Tượng giới Lê Minh Phong

Văn chương của Lê Minh Phong cũng như nhiều cây viết trẻ Việt Nam đương đại, hiện hữu từ Internet. Ngắn. Nhưng là cái ngắn của giấc mơ nên có khi đã chạm vào những vấn đề lớn.


“Kẻ đeo mặt nạ không hiểu vấn đề này.”*

Lê Minh Phong viết như thế. Mà tôi thì muốn thông hiểu Lê Minh Phong. Cụ thể, thông hiểu Phong trong thế giới chữ-nghĩa do Phong dựng nên. Dù phút thông hiểu, có khi chỉ lóe lên như chớp đèn: Chưa đủ để gọi là khoảnh khắc. Nhưng có lẽ, phải như thế thì mới có thể thực hiểu Lê Minh Phong.

 Tượng giới Lê Minh Phong  - ảnh 1

Thế giới của Phong là những nhát cắt rất nhanh những cảm giác kín đáo trong đời sống nội tâm. Một đời sống nội tâm ở sâu dưới cơ tầng ý thức vẫn không ngừng quẫy đạp. Phong chụp bắt lấy, khoét thật sâu bút viết vào những vết tích nội tâm, làm há miệng ham muốn, tội lỗi, mặc cảm và cả niềm cộng thông tối tăm ở đời. Phong kiến tạo thế-giới-của-những-hình-ảnh. Nhưng cần nhớ cho, hình ảnh của Phong, của văn chương thời hậu đổi mới mà Phong thuộc về không phải những hình-ảnh-như-thực mà là hình-ảnh-vươn-lên-biểu-tượng. Nói gọn lại, văn giới Lê Minh Phong được gọi tên là tượng-giới: thế giới những biểu tượng. Cái hình ảnh như thực, như là phản ảnh hiện thực vốn là di sản của thứ văn chương cơ giới thời tôn sùng chủ nghĩa duy lý. Thời viết mới của Phong, và những người viết trẻ đồng chí hướng, cũng tìm kiếm một thứ hiện thực, nhưng là hiện thực khác để tái hiện, mà ở đấy, cái lý trí bất lực không tri giác nổi. Phong muốn tái hiện lại cái hiện thực của vô thức, mà muốn hiểu nó, phải dùng cái phi lý. Bởi, cái hiện thực vô thức, tuy khuất chìm đi, nhưng lại chiếm dụng không gian lớn lao hơn rất nhiều hiện thực hữu thức ở đời. Trong thế giới hữu thức, hữu lý, hình ảnh có khi đồng nhất với đồ vật, sự vật được tái hiện. Ngược lại, trong thế giới phi lý, của hiện thực vô thức, siêu thực, thì hình ảnh ấy là biểu tượng. Ảnh giới của Lê Minh Phong vì thế là ảnh giới của các biểu tượng:

“Những hình ảnh mang tính biểu tượng.”*

Biểu tượng luôn réo gọi về trong nó cả một trường liên tưởng những hình ảnh. Viết của diễn ngôn hậu đổi mới là lối viết kiến tạo giấc mơ. Những giấc mơ được viết có chủ đích. Giấc mơ tỉnh. Giấc mơ thì không vô nghĩa, mà tái cơ cấu nghĩa vô thức, nghĩa chân thực nhất, phủ chùm lên đời sống con người. Đường vào giấc mơ là hệ thống biểu tượng được tìm thấy trong giấc mơ. Vậy, đường vào của lối viết kiến tạo giấc mơ thời hậu đổi mới phải là các biểu tượng hiện lên trong sự viết. Tác phẩm của Lê Minh Phong, vì thế, cần được đối xử như nhà phân tâm học đối xử với giấc mơ. Người đọc đi vào tác phẩm Lê Minh Phong phải bằng những liên tưởng được tạo ra từ biểu tượng. Kẻ đọc chỉ biết một nghĩa, nhất là cái lớp nghĩa đen sì mà mặt chữ ném ra thì lập tức bị kẹt cứng vào đống chi tiết. Sự đọc dung tục, cứ cố tìm nghĩa duy nhất đúng, do đó, nếu có bị ảnh giới Lê Minh Phong đè bẹp dí thì đáng đời thay những con người cũ rích. Tôi gọi những-con-người-cũ rích là những người đã không thoát ra khỏi được một truyền thống đọc nặng nề, bị kìm kẹp bởi chủ nghĩa hiện thực thế kỷ XIX, mà vì những lý do trì trệ của lịch sử ở Việt Nam, đã ngán đường đổi mới sự đọc ngày nay. Cũ rích rồi cái phản ảnh như thực kiểu tấm gương, bởi tấm gương trong sáng tạo nếu có, thì cũng phải là tấm gương “đặt nghiêng”, “không phẳng” của Macherey, hay tấm gương “đã chọn lựa” theo ý đồ sáng tạo cá nhân hiểu như B.Brecht. Thời đại nào thì có hệ thống đọc riêng của thời đại ấy. Nếu chúng ta thực sự muốn hòa nhập với thế giới, nhất là cái thế giới của những cách tân nghệ thuật vũ bão ngày nay thì nền văn học dân tộc nhất thiết phải đổi khác cách viết, đồng thời, đổi thay cả cách đọc. Tôi muốn nói đổi khác chứ không phải đổi mới, cho dù, cái khác nhiều chỗ đồng nghĩa với cái mới. Nhưng nếu chỉ nói cái mới thì rất dễ rơi vào thế nhị phân với cái cần phải loại trừ. Lối tư duy nhị nguyên mới - cũ (A là A hoặc phi A) đã không còn thích hợp với thời đại này. Thời đại của tương đối, bất định và phức hợp (A vừa là A vừa là phi A) thì chỉ tồn tại cái khác như là một giá trị kêu gọi sự cộng thông, bù đắp cho nhau để làm phong phú mãi thêm những tình thế của hiện hữu, vén mở thêm nhiều chân trời nghĩa.

“Vấn đề là ở đôi mắt”. Gã nói.”*

Chính xác. Vấn đề là ở đôi mắt. Cần phải đổi thay đôi mắt, hay là cách nhìn của đôi mắt. Nhìn thế giới (vũ trụ quan), nhìn cuộc đời (nhân sinh quan) bằng đôi mắt khác thì lập tức sẽ mở ra những chân trời khác. Chân trời này thì vẫy gọi chân trời kia. Nghệ thuật là sự đổi khác không ngừng những chân trời. Văn chương hậu đổi mới gồm đông đảo các nhà văn trẻ, mà trong đấy Lê Minh Phong là kẻ thuộc về, tôi hân hoan vì đã đoạn tuyệt với kiểu viết truyền thống. Phải đoạn tuyệt để xây mới, có thế, người cầm bút ngày hôm nay mới có đóng góp thêm vào kho lẫm nghệ thuật chung (tôi thích từ “kho lẫm” hơn “kho tàng”, vì “kho lẫm” là tiếng nói của nền văn hóa nông nghiệp Việt). Phải sáng tạo ra cái khác, tôi nói khác chứ không nói hơn, kém. Nghệ thuật của thời đại nào có giá trị của riêng thời đại ấy, thích hợp cho thời đại ấy, như con cá thì thích bơi lội trong nước còn con chim thì thích tung tăng trên trời. Nghệ thuật của thời đại hôm nay thuộc về Internet, toàn cầu hóa, nên nó phải được thở theo một nhịp mới. Nhịp thở hậu hiện đại. Văn chương của Lê Minh Phong cũng như nhiều cây viết trẻ Việt Nam đương đại, hiện hữu từ Internet. Ngắn. Nhưng là cái ngắn của giấc mơ nên có khi đã chạm vào những vấn đề lớn. Bởi, cái tồn tại xã hội, bên cạnh cái tồn tại hữu thức có thể quan sát được còn tồn tại cái vô thức không dễ nhìn thấy nhưng lại chi phối cái tồn tại hữu thức của xã hội. Đấy chính là chỗ mà các nhà phân tâm học xã hội thích thú và gọi nó là “vô thức xã hội”. Đọc văn chương Lê Minh Phong người ta gặp xã hội tồn tại trong chiều vô thức của nó. Người đàn ông trong cơn đói đến tuyệt vọng đã rơi vào hoang tưởng, giằng xé nội tâm để ăn đến hạt lúa cuối cùng (Mùa sau ăn đất). Cái phi thực ngoài đời, đã chân thực trong tồn tại vô thức của nó. Nhân vật tập thể “đám đông” trong truyện ngắn của Phong luôn hành động một cách bản năng, bởi những “thế lực” nào đó dẫn đi. Những thế lực tồn tại như các bản năng vô thức, chi phối, dắt mũi đám đông. Đám đông lảm nhảm những câu nói vô nghĩa, hắn “giết cha” mà không biết vì sao, chỉ biết vì đó là lời “mẹ nói”. Mẹ nó, thì tồn tại như một cơn mê sảng khác, rít lên từng hồi “Taboo… taboo…” (Hãy tránh xa những điều cấm kỵ). Đám đông hành động như một cơn “lên đồng tập thể”, “vô thức đám đông” hay “cơn điên cộng đồng” mà các nhà phân tích tâm lý thường nói đến.

“Những câu chuyện của chàng kể luôn bắt nguồn từ những huyền thoại”*.

Những huyền thoại là những giấc mơ lớn thuộc về tộc loại. Huyền thoại không chỉ tồn tại thời xa xưa, người hiện đại luôn kiến tạo nên các huyền thoại mới. Huyền thoại chỉ mất đi khi con người không còn hiện diện trên cõi đời này. Xã hội với tư cách là một tập thể không chỉ có sự vận hành hữu thức, dưới các lớp thiết chế, quy tắc do xã hội đặt định luôn tồn tại các xung năng vô thức “chỉ đạo”, “điều khiển” hoạt động xã hội. Đám đông không phải khi nào cũng tỉnh táo, đám đông vẫn thường có những cơn hành động như lên đồng. Cấu trúc truyện ngắn như những giấc mơ, huyền thoại trong văn chương Lê Minh Phong, vì thế, chạm được vào các vấn đề ngầm, lớn của xã hội, khiến biên độ quan tâm của văn chương liên tục được nới rộng. Nên, tượng giới Lê Minh Phong trình hiện những xung đột nội giới vô thức của con người cá nhân với tồn tại xã hội.

Và như chúng ta biết, cái phi lý - một phạm trù quen thuộc, đã trở thành đối tượng chính được triết học, văn học hiện và hậu hiện đại chọn phản ánh. Thế nên, cái phi lý cũng làm thành hiện hữu truyện ngắn Lê Minh Phong. Phong đã cố gắng miêu tả những khoảnh khắc chưa thành khoảnh khắc, miêu tả những cái chính xác đến phi lý. Phong cố gắng tái hiện lại “cái miệng nhếch nửa millimetre”, rồi phi lý hơn, Phong miêu tả cả những cái vốn không thể miêu tả, một cử động cực nhỏ mà chỉ có đơn vị đo là cảm giác mới đếm nổi vì “sự dịch chuyển hầu như mắt thường không thể nắm bắt”, vì “sự dịch chuyển đến từ ý nghĩ”. Có khi, “nghiêm ngặt” hơn, Lê Minh Phong đã miêu tả những cái chuyển động nhỏ đến 1/1000 giây, hoặc khác nữa, sự đòi hỏi gắt gao đến từng chi tiết của vật thể cần miêu tả dù không rõ đó là vật gì, chỉ biết: “Một vật hình tròn màu đen sẫm xuất hiện. Có bán kính 1,5 cm. Độ dài 15 cm.” Vật thể lạ ấy tiến đến gần một vật thể được làm bằng hàng ngàn sợi lông xoăn tít, tam giác đều 6,5 cm. Chúng chuyển động chậm đến nỗi Lê Minh Phong biết có sự rúng động chưa đủ để gọi là khoảnh khắc vì chiếc kim giây trên đồng hồ vẫn chưa nhúc nhích. Lê Minh Phong luôn miêu tả những sự mơ hồ bằng một sự chính xác kỳ lạ, chính xác đến phi lý. Phi lý đến khó lẫn. Nguyễn Vĩnh Nguyên tin chắc là “có cái gì đó sẽ khác đi”, dù cái gì đó thì luôn mơ hồ. Trong đời sống nội tâm, không thiếu cái mơ hồ nhưng luôn tồn tại thường trực. Thường trực đến ám ảnh và nhức nhối. Ví dụ như, nhân vật truyện ngắn Lê Minh Phong luôn như lên cơn nhập đồng, hắn hành động, lảm nhảm đến vô nghĩa những câu nói riêng tư, mê sảng trong những câu nói tập thể. Người kể chuyện cũng sử dụng một ngôn ngữ mê sảng, nhập đồng. Chính chỗ này, đọc Lê Minh Phong, sự đọc cũng được đi vào cơn đồng ốp, của mê sảng, nói nhịu, lỡ lời… Nghĩa là, đọc Lê Minh Phong, nhân vật - tác giả - người đọc, cái bộ ba làm nên hiện hữu đời sống văn học đều lên chìm vào mê sảng, mộng mị, hoang tưởng. Đọc vô thức được cởi trói. Sự đọc như thế trượt đi và tuân theo một quy luật mới, của giấc mơ, của hỗn độn nhưng lại chân thực như thế giới bề sâu vốn sống động trong ta. Phân tâm học luôn chỉ ra, lời nói nhảm, nói nhịu, nói mê sảng thì luôn có nghĩa, là cửa ngõ để mở vào các bí mật lau lách trong tâm hồn. Lê Minh Phong đã vận hành những vô thức ngôn ngữ như một cỗ máy tinh vi để từ đấy các bí mật tự biết cách cất tiếng nói. Trong thế giới ấy, con dục hoành hành. Thế giới của vô thức khi những ham muốn trỗi dậy, những mặc cảm sống động và những bản năng tàn bạo gào lên, cái gì ban ngày đè nén thì bóng đêm chữ nghĩa giải phóng. Đọc Lê Minh Phong vì thế gặp con người chân thực như-là-người, với cả cái tăm tối của con/người. Con người vừa cao thượng, vừa thấp hèn, vừa lý tưởng, vừa bản năng. Sự viết trong thẳm sâu của nó hẳn là nuôi dưỡng khao khát tái hiện chân thực những bản chất. Người-là-người như nó hiện hữu trong sự viết vừa đẹp lại vừa đáng kinh tởm.

Người trong văn giới Lê Minh Phong cũng là một biểu tượng. Người tồn tại thành quyển biểu tượng tạo nghĩa. Lê Minh Phong quẳng ném nhân vật vào trong đời sống. Nhân vật không tiểu sử, không tên, hắn xưng “tôi”, “chúng tôi”, “y”, “người đàn ông số 7”, “nàng”, “chàng”… Nhân vật hiện hữu đột ngột và ra đi đột ngột. Nhân vật của Lê Minh Phong không hẳn mới. Nó nối dài thế giới Kafka, và rộng ra, là các nhà văn chịu ảnh hưởng lối viết hiện tượng luận. Ở đấy, nhân vật bị quẳng ném vào thế giới chữ nghĩa, không tên, không tiểu sử. Người như hiện tượng luận hiện sinh đã chỉ ra, là một phi lý tự thân. Husserl với mệnh đề nổi tiếng: hiện hữu là quẳng ném vào thế giới, đã cho thấy một kinh nghiệm phi lý bản nguyên. Tôi hiện hữu một cách đột ngột, không chọn lựa, bị quẳng ném vào đời, ngay lúc lọt lòng mẹ. Camus sau này làm tăng thêm mãi tính bi đát, phi lý cho hiện hữu ở đời khi chuyển cái phi lý triết học bản thể luận vào dần các phạm trù đạo đức học - phi lý đời sống vô nghĩa. Nhưng tóm lại: tại sao tôi hiện hữu? Câu hỏi có tính siêu hình không thể lý giải ấy treo lơ lửng trên thân phận làm người. Không thể giải thích con người theo dòng giống, truyền thống, những cái bên ngoài hiện hữu tôi. Con người là một hiện hữu mà ở đấy - để muốn hiểu đúng hắn - phải tiến hành những giảm trừ. Phải bác bỏ nhân quả, bác bỏ các tiền kiến sẵn có, rũ sạch tinh mọi kinh nghiệm để từ đấy hiểu người. Tái hiện con người cho chân thực là tái hiện khi nó tách xa khỏi các giá trị mà xã hội, truyền thống, chủng loài khoác lên nó. Người vì thế cần hiện ra như một dữ kiện uyên nguyên. Trên quá trình sống, đi đường, người tự kiến tạo nên bản sắc và các phẩm tính của mình. Người vì thế tự hắn chứ không là ai khác phải tự chịu trách nhiệm cho chính giá trị của mình ở đời. Lê Minh Phong chọn tái hiện nhân vật của mình như một quẳng ném vào thế giới truyện ngắn. Ở trong thế giới của Phong, người đọc sẽ gặp nhân vật trong tính chân thực của nó, không tên, không tiểu sử, bởi nhân vật Phong hiện lên thông qua hoạt động của nó trong đời. Thế nên, không phải là bất cứ yếu tố nào khác mà chính những liên tưởng bất tận trong trường tưởng tượng được đưa lại từ tượng giới của truyện ngắn Lê Minh Phong sẽ chịu trách nhiệm cấp nghĩa đến vô tận cho hoạt động đọc tác phẩm./.

Trịnh Nữ

------------------------------------

[* Trích dẫn từ tập truyện ngắn Chưa đủ để gọi là khoảnh khắc của Lê Minh Phong, Nxb Văn học, 12/2011]

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác