Thơm mãi hương mai

Thủy chung, Vĩnh Mai là nhà thơ của quê hương Quảng Trị, quê hương Bình Trị Thiên. Anh và thơ anh ra đi từ đó và đã trở về nơi đó. Những người đồng hương của anh sẽ hiểu anh trước, sau đó là những người đồng bào, những người đồng chí, những người bạn thơ, bạn văn nghệ của anh.

Người ra đi đầu không ngoảnh lại

Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy

Hai câu thơ ấy của Nguyễn Đình Thi có lẽ nói về tâm thế của người Hà Nội đi kháng chiến. Có vẻ dứt khoát không lưu luyến mà thật ra vẫn rất vấn vương. Nếu không thì tại sao “đầu không ngoảnh lại” mà vẫn trông thấy lá rơi đầy thềm nắng ở sau lưng? Dĩ nhiên, đây là tâm hồn của một con người từ giã một nỗi buồn của cũ, dù rất đẹp, để đi tìm một niềm vui mới. Đúng hơn là từ giã một quá khứ để đi đến một tương lai. Khi tôi rời Huế ra đi, đằng sau là thành phố thơ mộng của núi Ngự, sông Hương, cầu Tràng Tiền với những tà áo trắng “sớm chiều bướm bay”, tôi cũng không ngoảnh đầu lại, một là vì tôi bấy giờ còn quá trẻ, hai là vì một điều may mắn cho tôi là đi với kháng chiến, tôi lại được dấn thân vào một thế giới thơ mộng khác còn lãng mạn hơn, nó là chiều sâu, là cội nguồn của Huế: đó là Bình Trị Thiên. Quả thực Bình Trị Thiên khói lửa ngày ấy, đau thương và anh dũng, nhưng cũng tràn đầy thơ mộng, vốn là quê hương của bao nhà thơ hữu danh và vô danh từ xưa. Cuộc kháng chiến đã không làm tắt đi tiếng hát của thơ, mà làm tăng lên, vang hơn, với những câu hò kháng chiến xao động lòng người. Trên đường lên chiến khu, một người con gái hát:

Mưa rơi ướt cả trăng tan

Ướt em thì em chịu, ướt vệ quốc đoàn em thương.

Người con gái còn “chê” người con trai cầu an, không ra đánh giặc cứu nước, anh lên tiếng thanh minh:

Quốc phá gia vong, thù chung ai không muốn trả

Nhưng gánh gia đình anh đây còn nặng quá em ơi

Cha mẹ già gần đất xa trời

Như ngọn lá vàng trước gió không biết rơi khi nào...

Không biết người con gái động viên thế nào mà sau đó anh lại tỉnh ngộ:

Nghe em nói qua nghe ra anh đây còn nghi ngại

Nhưng em nói lại anh mới rõ sự tình

Anh xin thề cùng đấng cao xanh

Quyết đen thân ra giúp nước

Để đem lại lẽ tồn sinh cho giống nòi...

Giọng hò quê hương đã đổi thì tiếng thơ quê hương cũng không còn lả lướt như cũ. Và hồi ấy ở Bình Trị Thiên xuất hiện không biết bao nhiêu nhà thơ. Hầu như mỗi con người biết chữ, thậm chí chưa biết chữ, đi kháng chiến cũng thành nhà thơ. Nghe qua vài tên tuổi: Thừa Thiên có Hồ Vi, Hoàng Nguyên, Thanh Hải; Quảng Trị có Lương An, Dương Tường; Quảng Bình có Xuân Hoàng. Thơ nuôi người như cơm gạo. Thơ không cần đăng báo, xuất bản mà cũng được phổ biến, truyền tụng rộng rãi. Bước chân vào kháng chiến, tôi đã được đắm mình trong văn nghệ Bình Trị Thiên. Ngoài thơ còn có nhạc, họa, văn (nhạc có Nguyễn Văn Thương, Trần Hoàn; họa có Hoàng Tuấn Nhã; văn có Trần Thanh Định, Trịnh Xuân An, chưa kể Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư, Bùi Hiển, và cả Phạm Duy, và bao văn nghệ sĩ khác từ hậu phương chi viện cho chiến trường, như sau này miền Bắc chi viện cho miền Nam...

Trong số các nhà thơ chính gốc Bình Trị Thiên, ngoài Tố Hữu lúc này đã là nhà thơ của cả nước, nổi lên nhà thơ Vĩnh Mai - như một người anh cả. Trước hết, vì anh là nhà thơ cách mạng “cựu trào” từ nhà lao Buôn Ma Thuật trở về. Nhưng không chỉ thế. Còn vì anh thơ anh đi đầu trong “đổi mới” thơ thời ấy, tức “kháng chiến hóa” thơ, theo lời kêu gọi của Bác: “văn hóa hóa kháng chiến”, “kháng chiến hóa văn hóa”. Đông đảo cán bộ, bộ đội Bình Trị Thiên ngày ấy không ai là không biết bài thơ Khóc Hoài của anh, có người thuộc lòng. Một bài thơ kháng chiến đầu tiên nói đến mất mát, hy sinh, nói đến cái chết của đồng chí, đồng đội, vời lời thơ mộc mạc, chân thành, bằng tiếng nói, giọng nói của quê hương, như tiếng khóc thốt ra từ gan ruột: Anh Phạm Thanh Hoài hy sinh ở huyện tôi cũng thời với người anh ruột tôi, liệt sĩ Trần Thanh Hiến, huyện ủy viên huyện Phú Lộc.

Hoài mi ơi, mới bước được nửa đường

Răng mi chết thình lình oan uổng rứa?

....Mi táo bạo về ngay chi Phú Lộc

Để cho Tây phục kích bắn mi đi?

...Ngày mai đây, dưới bóng đẹp cờ hồng

Mi vắng mặt, buồn cho tau biết mấy...

Sau bài thơ đó, dường như có cả một làn sóng phương ngữ Bình Trị Thiên tràn vào thơ văn. Đó không chỉ là vấn đề ngôn ngữ. Đó là cuộc sống. Có nhà thơ như Hồ Vi – nhà thơ liệt sĩ của Thừa Thiên – đã làm bài thơ toàn bằng giọng Bình Trị Thiên, tuy là Lời quê mà rất hay:

Mấy bữa ni rồi trời thiếu nắng

Chừng chưa bưa lụt, nước coi cao

Khi đêm bộ đội hành quân tới

Trấn thủ đầm phơi chật cả sào...

... Thương anh nỏ có... cầu anh mạnh

Anh nện thằng Tây bể sọ dừa

Thương anh, cơ khổ! Mà nghèo quá!

Thiếu rơm lót ổ, lạnh lùng khuya...

Vượt lên trên thơ của anh em, còn nhiều ngọng nghịu nhưng dễ thương, thơ Vĩnh Mai đã đổi mới một cách vững vàng, chững chạc với phong độ của một nhà thơ đã lão luyện. Trong lúc các “đại gia” của thời Thơ Mới đang còn lúng túng tìm lời để nói về cuộc sống kháng chiến, thì Vĩnh Mai đã rất thành công trong các bài thơ của anh về cái hiện thực hào hùng và vĩ đại ấy. Bình Trị Thiên ngày ấy là một chiến trường của chiến tranh du kích, khắp nơi nhân dân đánh giặc giữ làng. Bài Người dân quân xã phải xem là kiệt tác đầu tiên của thơ Việt Nam về hình ảnh của người chiến sĩ du kích tiêu biểu, sau Bài ca du kích của Hồ Chí Minh. Song, trong thơ Bác đó là người du kích trong tư duy chiến lược tổng quát của một vị tướng du kích, còn bài thơ của anh là hình ảnh của con người đó, cụ thế, sinh động, hiện thực trong cuộc sống, từ cuộc sống hiện lên trong thơ. Bài thơ này cho đến nay tôi vẫn cho là toàn bích, hay từ câu đầu đến câu cuối. Đương thời, nhà văn Hải Triều đã cực lực tán dương mấy câu hay nhất song không phải là hay duy nhất:

Giặc trên không đổ xuống

Giặc dưới nước ùn lên

Đèn dày như bổ lưới

Nhưng giặc vào xóm dưới

Anh đã tới làng trên

Giặc cất bước đi lên

Anh vòng quanh trở xuống

Anh lộn quèo lộn cuống

Giữa thiết giáp, xe tăng

Quyết ôm chặt xóm làng

Như ấp iu núm ruột...

Trong hai lần kháng chiến của chúng ta, giặc trước rồi giặc sau đã bao lần dùng ưu thế quân sự để càn quét xóm làng, “tát nước để bắt cá”, song hình ảnh anh du kích xã trong thơ Vĩnh Mai là hình ảnh tiêu biểu, bất khuất và bất diệt của người anh hùng đó của cuộc chiến tranh nhân dân Việt Nam. Tôi trộm nghĩ, chỉ một bài thơ ấy thôi, Vĩnh Mai đã xứng đáng được giải thưởng văn học cao quý của đất nước.

Vĩnh Mai là nhà thơ đàn anh đi đầu trong diễn tả cảm hững mới của thơ trong cuộc chiến đấu ở tiền tuyến thì anh cũng là nhà thơ đi đầu trong diễn tả vẻ đẹp mới của người nông dân lao động ở hậu phương trên quê hương anh. Hồ Chí Minh kêu gọi:

Ruộng rẫy là chiến trường

Cuốc cày là vũ khí

Nhà nông là chiến sĩ

Hậu phương thi đua với tiền phương...

Trước khi bài thơ Thăm lúa của Trần Hữu Thung trở thành một hiện tượng quốc tế, và hai câu thơ của Hoàng Trung Thông: Bàn tay ta làm nên tất cả/ Có sức người sỏi đá cũng thành cơm nổi tiếng khắp nước, đã có bài thơ Mùa lúa mới của Vĩnh Mai, nhưng được ít người nhắc đến tuy đồng thời cũng rất được phổ biến:

Từng mảnh đất rộn ràng

Vui như ngày khởi nghĩa...

Đó đồn Thi Ông

Đây đồn Diên Khánh

Giặc lùng ta tránh

Giặc rút ta về

Tay ta níu chặt đồng quê

Lòng ta giữ chặt lời thề năm nao

Có người du kích

Ngóng sang đồn địch

Lựu đạn cầm tay

Mắt anh ấp ủ luống cày

Lòng anh bồng bế một ngày phản công...

Bài này với bài Người dân quân xã ra đời như một cặp song sinh. Không những đề tài mới, cảm hứng mới, mà thi pháp, ngôn từ cũng mới. Tôi nhớ ngày ấy, nhiều người tán thưởng mấy chữ “ấp ủ” và “bồng bế” trong hai câu thơ cuối của đoạn trích trên đây, cũng như bốn chữ “lộn quèo lộn cuống”, “ấp iu núm ruột” ở bài thơ trước. Dùng chữ như vậy táo bạo thì thật táo bạo, mà tự nhiên thì cũng rất tự nhiên. Không có nhu cầu gì để “gây sốc” bằng chữ nghĩa ở đây. Đổi mới thật là sáng tạo thật, không cố tình gây ấn tượng mà câu thơ vẫn gây ấn tượng sâu sắc. Ở thơ Vĩnh Mai, tính nghệ thuật của thi pháp là con đẻ của tính chân thực trong thi cảm. Đâu đó những người thiên trọng về chủ nghĩa hình thức hay chủ nghĩa duy mỹ thường không nhận ra. Đó cũng là dấu hiệu của mỹ cảm cũ không còn tinh nhạy với nghệ thuật mới, cho nên tôi vừa ngạc nhiên vừa không lấy làm lạ khi đọc thơ Vĩnh Mai, Hoàng Cầm nhận xét: Anh viết bài thơ rất nhanh vì ít khi rèn ngòi bút, cân nhắc từ ngữ, nhịp điệu. Có cảm xúc, trước cảnh, trước việc của người chiến sĩ, người nông dân, hoặc gần nhất là người bạn, người vợ là anh viết được ngay. Cũng vì thiếu rèn giữa trong nghề thợ, nên những ưu điểm kể trên (chất phác, chân thành, giản dị) cũng dễ trở thành điểm non kém...

Tôi đồng tình nhiều hơn với cảm nhận sau đây đối với thơ Vĩnh Mai của Hoàng Phủ Ngọc Tường:

Tôi đã nghe bài “Khóc Hoài” với tất cả xúc động trước một bài thơ hay, hay một cách khác hẳn so với thơ hay mà tôi đã biết trước đó. Trước đó chính là Thơ Mới với những tên tuổi oai trấn giang hồ thế kia, với ngôn ngữ cao sang, tráng lệ thế kia, tôi sùng bái là chuyện đương nhiên. Đây là lần đầu tiên tôi biết đến một bài thơ với “thi pháp” hoàn toàn khác lạ... Tôi xin tạm gọi đây là trường phái thơ vùng khu IV cũ, đều là những tri thức đã giác ngộ cách mạng đến tận dòng máu của mình. Vĩnh Mai có chỗ đứng trong dòng thơ này, và vì thế đời không quên thơ anh.

Tôi xin nói thêm (dù anh Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng đã nói nhiều hơn và đúng hơn về người và thơ Vĩnh Mai, tiếc rằng còn ít người hiện nay đọc thơ Vĩnh Mai để chia sẻ với lời phẩm bình của Hoàng Phủ Ngọc Tường), rằng: thơ Vĩnh Mai không chỉ thuộc dòng thơ của những người đi chân đất, mà thuộc dòng thơ lớn, nó là chủ lưu của thơ Việt Nam từ xưa đến nay, nhất là từ đầu thế kỷ XX, bắt đầu từ thơ Phan bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền, thơ Đông Kinh Nghĩa Thục, thơ Hồ Chí Minh và các nhà thơ thuộc dòng thơ chiến sĩ trên mặt trận thơ của chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng và chủ nghĩa nhân văn Việt Nam thời hiện đại. Thơ đó là chính trị, không phải là ngôn luận về thơ. Song nói về thơ Vĩnh Mai, tôi nghĩ nếu không nói như thế thì không thể nào nói khác, hoặc phải nói tỉ mỉ từng bài thơ của anh, từ niềm chung đến nỗi riêng, từ niềm vui đến nỗi đau (nỗi đau riêng cố nén sau niềm vui chung mà một người cộng sản như anh không thể nào ứng xử khác được) từ những bài thơ trữ tình và trào phúng, đả kích đến những thiên sử thi và quê hương. Thủy chung, Vĩnh Mai là nhà thơ của quê hương Quảng Trị, quê hương Bình Trị Thiên. Anh và thơ anh ra đi từ đó và đã trở về nơi đó. Những người đồng hương của anh sẽ hiểu anh trước, sau đó là những người đồng bào, những người đồng chí, những người bạn thơ, bạn văn nghệ của anh. Những người đó rất đông.

Có lẽ ai đó có cảm tưởng rằng thơ Vĩnh Mai không hay là vì nó quá dễ hiểu. Tôi đã đọc lại Tuyển tập Vĩnh Mai qua các giai đoạn hoạt động và sáng tác của anh thì thấy rằng thơ anh quả là thơ dễ hiểu, song cũng như mọi thứ thơ dễ hiểu xưa nay, nghĩa là trong sáng ở trên đời, khi thơ không chỉ là những ngôn từ nghệ thuật thông thường mà tiếng nói, tiếng cười, tiếng khóc, tiếng kêu thương, cả nỗi uất ức của con người thực sự, chân chính, sống chết đều giữ bản sắc và lý tưởng của đời mình, trung thành với chính mình và thời đại của mình thì sự dễ hiểu đó không chỉ là dễ hiểu. Ngày xưa Trang Tử chế nhạo Huệ Tử như con chim sâu, chim sẻ không hiểu cái tâm, cái chí của chim bằng, dù cái đường bay của nó vẫn là của loài chim, không có gì “khó hiểu”.

Có những sự dễ hiểu mà những người rất thông minh cũng khó hiểu hết, tôi không nói là không hiểu. Vì như nhiều người đồng thời với Hoài Thanh và Thơ Mới không hiểu hết thơ của Phan Bội Châu. Ai cũng biết Nguyễn Tuân là đại nghệ sĩ của văn xuôi, song có trường hợp ông tỏ ra không hiểu văn của Minh Viên Huỳnh Thúc Kháng. Thậm chí như Tản Đà, nhiều người hiểu thơ của ông song lại không hiểu văn của ông, mà hiểu thơ Tản Đà là chỉ hiểu cái tài của ông, còn là nguồn cội của bao nhiêu giá trị của thơ Tản Đà, là cái phần khó hiểu trong cái phần dễ hiểu, cái phần vĩnh cửu bên trong cái phần nhất đời của thơ Tản Đà.

Nói về thơ Vĩnh Mai, tôi chỉ trở lại những bài thơ của anh thời kháng chiến, những bài thơ đầu tiên đã góp phần “thay đổi đời tôi” và không phải “thay đổi thơ tôi” như Chế Lan Viên nói mà là “Thay đổi cách đọc thơ của tôi”, như anh Hoàng Phủ Ngọc Tường đã viết rất hay về điều đó đối với bản thân anh. Tôi cũng cho rằng tất cả thơ của Vĩnh Mai về sau, thời hòa bình ở miền Bắc, thời chống Mỹ cứu nước của cả hai miền, thời sau chiến thắng và thống nhất đất nước đều là một dòng chảy từ những bài thơ đầu tiên thời kháng chiến chống Pháp như từ một nguồn suối đầu tiên, một ngọn lửa đầu tiên - một nguồn suối thấm đẫm, một ngọn lửa thiêu đốt tâm hồn anh, con người anh cho đến giây phút cuối cùng của cuộc đời, như một nến hương cháy đến hạt hương liệu cuối cùng mà vẫn còn thơm ngát.

Thơ Vĩnh Mai dễ hiểu mà cũng khó hiểu là vì những lẽ ấy, cả đối với những người có lòng tốt và không thiếu trí thông minh, chỉ khác đi một chút trong cách cảm nhận thơ ca, lịch sử và cuộc sống.

Tôi cảm thấy hình như với nhiều người, thơ Vĩnh Mai chỉ còn lại hai câu:

Mùa thu dừng lại ở Long Biên

Để một mình tôi lên Vĩnh Yên...

Nhưng ngay cả bài thơ ấy cũng không chỉ hay ở hai câu đầu ấy. Nói chi là bao nhiêu bài khác, kể cả những bài thơ dài như những thiên trường ca, những bài thơ đả kích ngắn dưới bút danh Búa Tạ. Tôi đã nghe nhiều lần, nhiều người đọc hai câu thơ tả một con người:

Gặp trên khúm núm lưng tôm bạc

Thấy gái ngo ngoe đít cá vàng...

Hóa ra đó là hai câu trong một bài thơ bát cú rất chuẩn của anh.

Thực ra, bên cạnh những người thờ ơ, cũng có rất nhiều người hiểu anh, hiểu thơ anh. Trên kia tôi đã nhắc đến Hoàng Phủ Ngọc Tường. Tôi ghi lại sau đây những lời bình giá toàn diện và nên thơ của nhà thơ Trần Lê Văn:

Hồn thơ Vĩnh Mai còn tỏa thơm trên trang giấy, giống như hương thơm của hoa mai, loài hoa trong trắng đã được ghi nhận sắc hương trong thơ Nguyễn Du: Mai cốt cách, tuyết tinh thần

Tôi muốn “nối điêu” nhà thơ Trần Lê Văn để nói rằng: Nhà thơ Lục Du (1125-1210) đời Tống có mấy câu vịnh hoa mai, buồn hơn câu của Nguyễn Du:

Vô ý khổ tranh xuân

Nhất nhiệm quần phương đố

Linh lạc thành nê, nghiễn tác trần

Chi hữu hương như cố

(vô ý nở trước mùa xuân, cho nên các hoa khác ghen tị tưởng tranh mất mùa xuân của chúng. Mai rơi xuống thành bùn, nát ra thành bụi. Chỉ còn hương thơm là như cũ).

Tôi đọc sau Tuyển tập Vĩnh Mai những lời chi âm như một giàn đồng thanh tán thưởng anh. Tôi chỉ viết ở đây những lời phụ họa muộn màng mà thôi.

Tên thật của anh là Nguyễn Hoàng, nhưng lấy hiệu là Vĩnh Mai. Cái hiệu ấy chẳng tiên báo tính cách và số phận của anh cùng với thơ anh, như hương mai còn thơm mãi cho đến bây giờ và mai sau.


TRẦN THANH ĐẠM

(Tạp chí Nhà văn)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác