Trần Hữu Lục - Giọt Huế lãng du

(Toquoc)- Những hoài niệm Huế đã kết tủa thành ngôn từ trong tâm hồn Trần Hữu Lục. “Trong Lục cho đến nay vẫn luân lưu một dòng thi ca như thế. Rất nhẹ nhàng mà nồng ấm, ngọt ngào mà tinh tế, lay động với những kỷ niệm mang mang tình yêu, quê nhà…” (Lời của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn)

Trần Hữu Lục - Giọt Huế lãng du  - ảnh 1
Ký hoạ chân dung
Trần Hữu Lục
1.

Sống và viết ở Huế hơn 30 năm, thỉnh thoảng tôi lại gặp nhà văn Trần Hữu Lục cùng với mấy anh chị trí thức Huế khắp bốn phương như nhà thơ Lê Văn Ngăn ở Quy Nhơn, tiến sĩ triết học Thái Kim Lan ở Đức, nhà nghiên cứu Cao Huy Thuần, Võ Quang Yến ở Pháp, nhà văn Trần Kiêm Đoàn, bác sĩ, nhà ngôn ngữ Huế Bùi Minh Đức ở Mỹ.v.v… về Huế thăm gia đình, bè bạn. Từ dịp Huế có Festival định kỳ hai năm một lần, các anh chị về với Huế thường xuyên hơn. Khi thì tham gia hội thảo về văn hoá Huế, khi thì giới thiệu sách của người Huế xa quê, khi thì chỉ về để rủ nhau đi thả thơ, đánh xăm hường trên đò Sông Hương hay đi ăn món bún bò, cơm hến, uống chè sen Tịnh Tâm. Tôi có cảm giác dường như các anh chị không bao giờ vắng mặt trong sương Huế miền Kim Long, Vĩ Dạ, Nguyệt Biều... Trong những người Huế tha hương tìm về “nguồn cội” ấy thường xuyên có nhà văn Trần Hữu Lục. Tôi quen biết anh từ khi được mời tham gia viết bài cho tủ sách Nhớ Huế mà anh là chủ biên. Thân quen, nghe anh rỉ rả nhỏ to, mới hay tha hương, bôn ba theo tiếng gọi của nghiệp chướng khi còn tuổi hai mươi, anh vẫn là giọt Huế đậm đặc. Xin được gọi anh là Giọt Huế lãng du. Anh thổn thức: Tôi yêu quê hương vô cùng…/ Gió vẫn bay về đồng lúa/ Sao tôi còn lạc giữa rừng/ Mới đó chẳng còn ai nhớ/ Tôi là hạt bụi quê hương… Vâng, Trần Hữu Lục hơn bốn chục năm qua lãng du tìm Huế trong cõi riêng mình. Anh bảo anh chỉ là hạt bụi, còn ai nhớ, nhưng Huế vẫn nhớ anh và nhớ một thế hệ văn nghệ sĩ tài hoa, biết dấn thân vì lẽ sống như Trần Vàng Sao, Ngô Kha, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trần Quang Long, Nguyễn Đắc Xuân, Trần Hữu Lục, Bửu Chỉ, Thái Ngọc San, Lê Văn Ngăn, Trần Duy Phiên.v.v... Chính thế hệ “vàng” này đã làm nên diện mạo văn chương nghệ thuật Huế những năm 60 của thế kỷ trước. Cho đến bây giờ ngòi bút của họ vẫn còn rất nồng nàn.

2.

Trần Hữu Lục viết văn từ khi là sinh viên Trường Đại học Sư phạm thuộc Viện Đại học Huế. Năm 1968, khi 24 tuổi, anh đã có truyện ngắn Tuổi đồng quê, bút hiệu Yên My in báo Văn ở Sài Gòn. Nghĩa là anh đã có hơn 40 năm cầm bút, đã in gần chục tập truyện ngắn, bút ký, thơ, biên soạn… Dù tuổi đã cao, anh vẫn đang ấp ủ những tập truyện ngắn, tập thơ mới. Nghĩa là nhà văn của chúng ta vẫn say viết như thuở đôi mươi. Phải có một nội lực ghê lắm mới gọi được chữ nghĩa từ vô thức về trên màn hình vi tính. Không chỉ cầm bút viết truyện ngắn, bút ký, thơ, chủ biên Nhớ Huế, Trần Hữu Lục còn là con người hành động quyết liệt và năng nổ trong cuộc chiến đấu cho sự tồn vong của đất nước một thời và vì Huế quê hương. Gặp Trần Hữu Lục, đọc Trần Hữu Lục tôi cứ miên man nghĩ về nguồn cội của văn chương. Viết văn là thiên phú. Nhưng sức sống của mỗi đời văn đều có gốc tích từ “bản quán” của mình. Không có nguồn phù sa màu mỡ ấy thì không thể có bút lực dẻo dai được. Đối với Trần Hữu Lục bản quán văn chương của anh chính là trái tim luôn đập vì tình yêu, lẽ phải và xứ Huế 700 năm trầm tích văn hoá.

Những năm 1967, 1968, đang là sinh viên đại học, Trần Hữu Lục đã là chủ biên báo Thân Hữu (ĐHSP Huế, 1967), Sinh viên Huế (1968); đặc biệt là anh đã trở thành nhân vật nòng cốt của Nhóm Việt, nhóm sinh viên Huế yêu nước hoạt động công khai, chủ trương tìm về nguồn cội dân tộc, chống lại khuynh hướng lai căng, vong bản. Đó là thời kỳ hàng trăm ngàn quân Mỹ đổ vào miền Nam, gây nên sự bất bình sâu sắc trong tầng lớp trí thức, đánh thức lương tâm, trách nhiệm của họ trước vận mệnh dân tộc. Từ đó hình thành các tổ chức yêu nước, chống Mỹ, đòi hoà bình. Thời “xuống đường”, Trần Hữu Lục phụ trách phát thanh và báo chí của Sinh viên Huế. Lục đã cùng các thầy Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngô Kha… xuống đường với khí thế hừng hực (lúc này Hoàng Phủ Ngọc Tường dạy ở Trường Quốc học mà Trần Vàng Sao, Trần Hữu Lục, Võ Quê… là học trò). Anh kể: “Tôi vừa viết bài, biên tập vừa làm phát thanh viên của chương trình phát thanh Sinh viên Huế”. Nhóm Việt gồm các tên tuổi văn chương quen biết cho đến hôm nay như Nguỵ Ngữ, Đông Trình, Trần Hữu Lục, Trần Duy Phiên, Bảo Cự, Võ Quê, Lê Văn Ngăn, Thái Ngọc San, Trần Phá Nhạc, Bửu Chỉ.v.v… Chỉ nhắc tên tuổi các anh thôi ai cũng biết đó là những người đã tạc tên mình vào lịch sử văn nghệ Huế. Những ngày này Trần Hữu Lục xông xáo, dấn thân. Anh liên tục có các truyện ngắn Sa lầy, Về nguồn, Hát rong trên đồng,Tuổi đồng quê, Ngủ ấp, Còn quê hương để trở về… in trên các tạp chí danh tiếng ở Sài Gòn như Văn, Đất nước, Đối Diện... và anh được báo Văn bình chọn là một trong 10 cây bút trẻ có triển vọng của miền Nam. Rồi hăng say viết tin, bài, vừa tham gia thực hiện Tạp chí VIỆT, tờ Sinh viên Huế. Chính bút ký xúc động Một bông hồng cho hoà bình của Trần Hữu Lục viết về trí thức thành thị chống chiến tranh, đòi hoà bình đăng trên tờ Sinh viên Huế làm cho chính quyền e sợ, nên tờ báo đã bị cấm. Thời kỳ này, phong trào xuống đường bị đàn áp dữ dội. Nhiều trí thức, sinh viên đấu tranh ở Huế bị bắt như Trần Quang Long, Trần Văn Hoà… Một số trí thức hoạt động trong tổ chức cách mạng khác có điều kiện thì lên xanh theo kháng chiến như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Trần Vàng Sao… Lúc đó Trần Hữu Lục đã tốt nghiệp đại học, đã cưới vợ. Vợ anh, chị Nguyễn Thị Phước là nữ sinh Đồng Khánh khoá 1964, là một trong số hoa khôi của trường. Hoa khôi nên phải cưới ngay khi Lục vừa tốt nghiệp đại học. Vì đấu tranh, Lục không được chọn nhiệm sở ở Huế, mà phải lên dạy học ở Đà Lạt. Thế là đôi vợ chồng trẻ dắt nhau bắt đầu những năm tháng làm giọt Huế lãng du…

Ở Đà Lạt vợ chồng Lục- Phước có một ngôi nhà nhỏ bên triền đồi đầy nắng và hoa dã quỳ: Ô cửa mở bên triều đồi/ Rưng rức hoa quỳ vàng… (Ô cửa hoa vàng). Vừa dạy học anh vừa tiếp tục hoạt động và sáng tác trong nhóm Việt. Thời kỳ này nhóm Việt phối hợp với Tạp chí Đốí Diện, một tạp chí đối lập ở Sài Gòn do Linh mục Nguyễn Ngọc Lan chủ biên để truyền bá tư tưởng hoà bình, chống ngoại lai. Trần Hữu Lục được cử phụ trách phần văn nghệ của tạp chí cho đến năm 1975. Ngôi nhà vợ chồng anh trở thành nơi giao lưu gặp gỡ của văn nghệ sĩ các tỉnh miền Nam. Ở đây luôn có mặt những nhạc sĩ, nhà văn xứ Huế như Trịnh Công Sơn, Tôn Thất Lập, Ngô Kha, Lê Văn Ngăn, hoạ sĩ Hoàng Đăng Nhuận .v.v… Trên tờ Đối Diện, Trần Hữu Lục viết rất sung sức. Anh xuất hiện đều đặn với những bút ký, truyện ngắn Người tình lạ mặt, Còn quê hương để trở về, Thư gửi em gái Vân Dương… kêu gọi lên đường tranh đấu ; truyện Ngủ ấp, Xóm hói chống chính sách bình định nông thôn… Những sáng tác đó được Đối Diện tập hợp in thành tập truyện Cách một dòng sông năm 1971. Đây là tập sách đầu tay của Trần Hữu Lục được dư luận đánh giá cao.

3.

Sau năm 1975, Trần Hữu Lục tiếp tục dạy học ở Đà Lạt, rồi sau đó để vợ con ở lại thành phố hoa, một mình chuyển về Sài Gòn làm việc trong ngành giáo dục, rồi làm biên tập báo Tuổi Trẻ, báo Du lịch thành phố Hồ Chí Minh. Không biết do công việc bề bộn hay do “cảm hứng chống Mỹ” không còn bức bách nữa, nên gần 10 năm việc viết văn của anh bị gián đoạn. Rồi một ngày chính Huế lại gọi đứa con lãng du của mình trở lại với văn chương. Năm 1984, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm lúc đó là Tổng biên tập Tạp chí Sông Hương đã gửi thư mời Lục cộng tác. Nhận được thư mời của quê hương, Trần Hữu Lục rất xúc động. Rứa là Huế vẫn nhớ mình! Như một cỗ máy được kích hoạt lại, Trần Hữu Lục lại đam mê cầm bút như ngày nào. Anh lại tìm về “bản quán” của mình để lấy cảm hứng. Anh viết truyện ngắn “Chiếc bóng” kể về một gia đình Huế sống và hoạt động trên vạn đò Sông Hương, tình nguyện đi “kinh tế mới” ở Tây Nguyên. Vì những khó khăn ban đầu, cộng thêm sự ti tiện nhỏ nhen, ngu dốt của một số người điều hành tập đoàn sản xuất, người dân vạn đò ấy định trốn về Huế... Nhưng khi nhìn khuôn mặt mình sóng sánh trong hồ nước, ông bỏ ý định trốn. Vì ông đã nhận ra chiếc bóng mà mình đã soi suốt cả cuộc đời. Vì không ai có thể vượt qua chiếc bóng của mình. Truyện ngắn “Chiếc bóng” của anh được chọn in trên tạp chí Sông Hương đã thực sự khơi lại cảm thức văn chương trong tâm hồn Trần Hữu Lục. Lần này dường như anh mê đắm hơn, sâu đắm hơn. Giọt Huế lãng du Trần Hữu Lục ở đâu cũng viết về Huế, cũng kể về Huế, về làng Vân Dương của mình. “Quê tôi có ngôi chùa làng sau luỹ tre xanh, ở đấy có tiếng chuông ngân và lời Mẹ kể. Cây sứ bông trắng rụng ngoài hiên chùa, tiếng chim cu ngói rù rì những chuỗi âm thanh xa vắng… Mẹ tôi, mỗi khi đi lễ chùa đều mặc một chiếc áo lam và trên tay là một bó sen hồng.…” (Sen bách diệp). Đặc biệt cuối những năm 80 của thế kỷ trước, trong anh bừng thức nguồn mạch thơ ca tuôn chảy. Trong 10 năm qua anh đã làm hơn hai trăm bài thơ, đã in 4 tập thơ Lời của hoa hồng (1988), Thu phương xa (2003), Vạn Xuân (2006) và Ngày đầu tiên (2009). Thơ Trần Hữu Lục không ngất ngưởng, bất ngờ, không mới, không lạ về cấu trúc, ngôn từ, mà lắng đọng tình cảm và suy tư. Đọc thơ Trần Hữu Lục, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn viết: “Trong Lục cho đến nay vẫn luân lưu một dòng thi ca như thế. Rất nhẹ nhàng mà nồng ấm, ngọt ngào mà tinh tế, lay động với những kỷ niệm mang mang tình yêu, quê nhà…”

Huế trong thơ Trần Hữu Lục là nỗi nhớ đau đáu, ngùn ngụt thời gian: Cây gáo già cỗi chơ vơ thương nhớ/ Đèn xanh chớp đỏ bập bùng…/ Người tha hương khát ngụm nước sông Hương (Huế); là hình bóng người mẹ Vân Dương áo lam tần tảo: Bất chợt màu áo lam hiện về/ Màu thời gian những ngày xa lắc/ Mẹ dịu dàng trong từng khoảnh khắc/ Con mồ côi giữa cõi vô thường; là sự tiếc nuối một nét văn hoá đã xưa: Nhớ thương về kịp họp chợ Mai/ Nhưng chợ xưa giờ không còn nữa… (qua cầu chợ Dinh); là một niềm tin trong trẻo: Lá rừng biết chỉ xin đừng hỏi/ SôngHương vẫn chảy một đời trong (Ngày về); là hình ảnh quê hương neo đậu trong lòng: Lúc buồn tôi muốn trốn vào cõi riêng/ Chợt hiện đoá đồng tiền còn nguyên đó/ sông thơm đằm Thạch Xương Bồ quê cũ/ trong cõi riêng tôi mải mê kiếm tìm (Neo lại dáng hình) .v.v... Ngay cả khi đi ra nước ngoài, làm thơ về nước ngoài, Huế vẫn ám ảnh anh. Trên sông Seine (Paris), anh viết: sông Hương thì thầm bên anh đó; hay Lên Monmartre nhìn Paris đêm/ Bạn nhớ sông Hương chìm trong mộng (Trên sông Seine).v.v... Những hoài niệm Huế đã kết tủa thành ngôn từ trong tâm hồn Trần Hữu Lục.

Cảm phục nhất là bằng uy tín và tình yêu xứ sở, Trần Hữu Lục đã khơi được mạch nguồn Nhớ Huế trong cộng đồng đông đảo người Huế ở Thành phố Hồ Chí Minh. Với vị trí là Phó Chủ tịch Hội đồng hương Thừa Thiên Huế ở Sài Gòn, Trần Hữu Lục đã cùng với các anh trong Ban chấp hành Hội, liên kết với Nhà xuất bản Trẻ thực hiện tủ sách Nhớ Huế cách đây hơn 10 năm, đã ấn hành được 44 tập Nhớ Huế. Mỗi số là một chuyên đề về văn hoá Huế như Người xa Huế, Hương sen Huế, Trường Huế, Huế đất học, Áo dài Huế, Hương vị Huế, Đêm Hoàng cung, Festival Huế, Người Huế đương thời.v.v... và hơn 10 đầu sách của “tủ sách Nhớ Huế” như Sài Gòn nhớ Huế (tập thơ 20 tác giả), Xa xứ (tập truyện 11 tác giả); Chân dung Huế, Tượng đài Sông Hương, Ngõ đạo miền hoang dã (tập truyện của Trần Duy Phiên); Dấu ấn văn hoá Huế (Bùi Minh Đức).v.v… Ngay cả khi đi tham quan nước ngoài, Trần Hữu Lục cũng cố gắn kết những người viết Huế khắp năm châu trong một tập sách Sông Hương ngoài biên giới

Nhớ Huế phát hành ở 17 tỉnh, thành trong nước, có Ban chủ biên, phát hành, trị sự đàng hoàng. Tổ chức được mạng lưới cộng tác viên gồm các nhà hảo tâm, các “mạnh thường quân” và đội ngũ người viết trong và ngoài nước, Nhớ Huế đã làm được chuyện lớn lao là góp phần làm cho cộng đồng người Huế gắn kết hơn; con cháu Huế sinh ra xứ người hiểu thêm nếp sống, văn hoá quê hương xứ sở. Những thành công đó là ngoài mong đợi. 12 năm qua, Nhớ Huế đã thành một “thương hiệu” được người Huế khắp miền Nam tìm kiếm.

Nhớ Huế, yêu Huế đến độ Trần Hữu Lục đã mấy chục năm ròng “yêu Tạp chí Sông Hương như yêu Huế”. Anh đã hỗ trợ Tạp chí, giúp Tạp chí mở rộng “thị phần” tại thành phố Hồ Chí Minh, miền Tây Nam bộ và mời gọi cộng tác viên viết bài. Anh còn đi “cù rủ” người Huế xa quê đến với văn chương. Anh đã đến các tỉnh Đồng Nai, Cần Thơ, Dăk Lăk… tìm người đồng hành với các tác giả người Huế, có tư chất văn chương, có vốn sống trải nghiệm và đam mê sáng tác. Anh hướng dẫn họ viết và biên tập góp ý cho từng người từ thơ đến ký, truyện. Nhờ đó, mấy năm qua đã xuất hiện một số “cây bút Huế” mới như Trần Thị Linh Chi (Cần Thơ) với tập truyện ngắn “Mây lơ lửng” già dặn và khá chắc tay; dược sĩ Phan Thị Thu Quỳ (TP.HCM) với 2 tập truyện dài “Áo tím - Đồi sim”, Những dòng sông tôi đã qua”, rất trải nghiệm và chân thật; hay tác giả Bùi Kim Chi (Đồng Nai) với tập ”Tim tím Huế” có nét riêng của một cây bút nữ tinh tế. Từng việc một, Trần Hữu Lục đã trở thành người “nhân bản” Huế, làm cho văn hoá Huế lan toả đến nhiều miền đất.

4.

Lần nào về quê, Trần Hữu Lục cũng tất bật đi thăm bà con, bạn bè đến nỗi không có thời gian để ngồi nhâm nhi, tâm sự. Anh về thăm lại làng Vân Dương, thăm Từ đường dòng họ Trần và buồn vì mảnh vườn bây giờ bị cắt chia manh mún. Buồn, nhưng đó là nỗi buồn cháy bỏng của tình yêu. Rồi anh đi thăm thầy Hoàng Phủ Ngọc Tường, người đã dạy văn anh ở trường Quốc Học, người có nhiều ảnh hưởng đến đời văn của anh đang bị liệt nửa người nằm một chỗ. Hình bóng thầy Tường đã được tái hiện trong nhiều tác phẩm của Lục. Đó là truyện ngắn Đá trăm năm dựa vào một phẩn hình ảnh hoạt động của thầy Tường; đó là chuyện dài Ngày về (đã in một chương trên Đối Diện) viết từ cảm hứng về hai anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan đi kháng chiến; rồi bút ký Trở về ngôi nhà thi sĩ là viết về thầy Tường sau ngày ông bị trọng bệnh.

Thì ra tất cả Huế, từ cây sứ trước chùa, ngôi nhà của Mẹ, giọt nước Hương Giang đến người thầy giáo dạy văn tài hoa tài tử… đều trở thành máu thịt, đều trở thành món ăn để trường tồn giọt Huế lãng du Trần Hữu Lục…

Ngô Minh

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác