Vài nét về Phan Khôi

(Toquoc)- Phan Khôi là một nhà báo tân học kỳ cựu, đồng thời là nhà phê bình văn học có nhiều đóng góp vào quá trình hiện đại hóa báo chí tiếng Việt, văn chương hiện đại Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.

Vài nét về Phan Khôi - ảnh 1

Phan Khôi sinh ngày 20/8/1987, quê quán tại Bảo An, Điện Bàn, Quảng Nam. Hiệu là Chương Dân, biệt hiệu Tú Sơn, các bút danh khác: Thông Reo, CD, K. Kh, Tân Việt... Xuất thân trong gia đình khoa bảng, ông đậu tú tài Hán học năm 1905. Là trí thức yêu nước, tham gia phong trào Duy Tân (1905 - ở quê Quảng Nam) phong trào Đông kinh nghĩa thục (1907 - Hà Nội).

Ông bền bỉ theo học Pháp văn và tự học chương trình tân học, say mê hoạt động báo chí, cổ động cho phong trào cải cách, đổi mới trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Từ năm 1907 đến 1939, ông cộng tác với nhiều tờ báo, tạp chí ở Hà Nội, Sài Gòn, Huế, cho đăng hàng nghìn bài báo, tiểu phẩm, tạp văn. (Gần đây một phần các tác phẩm đăng báo năm 1928, 1929, 1930 của Phan Khôi được Lại Nguyên Ân sưu tầm, biên soạn, xuất bản thành 3 tập tại Hà Nội vào các năm 2003, 2005, 2006).

Phan Khôi nổi tiếng với các bài trong các cuộc tranh luận do ông khởi xướng hoặc tham gia: về Nho giáo, về Truyện Kiều, về Quốc học, về viết chữ Quốc ngữ, về Duy tâm hay Duy vật, về Thơ mới, Thơ cũ... Đặc biệt với bài Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ, kèm theo bài thơ Tình già, (10/3/1932) ông được coi là người mở đầu cho cuộc cách tân văn học của Phong trào Thơ Mới.

Trước Cách mạng tháng 8, ông cho xuất bản Nam âm thi thoại, sau đổi là Chương dân thi thoại (1936), Trở vỏ lửa ra (tiểu thuyết 1939) và dịch Kinh Thánh (từ chữ Hán, khoảng 1920).

Là một nhà Nho vốn Hán học vững vàng nhưng xu hướng về Tây học, khi viết báo, viết phê bình khảo cứu văn chương, Phan Khôi nổi tiếng ở sự xông xáo, ham tìm tòi, hiểu biết và tranh luận để ngã ngũ, nói thật, nói thẳng các ý kiến nung nấu của mình, thể hiện tinh thần thực chứng với luận lý chặt chẽ, lôgic. Ông hướng về cái mới, tiến bộ, khách quan và khoa học có sự kiểm chứng và theo đuổi sự tiện ích, hợp lý, phù hợp với tinh thần của thời đại, nghiêm khắc phê phán, giễu cợt sự bảo thủ, giáo điều, chủ quan, phiến diện. Tuy trong ý kiến của ông không phải lúc nào cũng đúng, đôi lúc là ngộ nhận, áp đặt, nhưng chí ít ông đã thẳng thắn khơi lên các khía cạnh học thuật cần đào sâu để thấu đáo bản chất của vấn đề, gắn lý luận với thực tiễn, áp sát học thuật vào đời sống xã hội mà tham chiếu, giải quyết.

Sau tháng 8/1945, ông theo kháng chiến lên chiến khu Việt Bắc tham gia hoạt động trong Hội Văn nghệ Việt Nam, đảm nhận dịch văn học và nghiên cứu ngôn ngữ tiếng Việt. Những bài viết về tiếng Việt trong thời kỳ này, năm 1955 được tập hợp xuất bản thành sách tại Hà Nội với tên gọi Việt ngữ nghiên cứu.

Hòa bình lập lại, về Thủ đô Hà Nội, ông là sáng lập viên của Hội Nhà văn Việt Nam (1957). Tiếp tục công việc dịch thuật từ tiếng Hán ra tiếng Việt, ông cho xuất bản: Anh Hai đen lấy vợ (Triệu Thụ Lý, 1955), Tuyển tập thơ, truyện M.Gorky (1956), Tuyển tập Tiểu thuyết Lỗ Tấn (1956), Tuyển tập Tạp văn Lỗ Tấn (1956).

Về cuối đời ông làm Chủ nhiệm báo Nhân văn và tham gia viết bài cho Giai phẩm Mùa thu. Sau khi báo và tạp chí nói trên bị̀ đình bản, ông thôi cầm bút. Ông mất ngày 16/01/1959 tại Hà Nội.

Phan Khôi là một nhà báo tân học kỳ cựu, đồng thời là nhà phê bình văn học có đóng góp nổi trội vào quá trình hiện đại hóa báo chí tiếng Việt, văn chương hiện đại Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.

Văn phong báo chí, phê bình văn học của ông rất độc đáo, thể hiện một tư duy thiên về lý tính, trực tính, thẳng thắn, cầu thị. Ông có lối nói mạch lạc, cú pháp hiện đại mới mẻ, chăm chút trong sử dụng từ ngữ một cách hiệu quả, giàu tính bút chiến, kích thích sự tranh biện của đồng nghiệp, của bạn đọc.

Những nhận xét có vẻ vụn vặt, lẻ tẻ của ông về việc dùng tiếng Việt theo các loại từ, thực chất đã cho thấy sự tinh tế quan sát và nghiền ngẫm thấu đáo của một người cầm bút lâu năm và kỹ tính. Chúng được giới nghiên cứu ngôn ngữ học trong nước đánh giá cao, bởi các ý kiến đó đã gợi mở phương pháp tư duy và cách tiếp cận theo đặc thù của tiếng Việt trong giao tiếp cộng đồng.

Nguyễn Ngọc Thiện

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác