Trần Lê Văn - tình người, nụ cười và nỗi đau

Ngô Quân Miện

Trần Lê Văn, được hấp thụ những tinh hoa của hai nền văn hóa phương Đông và phương Tây, càng thấm nhuần cái Tâm ấy, cả trong con người và trong thơ ông. Những bạn bè, anh em cộng sự cũng như những người ít nhiều có tiếp xúc với ông đều thấy đó là một con người nhân hậu, đầy tình người chân thật. Tình người trong thơ có những lúc xuất thần từ tâm linh, từ bản thể con người ông mà toát ra, nên có sắc truyền cảm hồn nhiên nhạy bén.

 

Thiện căn ở tại lòng ta

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài

Hai câu Kiều ấy, các nhà nho thường làm điều dạy cho con cái. Cụ thân sinh ra nhà thơ Trần Lê Văn là một nhà nho ở đất Vị Xuyên, Nam Định, chắc hẳn cũng không thể không làm điều ấy. Trần Lê Văn, được hấp thụ những tinh hoa của hai nền văn hóa phương Đông và phương Tây, càng thấm nhuần cái Tâm ấy, cả trong con người và trong thơ ông. Những bạn bè, anh em cộng sự cũng như những người ít nhiều có tiếp xúc với ông đều thấy đó là một con người nhân hậu, đầy tình người chân thật. Tình người trong thơ có những lúc xuất thần từ tâm linh, từ bản thể con người ông mà toát ra, nên có sắc truyền cảm hồn nhiên nhạy bén:

Thơ dài lời dài đều bất lực

Làm sao cầu nối với đời

Có ai nghe thấy một tiếng vọng

Thì thả con thuyền sang với tôi

(Tiếng vọng)

Một tiếng vọng thôi cất lên giữa vô cùng có thể nào lại không có lời đáp giữa cuộc đời, giữa những “trái tim vô số”. Tiếng gọi hẳn là đã làm được cái cầu nối giữa nhà thơ và đời:

Tôi tồn tại! Đời ơi! Hãy đến

Vài giọt đắng cay chia sẻ cùng nhau!

(Chưa chừa mơ mộng)

Chỉ cần được chi sẻ với nhau và giọt buồn vui là đã thấy mình tồn tại. Cuộc đời có cái ngọt bùi, có cái đắng cay, sự chia sẻ cùng nhau là một nhu cầu không thể bỏ qua, Trần Lê Văn sống bằng sự chia sẻ đó, ông hiến mình, cho và nhận tình người như một sự trao đổi tự nhiên của đời sống:

Đời đã tri âm đến với mình

Thì mình chẳng lẽ dám làm thinh

Tài mình chẳng có cho thiên hạ

Thì cũng đem chia một chút tình

(Xuân không hẹn)

Cũng vì thế mà ta thấy vì sao, nhiều người tìm đến nhà thơ đến thế! Các bạn văn thơ đã đành, một câu lạc bộ hưu trí ở ngoại thành cũng tìm đến nhờ ông nói chuyện thơ, một cụ lang già cũng tìm đến nhờ ông viết cho câu đối Tết bằng chữ Nôm, một làng cổ cũng tìm đến nhờ ông đọc và giải nghĩa cho một bản dập văn bia. Có nơi mời ông đến nói chuyện về một danh nhân của làng, ông đạp xe đi hàng chục cây số… Ông không tư chối ai việc gì, dù có thù lao hay không, nhiều hay ít. Đến đâu, ông cũng chỉ mong được “đem chia một chút tình!”. Việc gì ông cũng coi đó là việc của mình:

Gạn lọc yêu thương uống chén đầy

Sợ mình vơi nhạt mất men say

Tự cười sao cứ đa mang thế

Quơ lấy vui buồn ôm trĩu tay

(Xuân không hẹn)

Cái tố chất nhân hậu của con người ông là động lực thúc đẩy những việc ông làm cho người, cho đời cũng là cái tố chất của thơ ông.

Năm 1990 ông kỷ niệm lên lão 70, gia đình tổ chức giản dị cốt vui với bạn bè là chính, ở Thư viện Hà Nội! không hề có sự thông tin, báo rộng mà sao “Khách không mời” rất văn hóa kéo đến đông nườm nượp mang hoa đến mừng, ai cũng hồ hởi mừng ông! Đó là sự đáp lại của tình người thật đẹp.

Mang cái tình người, cái nhân hậu, cái Tân trong con người, trải qua bao cuộc thăng trầm, cái Tâm ấy đã đọng lại thành những ngẫm nghiệm sâu sắc của tuổi cổ lai hy mà không cổ:

Ngẫm nhìn vụ trụ bao la

Huyền cơ đóng lại mở ra cũng thường

Lòng này mở đón yêu thương

Giã từ nhé! Nỗi chán chường lạnh tanh!

Ngại gì tóc lụi màu xanh

Lỡ khi bạc phếch tim mình mới lo.

(Một cuộc vào đời - Kỷ niệm 70 tuổi)

Một cái Tâm xanh rờn của nhà thơ bạc tóc!

                                 *  *

Cái “huyền cơ” kia của tạo hóa đóng lại mở ra, ta biết là lẽ thường. Đó là nói chung. Riêng với Trần Lê Văn, ta thấy cái đóng lại sao như quá ngặt nghèo! Vợ chồng ông, từ trên rừng núi Sơn La, trở về chốn phồn hoa Hà Nội, gần như với hai bàn tay trắng, phải đón nhận khá nhiều vất vả. Bản thân nhà thơ không may bị “trích biếm” vào Hà Tây, ngày hai lượt sáng, tối, hoặc lọc cọc đạp xe, hoặc chen vai thích cánh trên xe buýt, mờ sáng đã phải ra đi, mờ tối mới về tới nhà. Hai vợ chồng lương thấp, với hoàn cảnh năm con ăn học, và nuôi dưỡng bố mẹ già! Nếu chỉ có thế thì cũng chẳng dễ gì! Lại thêm những nỗi đau mất mát, nỗi đau khó nguôi trong lòng. Con trai đầu lòng, Hồng Thao, hăng hái đeo ba lô ra đi chiến trường chống Mỹ ở Miền Trung bộ và ngã xuống vĩnh viễn không trở về! Người bố lần mò đi Trường Sơn không tìm thấy mộ! Bằng tổ quốc ghi công là sự vinh quang, niềm tự hào hy sinh vì đất nước. Nhưng nỗi đau mất mát một phần xương thịt của người cha, người mẹ còn ngấm sâu gan ruột một đời. Trần Lê Văn có bài thơ Góc kỷ niệm con tôi mang một nỗi đau cũng muốn lấp vùi, làm càng hiển hiện:

Cha mang con trong thịt, trong hồn:

Con ở trong cha, khi xóa một gợn buồn

Trên trán mẹ, những chiều sum họp

Hỏi nhà ta, cái gì đầy ắp?

Chính là con, cười nói đâu đây!

Và trong Chuyến xe đêm khi đi tìm một con:

Ngã xuống nơi nào? Đau lắm không con?

Cha chẳng thể đỡ con ngồi dậy được!

Tôi không dám trích thêm nữa những câu thơ như thế này!

Ngay trong ở nhà mình, vợ chồng nhà thơ Trần Lê Văn hàng ngày phải chăm lo một con trai thứ ba mắc bệnh tràm cam từ tuổi thanh niên đang còn đi dạy học thì phải nghỉ, và một cháu gái ngoại bị tật nguyền không ngồi dậy được vì bố cháu đi bộ đội vào Miền Nam bị chất độc da cam. Cháu trai Trần Nguyên Đán có lẽ bị một cú “sốc” mạnh về tình yêu, mà trái tim cháu thì yếu đuối chăng. Hàng ngày cháu vẫn làm thơ, hễ cứ thấy các bác, các chú đến chơi lại phô một bài thơ, có khi chỉ có một câu. Cháu cũng đã có hai bài thơ đăng báo, một bài Hoàng lan đăng báo Đại Đoàn Kết số 67-1999 và bài Mừng mưa xuân đăng báo Người cao tuổi 84-1994. Tôi vẫn còn giữ của cháu Đán tập thơ Tan mây 46 bài, thơ đánh vi tính. Có những bài trong sáng, những bài buồn và cũng có những tứ lạ như bài Đĩa bay: Ba sáu đĩa bay bay quanh chàng/ Từ thời lãng tử/ Nói thầm với chàng/ Chàng bất tử…

Trần Lê Văn còn có một bài thơ xuất thần nói về những cái mất mát của ba người thân, bài Tìm gì:

Vợ gửi tuổi xuân trên núi

Còn gửi trí khôn trên trời

Bạn gửi tiếng cười dưới đất

Tôi tìm gì nhỉ quanh tôi?

Người vợ đầu gối tay ấp, cô gái Thái Sơn La tươi trẻ ngày nào, nay cuộc sống vất vả sớm tối giúp chồng chăm con ở nơi đô hộ đã cướp mất đi cái tuổi vô tư nơi núi rừng thiên nhiên kia từ bao giờ?

Đứa con trai thông minh hiền hậu kia vì sao lại chỉ còn biết gửi trí không trên trời? Người bạn tri âm đồng cảm sâu sắc sao đã sớm gửi tiếng cười dưới đất? Ba nỗi mất mát đau đáu trong tim. Vậy còn phải tìm gì nữa? Đã chưa quá đủ hay sao?

Nếu cái máy huyền cơ của tạo hóa có những lúc đóng lại ngặt nghèo thế với ông, ắt cũng phải có lúc nào, có cài gì mở ra thì mới giữ được thế cân bằng của cõi tự nhiên, của cõi người? Có đấy! Cái mở ra cho Trần Lê Văn là cái tố chất hài trong con người ông. Cái hài của Trần Lê Văn cũng là một của báu trời cho. Một mặt nó kế thừa cái hài trữ tình và thấm túy của phương Đông qua những Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Từ Diễn Đồng, … mặt khác nó mang cái u-mua (huaour) của phương Tây qua những Moliere, La Fontaine, Jacques Prévent. Trước khi nói về cái hài trong thơ Trần Lê Văn, tôi xin kể đôi mẩu chuyện hài về ông trong đời sống. Chúng tôi, một số bạn hay gần nhau như Trần Lê Văn, Quang Dũng, Lữ Giang, Yên Thao, Nguyễn Vĩnh Phúc và tôi hay gặp nhau chuyện phiếm thường là ở nhà Lữ Giang và nhà Trần Lê Văn.

Một tối, nhân đến ăn mừng cưới con gái của ông nào đó, chúng tôi đều có sẵn một quà mừng nhỏ, giở ra mới biết mỗi anh đều có vài câu thơ vui. Ông Văn liền xuất khẩu luôn:

Mỗi cụ sùy ra đúng một tờ

Giở xem chỉ thấy rặt là thơ!

Vì dù của ấy mà tiêu được,

Chú rể, cô dâu hẳn rít - sờ! (riche: giầu)

Thế là nhà cười váng lên!

Một lần khác, nhân có cuộc họp của Hội Nhà văn Hà Nội, ông Văn, Vân Long và tôi đang đi nhìn thấy phía trước có một nữ sĩ nào đó đang đi một mình. Tôi chưa nhìn ra là ai thì ông Văn đã nhẹ nhàng sẽ vỗ vào vai cô! Nữ sĩ giật mình quay lại; “Ối! Chào các anh, anh Văn!”. Thì ra đó là nhà thơ gái Nguyễn Thị Hồng Ngát. Trần Lê Văn rất nhanh trí, đùa luôn bằng một câu chữ Hán: Bạch phát “phát” hồng nhan! Chúng tôi khoái trí khen chơi chữ thật hay! Câu ấy hiểu nghĩa là: Tóc bạc phát má hồng! ông Văn thì tóc đã trắng mà cô Ngát thì vẫn còn xuân tươi trẻ măng!

Nhưng thật bất ngờ, không ai nghĩ rằng nữ thi sĩ trẻ lại thông minh và nhanh trí không kém. Cô Ngát đối luôn: Hồng nhan “can” bạch phát! Cả sân cười lên thú vị. Câu này có nghĩa là: má hồng em cũng xin can bác già tóc bạc. Chữ “Can” ở đây nên hiểu theo câu tiếng anh “bồi”: I can you! (Tôi can ông).

Trong thơ chữ tình của Trần Lê Văn, có những bài và những câu rất thú vị như trong các bài Nếu tôi là ông Huyện Thanh Quan, Bà Tú đừng ghen, Ai xui mình dại… chỉ xin lấy ví dụ là bài Nếu tôi là ông Huyện Thanh Quan mà tôi cho là điển hình cho cái tài hài hước trong thơ trữ tình của Trần quân:

- Nếu tôi là ông Huyện Thanh  Quan

Thì tôi tự hào hơn làm Tể Tướng

Người đẹp Nghi Tàm, bao chàng trai mơ tưởng

Đã thuộc về tôi.

Nàng làm thơ, nguồn thơ không vơi

Như Hồ Tây, chẳng bao giờ cạn.

- Nếu tôi khổ đau hơn kẻ thất tình đau khổ nhất

Tôi hữu hạn vòng tay quá chật

Ôm làm sao được cái vô cùng…

Ngay cái giả thuyết ông đặt ra một cách kỳ lạ cũng làm cho ta muốn bật cười rồi: Nếu tôi là ông Huyện Thanh Quan! Với chữ nếu, thì anh muốn nếu gì mà chẳng được? Muốn cả ông trời cũng được. Chẳng thế mà người Pháp đã có câu: “Với một chữ nếu, anh có thể nhét cả kinh thành Paris vào trong một cái chai!”. Vậy thì Trần Lê Văn đùa viển vông chăng? Không đâu? Nhà thơ của chúng ta có suy nghĩ lắm đấy! Là một nhà thơ, lẽ ra phải giả định mình được là một thi tài nổi tiếng đời đời như Bà Huyện Thanh Quan chứ? Nếu thế thì còn hiểu được! Chứ ông Huyện Thanh Quan thì “chẳng là cái đinh gì” mà bất cứ ai phải ước ao?

Ta hãy nghe Trần Lê Văn lý giải: một là làm chồng Bà Huyện tự hào hơn là làm Tể tướng vì được làm chủ một người đẹp mà bao chàng trai mơ ước. Điều này cũng tạm được nhưng cũng chẳng lấy gì cao cả vì chắc gì Bà Huyện đã yêu say đắm ông Huyện. Cái lý thứ hai mà tác giả nêu lên mới thực là điều cao cả: đó là ông Huyện được hưởng thụ cái nguồn thơ không cạn của Bà!

Nhưng, nếu chỉ có thế thì cũng chưa lấy gì làm lạ. Cái giả thuyết “nếu” của tác giả lại mang lại trong nó một nghịch lý: “Nếu tôi là ông Huyện Thanh Quan/ Thì tôi khổ đau hơn kẻ thất tình đau khổ nhất”. Đây mới là cái bi kịch nhất trong câu chuyện hài hước của Trần Lê Văn! Tại sao? Vì: Tôi hữu hạn vòng tay quá chật/ Ôm làm sao được cái vô cùng!

Bài thơ cho thấy cái tài hài hước trữ tình đặc biệt của Trần Lê Văn: từ cái chữ nếu đến cái lý giải vừa có duyên vừa tao nhã, đến cái nghịch lý mang bi kịch giữa cái hữu hạn của một người bình thường như ông Huyện và cái vô cùng của tài và sắc như của bà Huyện, đó là một tứ thơ có chiều sâu nhân văn của tác giả. Tấn bi kịch đó, mà Trần Lê Văn đã phát hiện ra, đâu phải chỉ là của riêng ông Huyện mà còn là của bản thân mỗi chúng ta, những người thơ.

Rất cảm ơn Trần Lê Văn! Với tôi, mỗi di cảo thơ của anh là một di sản quý cho tôi, bạn anh!

 

N.Q.M

(Tạp chí nhà văn)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác