bài là để dành cho một người đẹp, cảm hứng từ một người đẹp như “Bến xuân” chẳng hạn.

- Cho đến nay, nhạc Văn Cao vẫn được hát, vẫn được đón nhận nồng nhiệt. Theo ông, trong tương lai, nó có còn sống mãi với thời gian?

Nhà thơ N.T.K: Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã từng viết: “Trong âm nhạc, Văn Cao sang trọng như một ông hoàng. Âm nhạc của ông là âm nhạc thần tiên bay bổng. Ông đi qua cuộc đời và hát. Hát cho người và hát cho mình”. Còn tôi nghĩ nếu Đỗ Nhuận là đời cho, Nguyễn Xuân Khoát là người cho, Lưu hữu Phước là thời cho thì Văn Cao là trời cho. Âm nhạc Văn Cao kể cả những bài hát viết về những điều cụ thể nhưng đằng sau những điều ấy có gì gửi gắm thật xa xăm, thật cao rộng. Bởi vậy, âm nhạc Văn Cao qua thời gian không hề bị cũ. nó đã trở thành cổ điển. Nó sẽ được hát mãi từ quá khứ, đến hôm nay. Và đến cả mai sau. Nó sống mãi cùng thời gian.

P.V

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác