Thơ viết dọc đường đời

Anh Chi

Kể từ 1971, có cuộc gặp gỡ của Hữu Thỉnh và chúng tôi trong một buổi đêm chiến tranh ở thị xã Thanh Hoá, đến nay, đã hơn một phần ba thế kỷ trôi qua. Đã đặm dài thời gian, dặm dài đường đất. Chúng tôi biết, đường đời Hữu Thỉnh cũng còn là đường thơ của anh, là cuộc hành trình dằng dặc, trải biết mấy đau thương, và cũng thật nhiều mộng ước…

Thơ viết dọc đường đời - ảnh 1
Nhà thơ Hữu Thỉnh
Thị xã Thanh Hoá năm 1971, những đêm phòng thủ không đèn điện đã đành; còn rất hiếm thấy ánh đèn dầu. Đêm chiến tranh thật nhiều ái ngại và lo âu, chúng tôi bỗng có người gọi và bảo rằng: có người bạn từ ngoài Bắc vào thăm. Người bạn đó là Hữu Thỉnh, thời ấy được coi là nhà thơ trẻ. Đương thời, trong đời sống văn chương, người ta hay nói thơ chống Mỹ là để gọi một trào lưu thơ mới khởi phát mạnh mẽ, cũng là để nói tới thế hệ các nhà thơ dồi dào sức viết, mới trỗi dậy, tạo nên một sức sống cho thơ ca. Năm 1971, nhà thơ trẻ Hữu Thỉnh đang là một người lính binh chủng thiết giáp, trên đường hành binh vào tham gia chiến dịch Đường 8 - Nam Lào. Anh ghé thăm tôi chừng hai tiếng đồng hồ, khoảng thời gian đoàn binh thiết giáp nghỉ để bổ sung thêm quân dụng và hậu cần. Đêm tuyến lửa, chúng tôi uống trà ba hào, loại trà vụn 0,3 đồng một gói, mà nói toàn chuyện thơ ca, thơ chống Mỹ. Nào chuyện Bằng Việt nói những điều to tát qua những câu thơ nặng về suy tưởng. Lưu Quang Vũ thì thật tinh tế và đa cảm, ngọt ngào. Và Phạm Tiến Duật đang nổi danh bởi thơ viết về bộ đội Trường Sơn… Nay nhớ lại, tôi hình dung thấy, đêm ấy, tiễn Hữu Thỉnh đi, dáng gầy, đi cặm cụi, dấn thân. Và khi ấy chúng tôi cảm nhận được rằng, rồi anh sẽ tạo nên được một thứ thơ của riêng anh, chắc sẽ không giống thơ của những nhà thơ trẻ mà chúng tôi vừa nhắc tới. Chúng tôi còn chạy theo, tặng cây bút Hồng Hà mà mình đã dùng viết những bài thơ đầu tiên… Thế rồi, vài năm tiếp sau đó, Hữu Thỉnh cho in những bài thơ về chiến tranh, xúc cảm trần đời hơn. Hành binh trên xe tăng, nghĩ tới người mình yêu, anh viết: Chúng đang nhằm bắn anh và đồng đội/ em biết không? (bài Ý nghĩ không vần). Trong Giấc ngủ trên đường ra trận, có những câu thơ vừa quyết liệt vừa vững lòng: Bom Mỹ cắn vào đêm thơ mộng/ Con suối dài cứ hát để đi xa…là thứ thơ viết được trên đường đánh trận, đói và rét, và đổ máu, nên nó mang cái thực của tình đời. Có được cái tình ấy, thơ mới nhiều thương cảm, như bài Chuyến đò đêm giáp ranh, những câu thơ mô tả mà khiến người ta xao xuyến lòng:

bìm bịp chùm đôi kêu dính vào nhau

tiếng nước vỗ ra rồi chập lại

đêm chỉ thực bằng âm thanh chừng ấy

tất cả là ru, tất cả là mơ…

Với bài thơ Chuyến đò đêm giáp ranh và bài thơ dài Sức bền của đất. Hữu Thỉnh được tặng giải A cuộc thi thơ của báo Văn nghệ 1975- 1976. Có thể nói, đó là sự ghi nhận của đời sống văn chương đối với một giọng thơ về trận mạc không mấy tô hồng, biểu dương, mà gần với tính đời thực. Nguời hiểu sâu về Hữu Thỉnh thì biết, đó là thơ anh viết về bản thân mình, về những người thân yêu cùng đói no, ấm lạnh, cùng đổ máu, mồ hôi và nước mắt. Với mục đích nghệ thuật như vậy, Hữu Thỉnh đã có con đường thơ của riêng mình. Đó cũng là con đường cuộc đời anh. Sinh năm 1942 ở quê hương Vĩnh Phúc, được học tập ở trường quê, vào tuổi hai mươi thì vào bộ đội tăng thiết giáp, đi vào cuộc chiến tranh bằng việc cụ thể là chiến đấu trực tiếp ở các chiến trường. Trải qua các trận chiến, với một tâm hồm đa cảm, mỗi ngày sống là lại thêm bao thương nhớ ngổn ngang, và, nó trở thành thơ anh. Nhìn nhận về Hữu Thỉnh trong cuộc đời như thế, mới hiểu rằng, chính con đường số phận anh đã làm cái việc đưa anh dấn bước trên con đường thơ của mình. Ngay sau Giải thưởng thơ báo Văn nghệ, Hữu Thỉnh bắt đầu khởi thảo trường ca Đường tới thành phố, một tác phẩm quan trọng bậc nhất của đời thơ anh, cũng là một tác phẩm hay cho thơ Việt Nam hiện đại. Mở đầu trường ca là chương Ngọn lửa chiến trường, và những câu thơ đầu, nhà thơ viết về các chiến binh xoè bàn tay lạnh cóng hơ trên đống lửa, sưởi một chặng đường dài bất tận. Những câu thơ đưa người đọc đến một không gian ngoài đống lửa, thật rộng lớn; Trước mặt là bao nhiêu miền quê/ Sau lưng là bao nhiêu miền quê/ Ngọn lửa ta đốt lên ở giữa. Rồi câu thơ lại đưa cho độc giả vào chiều sâu thời gian của đời người: Nếu mẹ biết ta còn đông đủ/ Đang bập bùng thương nhớ suốt hành lang/ Giọt đèn ấy bớt đi nhiều khuya khoắt/ Chia bình yên cho mỗi con đường (Giọt đèn ấy là giọt đèn đêm đêm mẹ thương những đứa con trận mạc) Và rồi, những câu thơ như rọi cho người đọc thấy tửng gương mặt chiến binh, chủ những căn hầm, đã đốt ngọn lửa để tìm vào tri kỷ. Mẹ lại hiện lên trong tâm trí: Mẹ đang gánh rạ giữa đông/ rạ chẳng nặng mà nặng nhiều vì gió. Và mẹ đã nhập vào hình tượng lớn hơn, như quê hương, lại như người có sứ mệnh lớn lao nhất, dẫn dắt đoàn chiến binh:

Những cánh đồng in dấu chân của mẹ

Cứ ngày ngày ra khẩu lệnh cho tôi

Khi viết Đường tới thành phố, bút lực của Hữu Thỉnh thật dồi dào. Cấu trúc từng chương, từng khúc nhỏ trong chương đó, vừa có hình tượng thơ độc lập, lại có những liên kết với nhau, tạo thành một chỉnh thể lớn của trường ca. Từ cảm xúc trầm sâu ban đầu trước khi bước vào trận đánh lớn, lối mô tả những nhân vật giữ vai trò then chốt của đơn vị có nhiệm vụ đột phá, mở đường tiến tới Sài Gòn, được thể hiện bằng những câu thơ thật phong phú chi tiết sống: Gạo chỉ mang đủ mười ngày còn dành mang súng/ Còn mang thuốc/ Còn mang nhau/ Mang bao nhiêu tai biến dọc đường… Nhiều lúc, qua một chi tiết sống có phần đau thương, mà xúc cảm thơ trào dâng một vẻ đẹp cao cả, như chi tiết những người lính thêu họ, tên đơn vị mình trên ngực áo: Người ta tìm áo báo tin cho mẹ/ Nếu chẳng may anh ngã xuống nơi đâu/ Đến cái chết đã chả cần giấu giếm/ Trái tim anh càng đập ngang tàng… Chúng tôi muốn nhìn lại một chút tiến trình thơ ca Việt nam hiện đại, thấy dường như suốt mấy chục năm trời chỉ thật nhiều thơ viết về chiến tranh. Sau một thời đại thơ ca (Chữ của Hoài Thanh gọi giai đoạn thơ mới 1932 - 1942); từ năm 1946 lại bắt đầu một thời đại thơ ca mới nữa, và nó được khởi lên từ máu lửa, trận mạc, với Đèo cả của Hữu Loan và Nhớ máu của Trần Mai Ninh. Họ đã viết trước khi chính quyền nước Việt Nam dân chủ và độc lập phát lệnh Toàn quốc kháng chiến chống xâm lược Pháp. Hai nhà thơ đặc sắc đó đã tạo cho thơ ca Việt Nam những hình tượng hùng tráng, xúc cảm thật to lớn, giọng điệu ngùn ngụt máu lửa, chưa từng có trong thơ ca dân tộc. Đó là hai phong cách thơ khác nhau, và cho đến nay, đầu thế kỷ XXI, bút pháp của Hữu Loan và Trần Mai Ninh vẫn khiến người ta kính phục! Đó là lịch sử tạo nên nhà thơ, làm nên thơ ca của mình…

Nêu nhận xét trên, chúng tôi không có ý so sánh thơ Hữu Thỉnh với thơ của hai nhà thơ ấy, bởi, mọi sự so sánh đều khập khiễng. Chúng tôi chỉ muốn lưu ý rằng, năm 1975, lịch sử dân tộc lại ghi thêm một dấu mốc thật huy hoàng với chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng Sài Gòn, thống nhất đất nước. Con đường số phận riêng của Hữu Thỉnh đã đưa anh vào cuộc hãnh tiến của Binh đoàn thiết giáp, một đơn vị chủ công, có vai trò lớn trong việc mở đường tiến vào Sài Gòn. Qua suốt cuộc hành tiến, may sao Hữu Thỉnh không chết, vậy nên đời sống thơ ca có thêm trường ca Đường tới thành phố! Thơ ấy, tất có được những cảm xúc lớn về Tổ quốc, về nhân dân với biết bao người con đi suốt qua mọi lửa máu và hy sinh. Thơ ấy, tất có được những suy tư về quê hương, về đất nước, về tình yêu và lẽ sống. Thơ ấy viết về những giá trị lớn hơn cả thơ ca: Anh quên thơ để nhớ gốc sim cằn/ Dăm bảy lá lèo tèo như mực rớt… Nhưng thứ sim cằn ấy ở cái ranh giới giữa ta với kẻ thù, người chiến binh vệ quốc phải thấy sim ấy là đất đai Tổ quốc mình. Và người lính ấy phải bò về phía gốc sim…/ Gốc sim cằn và sơ xác làm sao/ Không che nổi anh đâu, bò cách chi cũng lộ. Sau những mô tả, là trữ tình, khiến rơi nước mắt:

Em có thể mất anh bất cứ lúc nào

Em có thể bơ vơ khi em còn rất trẻ

Đường tới thành phố dằng dặc đau đớn, mất mát. Chiếc máy bay cán gáo của kẻ thù dòng một xác đồng chí của anh đã bị chúng chặt đầu, câu thơ như tạc: Máu anh nhỏ xuống núi ngàn/ Đời anh treo một dấu than giữa trời. Đan xen giữa những khúc thơ khốc liệt, máu lửa, trong trường ca, nhiều đoạn trữ tình. Có khi trữ tình về cái đói: Bíu lấy lá rau như bíu lấy lá buồm/ Qua sóng gió hiểm nghèo trăm trận đói. Có khi trữ tình về sự tướp da, nhỏ máu: Em có nghe thấy không…?/ Sỏi buốt quá/ Bò thì đau mà không bò thì chết… Dằng dặc mấy thì hành trình tới thành phố cũng đến hồi thần tốc, những câu thơ như thét lên: Xuân Lộc, Tôi gọi những cánh rừng cao su/ Rừng cao su bật gốc/ Chân nhang la liệt đất. Những đoạn cuối trường ca nhiều khúc trữ tình hơn, trữ tình về mẹ: Nếu mẹ biết chỉ còn đêm nay/ Đêm nay nữa là con vào thành phố/ Mẹ sẽ khóc rồi mẹ đi nhóm lửa/ tưởng sáng là con đã có nhà; cũng có cái hào sảng, tưng bừng, thứ hào sảng, tưng bừng mà trước đó chưa từng có và  không có trong thơ Hữu Thỉnh. Anh đã nhận được ân huệ của thời điểm lịch sử, vào thành phố, tưng bừng nụ cười, tưng bừng nước mắt!... Đọc Đường tới thành phố, chúng tôi tự dưng nhớ câu thơ của Hàn Mặc Tử: Xin dâng này máu đang tươi/ Này dâng nước mắt nụ cười chen nhau. Có liên quan gì đâu, một câu thơ của bốn mươi năm trước với bản trường ca của người bốn mươi năm sau?! Có đấy chứ, cũng là dâng hiến cả thôi. Người xưa với cái tôi trữ tình cao vợi, muốn dâng hiến cho Đời cái giá trị lớn nhất mình có. Người sau, đi trên đường số phận mình trong cuộc đi cùng bao người chung lòng, chung sức với rất nhiều buồn vui, sướng khổ, rồi cũng muốn dâng cho đời phần giá trị nhất mình có được trong cuộc hành trình… Và, quà hiến dâng cũng giống nhau đấy chứ. Là máu tươi, nước mắt và nụ cười… Xin người đọc coi suy ngẫm này của chúng tôi là một suy ngẫm về thành công của thơ ca!

Sau Đường tới thành phố, Hữu Thỉnh còn viết ngay một trường ca nữa là Trường ca biển, xong lần thứ nhất từ 1981, và hơn mười năm sau, anh mới sửa chữa lại, rồi xuất bản năm 1994. Cũng xin nói thêm, bài thơ dài Sức bền của đất mà báo Văn nghệ trao tặng giải A cuộc thi thơ 1975 - 1976 (cùng  bài thơ Chuyến đò đêm giáp ranh) là một trường ca, Hữu Thỉnh viết trước cả trường ca Đường tới thành phố. Và rồi, gần 20 năm sau anh mới sửa chữa và xuất bản năm 2004. Những thông tin nêu ở trên cho thấy Hữu Thỉnh đã lao động sáng tạo thơ thật dày công! Hai trường ca này, chúng tôi cho rằng, dù xuất bản muộn, nó cũng nằm trong chặng thứ nhất cuộc đời thơ Hữu Thỉnh. Là chặng thơ viết về chiến tranh, với vốn sống phong phú về trận mạc cùng những suy tư về quá khứ và hiện tại, về cái thường tình và cái vĩ đại ở trong mỗi con người. Và qua đó, nói được phần nào phẩm giá của dân tộc, sức sống của nhân dân. Trong trường ca đó, Hữu Thỉnh vẫn sáng tạo được những câu thơ rất giàu mỹ cảm, như những câu thơ mô tả những người lính đảo trên bãi cát mép đảo: Ngồi ghép nhau bao nỗi nhớ nhà/ Chiều áo rộng vài vạt mây hờ hững/ Họ cứ ngồi như chum vại hứng mưa… Hoặc những câu thơ trữ tình về cuộc đời người mẹ trong quá khứ buồn khổ:

Mẹ đành gọi bán lúa non

Liềm hái buồn quang gánh cũng buồn…

Rơm rạ sang làm khói bếp nhà người

Những năm khởi viết Trường ca biển, sửa chữa trường ca này, vừa sửa chữa trường ca Sức bền của đất, là những năm sau chiến tranh, cũng là những năm cuộc sống con người đứng trước những thử thách rất mới, những thử thách rất lớn. Cuộc sống người dân hàng ngày có nhiều va đập, xáo trộn trong mưu sinh, nên tâm tính con người có nhiều xao xác. Giới trí thức phải dằn vặt, nghĩ ngợi nhiều về các vấn đề lớn, như đạo đức, hạnh phúc… Và, có lẽ, những tác gia, nhà nghiên cứu, thi sĩ là day dứt nhiều nhất. Những day dứt đó cùng bản lĩnh và lòng yêu cuộc sống, đem bày tỏ trong tác phẩm. Nhà thơ Hữu Thỉnh cũng vậy, anh viết những bài thơ của mình, rồi đến năm 1994 đem in trong tập Thư mùa đông.

Chúng tôi thấy, trong những năm tám mươi, chín mươi của thế kỷ XX, tâm hồn con người mộng ước tươi tốt về hạnh phúc con người đã vập vào nhiều trở lực thật lớn. Mỗi nghệ sĩ lớn, mỗi giáo sư, mỗi nhà khoa học đều thấy kiếm sống là việc rất khó, và giữ được phẩm hạnh còn khó hơn. Vậy mà, Hữu Thỉnh vẫn là một thi sĩ thật giàu mơ mộng, cũng như thời anh ở chiến trường bom đạn bời bời vẫn cứ mơ mộng. Ví dụ: Ngồi trong xe tăng nóng nung như trong một quả bom hơi, cũng mơ mộng được; Năm anh em trong một chiếc xe tăng/ Như năm bông hoa nở cùng một cội. Khi sát kề cái chết, cảm xúc rất to lớn, vẫn nhuốm mơ mộng: Trời ơi nếu kẻ thù chiếm được/ Chỉ một gốc sim thôi dù chỉ gốc sim cằn/ Tổ quốc sẽ ra sao, Tổ quốc/ Thơ ơi thơ hãy ghì lấy gốc sim… (Đường tới thành phố). Hữu Thỉnh còn viết thẳng về việc mơ: Tôi thức dậy với giấc mơ đầy cát/ Cát đầy dấu chân chim/ Chim đầy mùi trời/ Trời đầy mùi thiên hạ. (Trường ca biển). Khi nhìn nhận phẩm chất thơ mộng của Hữu Thỉnh,chúng tôi hay nhớ đến một luận điểm đặc sắc của Valéry. Ông cho rằng: mơ mộng là nhận thức. Thơ Hữu Thỉnh in trong tập Thơ mùa đông, thể hiện những nhìn nhận về lẽ sống, về tình đời những năm đầy xáo động: Ta đâu có đề phòng từ phía những người  yêu/ Cây đổ về nơi không có vết rìu, là mơ mộng đấy, và cũng là nhận thức đấy chứ! Hai câu thơ trên ở trong bài Tự thú. Trong bài Hạnh phúc, cái mơ mộng đau thót ngực: Ra sông vớt đám củi rều/ Cha tôi mang về những khúc ca trôi nổi/ Cây khế có thêm vị buồn… là mơ mộng khi đau về nhân tình đấy. Nhưng, vẫn nhận ra một thế thái, buồn nhưng đẹp sáng trong: Mẹ hát nghìn câu có một câu chưa hát/ Cây rơm vẫn mơ thành đám mây vàng… Trong tập thơ Thư mùa đông, có một bài chất chứa nhiều tâm tư nhất của Hữu Thỉnh, theo chúng tôi, khá tiêu biểu trong chặng thơ sau chiến tranh, cuộc sống có những đổi mới lớn, đó là bài Nghe tiếng cuốc kêu!. Những câu đầu trong bài thơ dài này cho thấy cái tôi trữ tình của nhà thơ đang đối mặt với những thử thách ghê gớm: Cuốc kêu vì bẫy hiểm/ Bèo leo theo nước lên… Và rồi, những khúc thơ tiếp theo, cho thấy tâm hồn mơ mộng đến mức gần như không chịu nổi những khó khăn mới như bẫy hiểm, lại phải tìm về nương tựa vào những giá trị truyền thống của người Việt xửa xưa: Cuốc kêu từ ngày cây tre chưa đủ lá đan sàng/ Trên đất ướt có người đến ở… Đến mức, với phẩm chất giàu mơ mộng, phải vùi hồn nay vào nỗi buồn xưa: Cuốc kêu từ ngày em lạy mẹ lạy cha/ Đi theo một sợi tơ hồng…/ Tình yêu nhiều đứt nối… Bài thơ, xúc cảm thì nhiều khắc khoải, ngôn ngữ thì cố đưa cái tôi trữ tình lên, vúi vào cái đẹp như mơ mộng của chính nhà thơ. Và cuối cùng, chúng tôi càng thấy Valéry thật sâu sắc: mơ mộng là nhận thức! Quả vậy, sau tất cả mộng mơ, nhà thơ nhận biết một bài học cuộc sống:

Chúng ta bị cái chết gạt về một phía

Bị hư danh gạt về một phía

Phải vượt mấy trùng khơi mới gặp nụ cười…

Cũng như bao trí thức và văn nghệ sĩ chân chính, khi cuộc sống bước sang thời kỳ đổi mới, Hữu Thỉnh đã nhận thức thêm, đôi khi phải nhận thức lại những giá trị đời sống. Những bài thơ anh viết từ cuối những năm tám mươi thế kỷ XX cho đến năm đầu thế kỷ XXI, in trong tập Thương lượng với thời gian, phản ánh khá rõ điều đó. Ở đầu tập thơ này, bài Sang thế kỷ, hai câu mở đầu là một nhận thức thật sâu về đời sống hiện tại: Sang thế kỷ với con tàu quá rộng/ Hoa hồng sang, gai nhọn cũng sang. Một nhận thức nữa, về đạo lý, và cũng là về nhân tình thế thái: Một lời như thể lưỡi cưa/ Khi nghĩ lại bao thân cây đã đổ (bài Một lời). Và, Hữu Thỉnh càng tỏ rõ cái cá tính nhận thức bằng mơ mộng với tầm khái quát hiện đại:

Vừa trong mơ cùng tôi

Cây ra đường đã bụi

Vừa dào dạt cùng tôi

Biển đã thành sương khói

Một số nhà thơ giàu kinh nghiệm sáng tác và nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học đã viết về thơ Hữu Thỉnh. Trong số đó, nhiều tác giả đã đánh giá cao nghệ thuật tạo hình ảnh, sử dụng ngôn ngữ và tài cấu trúc bài thơ của Hữu Thỉnh, chúng tôi cũng thấy họ viết đúng.

Chúng tôi muốn nhìn nhận thơ của nhà thơ Hữu Thỉnh trong đời sống cụ thể của xã hội, của đất nước. Những năm cuối thế kỷ XX, cuộc sống mưu sinh của hầu hết mọi người trên mọi miền quê, và nhất là ở các đô thị, mở ra rất nhiều tầng, nhiều vẻ, nên cuộc sống tâm hồn con người cũng mở ra nhiều biến thái mới, nhiều chiều sâu mới. Trong một đời sáng tác, các nhà văn xuôi có thể mô tả rất nhiều nhân vật, qua cá tính và số phận các nhân vật ấy, phản ánh đời sống xã hội. Còn nhà thơ, hầu như cả đời viết, chỉ mô tả tâm hồn mình, những biến động trong tâm tư mình, để người đọc thấy được cuộc sống tinh thần của xã hội. Bởi thế, thi sĩ thường hay đau đớn, dằn vặt?! Nhà thơ vĩ đại Pablo Néruda thật chân thành khi viết: Tôi không thể khiến lòng mình lánh xa những nỗi đau thương… Có thể nói, đó là một thuộc tính của các thi sĩ. Và bởi vậy, dễ hiểu hơn khi ta thấy các nhà thơ viết về những buồn đau, ngay cả khi cuộc sống xã hội không nhiều đau thương mất mát và đói rét lắm, như trong chiến tranh. Bản chất của tâm tính nhà thơ là, luôn vươn tới một hạnh phúc trọn vẹn hơn. Nhà thơ Hữu Thỉnh đi trên đường đời những năm này, qua thơ anh chúng tôi nhận biết, đó là những bước đi với nhiều day dứt trong tâm can. Và, anh thực sự dấn thân bước tới cái đích là, nhận thức cho được về phẩm giá con người, về một hạnh phúc không tô vẽ, một hạnh phúc thật. Đó là tiến trình anh vươn tới thơ thực chất, nói đúng bản chất cuộc sống và có ích trong đời sống. Chẳng hạn, anh nhận ra một căn quả của cuộc đời nhà thơ Chính Hữu: Anh mang theo những tiếng chuông xưa/ Gõ trai tịnh dưới những vòm lá cổ (bài Gửi người bộ hành lặng lẽ). Chẳng hạn, anh thấy một vẻ đẹp cổ điển trong tình quê giữa tháng ngày cuộc đời trăm mối bề bộn: Gió nảy đàn tre cung tháng chạp/ Trăm câu không đỡ nổi câu tình/ Em mang thiên lý về thăm mẹ/ Sông vẫn ba đào trúc vẫn xinh (bài Cung tháng chạp). Và nữa, đây là vị thế rất cổ điển còn có trong nhà thơ thời nay: Giữa hai vùng tối sáng/ Thi nhân bước lên cầu/ Gió với bao đáng tiếc/ Sấp ngửa dạt về đâu (bài Thi nhân). Trong bài học, anh nói về chính cuộc sống nội tâm mình: Lọc hết bùn đi/ Còn chút gì sót lại/ Đấy là anh sau những vui buồn…

Có khi anh mô tả bản thân mình trong một tâm thế thật buồn; Chỉ còn một mình anh/ Với chiều ngoài cửa sổ, hơn cả buồn, là nỗi đau nhói, cái đau nhói của người trên cuộc hành trình tìm tới hạnh phúc trọn vẹn (bài Ước):

Mùa thu cũng bỏ trời

Đi về niềm tiếc nuối

Có con tàu mệt mỏi

Thét còi trong tim anh…

Tới chặng này của đường đời, đường thơ Hữu Thỉnh, đời sống thơ ca có nhiều nhà thơ trẻ, và cả nhà thơ không trẻ nữa, dấn vào cuộc săn tìm hình thức mới cho thơ (Mong sao sẽ có những thành công mới cho thơ ca Việt Nam). Còn Hữu Thỉnh, có vẻ như anh hướng tới cái đẹp cổ điển, và vẫn viết được những câu với tốc độ liên tưởng thật nhanh, như câu: Bắt gặp tình thương đi đưa đám hận thù (bài Buổi sáng thức dậy); như câu: Vú em mỗi ngày mỗi ngọc (bài Em), và như câu: Tôi ngồi nhặt sỏi đếm buồn/ Gió đi tìm khói chon von mấy đồi (bài Ngẫu cảm)… Thơ Hữu Thỉnh, ngoài phẩm chất độc đáo là mộng mơ để đạt tới những nhận thức cuộc sống, như chúng tôi có nói đến ở trên, còn những phẩm chất khác nữa. Đó là sự kiệm lời. Trường hợp bài Tạp cảm, chỉ với ba dòng thơ ngắn trong một khổ thơ mà ý tứ sâu và sức liên tưởng thật rộng: Chưa viết giấy đã cũ/ Chưa viết sông đã đầy/ Đám cưới đi qua có người đứng khóc. Ngay cả trong những bài thơ tình yêu, người ta hay viết dài để thổ lộ được nhiều, Hữu Thỉnh cũng kiệm lời: Chúng ta buồn cũng vì nhau/ Trời thấy vậy cho mùa xuân trở lại (bài Một lần). Hữu Thỉnh là nhà thơ viết nhiều thơ tình, và trong các bài thơ yêu đương lại chất chứa chuyện nhân tình thế thái: Biển vẫn cậy mình dài rộng thế/ Vắng cánh buồm một chút đã cô đơn (bài Thơ viết ở biển); và bài Hoa tặng: Bông hoa này tới em/ Sau bao người mặc cả/ Con đường này tới em/ Sau bao nhiêu lầm lỡ… có lúc, thơ tình Hữu Thỉnh, với lối tư duy hiện đại, mà thấm thía nỗi đau nhân thế cổ điển:

Trái đất chẳng rộng đâu

Ta hoang dại, dưới mặt trời

Lấy tình yêu làm mái nhà che chở

(Bài Trái đất chẳng rộng đâu)…

Có lẽ, từ nhiều năm nay, chúng tôi vẫn cho rằng, con đường của các nhà thơ chính là con đường tình yêu cuộc sống của nhà thơ đó: nên viết về Hữu Thỉnh và thơ anh, viết dọc đường đời, tự dưng những câu thơ của một nhà thơ Nga cứ len lỏi vào tư duy chúng tôi. Đó là những câu thơ của R. Rôgiơxvenxki: Từ tình yêu đến tình yêu/ Cuộc đời như đi trên đại lộ/ Nửa hành tinh - ngập trong máu đỏ/ Nửa hành tinh - ngập trong sương chiều… (bản dịch của Thái Bá Tân, như tôi nhớ). Chúng tôi cho rằng, hành trình cuộc sống và hành trình thơ của một thi sĩ, là một cuộc đi trên con đường lớn lao vô cùng, con đường tình yêu cuộc sống, nó lớn hơn bản thân nhà thơ rất nhiều lần. Nó là đất nước, là sự tiến triển của tâm hồn dân tộc… Kể từ 1971, có cuộc gặp gỡ của Hữu Thỉnh và chúng tôi trong một buổi đêm chiến tranh ở thị xã Thanh Hoá, đến nay, đã hơn một phần ba thế kỷ trôi qua. Đã đặm dài thời gian, dặm dài đường đất. Chúng tôi biết, đường đời Hữu Thỉnh cũng còn là đường thơ của anh, là cuộc hành trình dằng dặc, trải biết mấy đau thương, và cũng thật nhiều mộng ước… Sau chiến tranh, chúng tôi và Hữu Thỉnh đều sống ở Hà Nội, có điều kiện gặp nhau nhiều hơn, hiểu nhau nhiều hơn. Đến nay, chúng tôi có thể nói: Hữu Thỉnh bắt đầu sự nghiệp thơ ca của mình đâu có bằng tài hoa; đâu có được chuẩn bị đầy đủ về học thức. Sau chiến tranh, nhà thơ Hữu Thỉnh ngoài việc được về học Đại học Văn hoá, nhưng quan trọng hơn, anh còn đọc rất nhiều, và đó là cách học của anh suốt mấy chục năm trời. Những gì anh có được, đều do bản thân anh thu hái được trên đường đời. Thơ là người, là số phận đấy chứ. Máu lửa, hy sinh, mồ hôi, nước mắt, may sao có cả những nụ cười… và, cùng với mộng ước tốt tươi về một cuộc sống đẹp đẽ vốn có trong tâm tính anh, tất cả, đã làm nên những giá trị thơ anh…

Hữu Thỉnh vẫn tiếp tục cuộc đi trên con đường của số phận mình. Và chắc anh sẽ còn nhiều thơ nữa, khi đã có một bản lĩnh sống, một bản lĩnh sáng tạo. Chỉ cần trái tim đêm đêm còn thổn thức, và nó còn đòi hỏi nhà thơ ngồi vào bàn viết. Đôi khi, chỉ một câu thôi cũng chất chứa giá trị nhân bản, như Hữu Thỉnh đã từng viết được: Sống một ngày lội qua cả kiếp người!

 

Nhà thơ Hữu Thỉnh sinh ngày 15 tháng 2 năm 1942 tại làng Phú Vinh, xã Duy Phiên, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc. Hiện thường trú tại Hà Nội.

Tốt nghiệp phổ thông, vào bộ đội Tăng - Thiết giáp (1963). Nhiều năm tham gia chiến đấu tại các chiến trường miền Nam. Sau 1975; học đại học Văn hoá (trường Viết văn Nguyễn Du khoá 1). Từ 1981 cán bộ biên tập, Trưởng ban Thơ; Phó Tổng biên tập tạp chí Văn nghệ Quân Đội. Từ 1990; Tổng biên tập Tuần báo Văn nghệ. Ủy viên Ban Chấp hành Hội nhà văn các khoá 3, 4, 5, 6, 7. Đại biểu Quốc hội khoá 10, khoá 11, hiện nay là bí thư Đảng Đoàn, Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam, Phó chủ tịch Hội đồng Lý luận, Phê bình Văn học Nghệ thuật Trung ương, Phó chủ tịch Uỷ ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, Giám đốc Trung tâm Bồi dưỡng Viết văn Nguyễn Du.

Tác phẩm chính đã xuất bản: Âm vang chiến hào (thơ, in chung, 1976); Đường tới thành phố (trường ca, 1979); Từ chiến hào tới thành phố (thơ ngắn, trường ca, 1985); Khi bé Hoa ra đời (thơ thiếu nhi, in chung, 1985) Thư mùa Đông (thơ, 1994); Trường ca biển (trường ca, 1994); Thơ Hữu Thỉnh (thơ tuyển, 1998); Sức bền của đất (trường ca, 2004); Thương lượng với thời gian (thơ 2005)…

Giải thưởng văn học: Giải A cuộc thi thơ báo Văn nghệ 1975 - 1976. Giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam 1980, 1985. Giải thưởng Văn học ASEAN, 1999. Giải xuất sắc Bộ Quốc phòng năm 1994. Giải thưởng Nhà nước về văn học Nghệ thuật đợt 1, 2001.

Suy nghĩ về thơ:

               “Tôi rất tin: thơ là kinh nghiệm sống” - Hữu Thỉnh

 

(Văn nghệ)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác