Trinh Đường, nhà thơ xứ Quảng

Thái Thi

Từ các hoạt động văn nghệ, sáng tác đến phê bình, từ công việc được giao phó đến những nỗ lực cá nhân, tôi tự thấy đã làm việc hết sức mình cho học thuật, Cách mạng và Tổ quốc.

Trinh Đường, nhà thơ xứ Quảng - ảnh 1Về sáng tác, tôi luôn luôn đổi mới trên cơ sở truyền thống và hiện đại, biệt lập phong cách. Về đào tạo lớp người kế tục, nổi lên trong và sau chống Mỹ và công việc của Hội đều ít nhiều có phần đóng góp của tôi.

- Trinh Đường suy nghĩ về nghề văn -



Những lá thư

Nếu như không có bài thơ ấy thì chưa hẳn tôi đã có được mối quan hệ như ruột rà với anh Trinh Đường suốt gần bốn chục năm.

Cuối tháng Chạp năm 1964, tôi bỗng làm xong Bài thơ tặng em - Cô mậu dịch viên bán vải. Tôi cảm thấy tự tin là bài thơ khá, nếu không dám nói là hay. Khá nhất so với những bài tôi đã làm bảy tám năm trước đó. Đọc cho mấy bạn thơ và bạn học cũ nghe, ai cũng rất thành tâm mừng cho tôi và thúc giục tôi gửi cho tuần báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam. Nhưng tôi do dự, chần chừ chưa dám gửi. Bởi tôi thấy trên báo Văn nghệ số Tết, số Xuân qua các năm, tuồng như chưa cây bút thơ trẻ nào lọt vào được. Đọc lại mấy lần nữa… Cuối cùng, tôi mới đánh bạo gửi đi. Tuy thế, tôi hoàn toàn không chờ đợi niềm vui… Bỗng một chiều sau đó đúng một tuần lễ, tôi nhận được phong thư. Tôi vừa bóc vừa run, không phải run vì mừng, mà tôi cho chỉ là bức thư báo tin “Bài thơ của bạn chưa dùng được” rồi cuối thư là một lời cảm ơn rất công thức, rất xã giao mà tôi từng nhận được mấy lần sau ngày gửi bài.

Nhưng không ngờ “Bài thơ của bạn, chúng tôi sẽ in ở Văn nghệ số Xuân. Đề nghị bạn không gửi cho bài nào khác nữa. Trinh Đường”.

Thế là lần đầu tiên, tôi được tin thơ ở tuần báo Văn nghệ. Niềm vui sướng chờ đợi đã lâu ấy làm tôi ra ngẩn vào ngơ đến vài ngày, sung sướng đến quên ăn, quên ngủ… Bài thơ được in, tôi như được cấp giấy thông hành để có thể không phải rụt rè, e ngại bước vào cổng 17 Trần Quốc Toản - Hà Nội (trụ sở báo). Và do vậy, tôi được gặp, được trò chuyện với nhà thơ Trinh Đường sau nhiều năm chỉ biết anh trên tác phẩm.

Và từ đấy, tôi luôn luôn nhận được thư của anh. Lúc là cả trang chữ dày đặc, mà chữ anh thì rất bé, lúc là nửa trang, lúc chỉ vài dòng để nhắc nhở một điều gì đấy cần gấp. Cái thì hỏi: “Chú viết được gì mới không? Cái thì: “Có gì mới, mà phải hay đấy, thì gửi ra đi!. Cái thì khen: “Nhận được thơ của Mai Ngọc Thanh rồi, khá đấy, phải chờ đấy”. Cái thì chê: “Tại sao chú lại viết như thế? Dở ẹc! Xuống tay rồi đó, đừng có vội vàng…”. Rồi cứ vậy, theo tháng năm, tôi vẫn đều đặn nhận được những là thư thấm đẫm tình cảm của anh, cho tới ngày anh bị trọng bệnh mới thôi. Nhờ những bức thư của anh mà tôi học được nhiều điều trong cái nghiệp thơ. Có những chùm thơ, bài thơ, tập thơ mới được in của các nhà thơ mà tôi chưa đọc kịp hoặc không có điều kiện đọc lại được thông tin qua thư anh. Có khi anh chép lại cho tôi cả bài thơ ấy, cả chùm thơ ấy với những lời nhận xét bên dưới.

Một số khá đông những người viết trẻ lứa tuổi tôi ngày ấy được anh viết thư như thế, quan tâm dìu dắt như thế, nhưng tuyệt nhiên không tâng bốc, nuông chiều để cho “vui vẻ cả”. Việc làm ân nghĩa ấy lại không phải chỉ diễn ra 3 năm, 5 năm mà dài dằng dặc cả mấy chục năm trời. Hôm đến thăm anh ở bệnh viện Hữu Nghị Việt - Xô, lúc anh đã yếu lắm rồi, nâng bàn tay khô khẳng của anh lên, tôi vừa hôn vừa nói trong niềm xúc động: “Anh Trinh Đường ạ, cả một lớp nhà thơ tuổi em mang ơn anh lắm lắm. Đó cũng là hạnh phúc của anh”. Anh mỉm cười và thều thào: “Mình vẫn thương thằng Đỗ Xuân Thanh… Người ta không kết nạp nó vài Hội, mà nó xứng đáng chứ”. Tấm lòng của anh như vậy đó.

Lúc này, tôi chợt nghĩ, có ai trong số những người gần gũi anh nhất làm được cái việc này không nhỉ? Ấy là tính được hết số lượng thư từ mà anh đa viết đã gửi cho bạn thơ ở nhiều lứa tuổi, cho các cộng tác viên, kể từ ngày anh làm biên tập thơ ở Nhà Xuất bản Văn học, ở tuần báo Văn nghệ và cả suốt 20 năm nghỉ hưu. Hẳn phải là một số lượng khổng lồ. Nhưng cụ thể là bao nhiêu? Thật khó trả lời! Sau khi nghỉ hưu không bao lâu, anh mở một hòm thư riêng tại bưu điện Hà Nội mang số 100 để nhận thư, nhận bài cho các tập thơ Tuyển mà anh làm (tất nhiên là phải trả tiền cho Bưu điện).

Và thời gian, thời gian anh bỏ ra trong gần 50 năm của đời mình để viết những là thư ấy nữa, mới là vô giá. Trong lớp nhà văn, nhà thơ đàn anh, có ai nữa như anh Trinh Đường dám hy sinh một phần không nhỏ đời mình cho thế hệ đàn em. Tôi nói hy sinh bởi sinh thời, nhà thơ Xuân Diệu luôn nói rằng: Thời gian là cuộc đời của mỗi người đấy, phải vội vàng, phải làm việc (sáng tác) hết mình, để ròi còn phải chết. Vậy thì quả là anh Trinh Đường đã dám hy sinh. Chỉ riêng điều ấy thôi, nhà thơ Trinh Đường cũng xứng đáng được gọi là một Nhân cách lớn!


Về Thanh

Tôi mãi mãi tâm niệm rằng, quan hệ giữa anh Trinh Đường và tôi trở nên thân thiết và bền lâu, ngoài cái Tâm lớn cuả một nhà thơ bậc đàn anh, còn do cái Tình kết nghĩa Quảng Nam - Thanh Hoá trong cuộc chiến tranh chống Mỹ xâm lược (cho đến bây giờ)

Những năm tháng còn cộng tác, anh rất năng đi về Thanh Hoá (mà như anh đã nói, đây là quê hương thứ hai) để tìm hiểu thực tế cuộc sống của đồng bào Thanh Hoá và gặp gỡ người làm thơ trẻ ở đây. Những ngày nghỉ hưu cũng thế, Trinh Đường là một nhà thơ mê đi, đi không biết mệt là gì. Một điều rất đáng kính trọng ở anh nữa là, trong các cuộc về với địa phương nào, anh cũng tuyệt nhiên không làm phiền hà cho một ai. Anh chuẩn bị cho chuyến đi đủ thứ cần thiết tối thiểu của thời bao cấp cho phép, mà trước nhất là phiếu lương thực, thức ăn khô v.v…

Khi nhớ về anh, khi viết về anh, không thể không nói đến chuyến Về Thanh của anh. Chuyến đi này kéo dài 5 tháng. Nếu không có việc ngôi nhà 65 Bà Triệu - Hà Nội mà gia đình anh ở đó bị bom Mỹ đánh sập, thì anh còn “hành hương” Thanh Hoá một lần nữa, cho trọn nửa năm như dự định. Với chiếc xe đạp, đạp từ Hà Nội vào, rồi đạp đến bao nhiêu là nơi ở Thanh Hoá. Chiếc balô phồng căng, nặng trĩu những vật dụng trên vai. Thỉnh thoảng “để cho vợ con biết mình đang sống” (lời anh mỗi khi viết thư về Hà Nội) thì nhờ con tem. Đến những con tem và phong bì anh cũng mua sẵn hàng chục cái để trong balô. Anh nói với tôi và các bạn của tôi ở đây: “Mình làm cuộc đi này là hi vọng trả một phần cái ơn của nhân dân Thanh Hoá đối với Quảng Nam, đối với mình kể từ lúc đặt chân lên Sầm Sơn tập kết”.

Bây giờ là giữa năm 1972, cuộc đánh phá bằng không quân do Tổng thống Mỹ Nick-xơn phát động lại khốc liệt và tàn bạo hơn nhiều thời Tổng thống Giôn-xơn cầm quyền. Anh đi… Anh có mặt ở mọi trọng điểm đánh phá bằng bom, bằng pháo kích của giặc trên đất Thanh Hoá. Anh thực sự sống với bộ đội, dân quân ở ụ pháo, ụ súng, ở công sự chiến đấu. Anh đi… Anh đến với các điển hình tiên tiến nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp; đến với các di tích lịch sử, văn hoá trên đất Thanh Hoá để hiểu lòng dân với cuộc đấu tranh bất khuất này, để hiểu lòng dân Thanh Hoá với Quảng Nam kết nghĩa như thế nào. Và để viết. Tôi và một bạn thơ nữa (Quế Anh), lúc thì cả hai, lúc thì một, làm “hoa tiêu” dẫn đường cho anh. Đi với anh, chúng tôi học được thêm nhiều cách sống của người sáng tác, học được cả sự can đảm trong bom đạn. Anh xông xáo làm chúng tôi cũng phát hoảng. Chỉ sợ nhỡ có thế nào thì vợ con anh trách cứ là không giữ gìn chho anh. Nhưng làm sao ngăn anh được.

Quê tôi cách biển không đầy một cây số, có quốc lộ 1A đi qua và có bến Ghép cắt ngang quốc lộ, nên là một trọng điểm đánh phá ác liệt hàng ngày, hàng đêm của máy bay, pháo hạm Mỹ. Nhà bố mẹ tôi ở đó. Thời gian đầu của cuộc chiến tranh, các cụ cũng đi sơ tán cách nhà chừng ba cây số. Nhưng rồi chẳng được quá một năm, các cụ quay trở về, quyết “liều” với bom đạn. Con cháu nói thế nào các cụ cũng không chịu nghe. Căn nhà các cụ ngày ngày đón các anh bộ đội lái xe ghé vào nấu cơm … Rồi khi đêm xuống mới sang phà vào Nam.

Một hôm, từ khu di tích Lam Kinh về chỗ cơ quan Ban vận động thành lập Hội Văn nghệ Thanh Hoá, anh nói với tôi: “Mai chú bận họp rồi, tôi sẽ tranh thủ thời gian đi Ghép rồi sang sông tới mấy xã bên huyện Tĩnh Gia. Cho tôi địa chỉ ông bà để vào thăm và có lẽ tôi sẽ ngủ lại đấy một đêm để cảm nhận được cái không khí sôi động của vùng bến phà chiến đấu này”. Tôi can anh không nên mạo hiểm. Nhưng cũng biết là khó mà anh nghe. Anh vặn lại: “Ông già, bà già chú sống ngay ở đó mà đã hề hấn gì đâu. Chẳng lẽ là một nhà thơ tôi lại nhát gan…”. Rồi anh đọc liền câu thơ: Không là một tia chớp/ Sống làm gì cho lâu. Lúc ấy, tôi cứ ngỡ là anh viện dẫn một câu thơ của ai đó. Mãi sau này mới biết đó chính là câu thơ của anh. Rất may là anh đã ngủ qua đêm vô sự. Khi trở lại cơ quan, anh cho biết: “Dại gì mà ngủ, tôi thức với ông bà chú cả đêm để nói chuyện, cũng mấy lần ra hầm trú ẩn…”. Bài thơ Về nhà kết nghĩa anh viết ngay trong đêm đó:

Tôi là người con ở tận Quảng Nam

Không đồng học mà như chung mẹ đẻ

Nhà kết nghĩa trên quê hương kết nghĩa

Động cánh chuồn bay thương ngọn mía mưng

Năm tháng liều sống với hiện thực và tình cảm của nhân dân Thanh Hoá, anh có 43 bài thơ làm thành tập Về Thanh. Cứ xem địa chỉ ghi dưới mỗi bài thơ mới biết sức đi của anh thế nào. Bốn mươi ba bài thơ là tâm hồn anh đằm thắm nồng nàn trong tình nghĩa máu thịt của mấy triệu đồng bào Xứ Thanh. Anh về với Thanh Hoá chứ không phải anh đến Thanh Hoá. Khép lại tập thơ, còn nghe ngân nga tiếng của trái tim Trinh Đường: tôi sẽ về Quảng Nam. Mang theo lòng Thanh Hoá (Bài thơ gởi lại - thay lời bạt). Bấy giờ mới là tháng 10-1972, bài thơ thứ 43 này viết ở Hà Nội, nhưng sao đã tiên cảm chắc chắn Tôi sẽ về Quảng Nam.

Anh Trinh Đường ơi! Anh đã về Quảng Nam sau 21 năm “ngày Bắc đêm Nam”. Và nay, anh đã về vĩnh viễn với đất Mẹ Quảng Nam, nhưng Thanh Hoá vẫn chưa hết là nơi anh về đâu nhé. Con trai anh - Trương Thành Đồng lại về Thanh. Duyên trời thật khéo xe. Vợ nó là con gái xứ Thanh, chính anh và vợ chồng tôi với nhà thơ Văn Đắc đã đi dạm hỏi và xin cưới cho nó. Quê vợ nó cũng là một nơi anh từng đến và ở những ngày bời bời lửa đạn.

T.T

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác