Thơ Mai Ngọc Thanh và những câu chuyện đời

Mạnh Lê

(Toquoc)- Tập Thơ Mai Ngọc Thanh(*) do nhà thơ Anh Chi tuyển chọn xuất bản cuối năm 2006 bao gồm 120 bài thơ. Đây là những bài thơ được sáng tác trong khoảng thời gian bốn mươi năm (từ 1966-2006).

Thơ Mai Ngọc Thanh và những câu chuyện đời - ảnh 1

Nhà thơ Mai Ngọc Thanh (ngoài cùng phía phải) cùng bạn

 

Nhà thơ Mai Ngọc Thanh thuộc thế hệ các nhà thơ xuất hiện vào những năm đầu cuộc chiến tranh chống Mỹ. Sống ở vùng quê Bắc miền Trung, đằng đẵng mười năm chiến tranh phá hoại, hai mươi năm là hậu phương lớn của tiền tuyến, thơ Mai Ngọc Thanh như một thế cây “bám chặt vào bền sâu của đất” để ung dung tự tại. Ký ức cuộc sống lịch sử về một vùng quê hiện lên khá rõ nét. Mai Ngọc Thanh đã tái tạo lại hình ảnh cốt lõi của cuộc sống bằng cái nhìn tinh tế, cảm thông và giàu lòng nhân ái. Giọng điệu trữ tình quyện chặt lấy nội dung tự sự được biểu hiện bằng cách kể (cũng là cách lập tứ) đã làm cho phương thức tự sự lấn át phương thức trữ tình. Thơ Mai Ngọc Thanh không ám ảnh bạn đọc bằng những âm điệu lên bổng, xuống trầm, réo rắt, du dương, bằng những hình ảnh thơ hoành tráng, chói lọi, bằng những gam màu lấp lánh… Thơ ông trầm lắng, đọng lại trong lòng bạn đọc bằng những câu chuyện, những tứ thơ ăm ắp nỗi niềm tâm sự. Đó là những câu chuyện về thế giới tự nhiên, chuyện người, chuyện lịch sử, chuyện nhân tình thế thái…

1. Chuyện thế giới tự nhiên

Bài thơ Bài ca Bạch đàn tác giả viết ở Nhơm (một vùng đói), năm 1971. Đó là khoảng thời gian miền Trung vừa qua những cuộc đánh bom huỷ diệt khốc liệt của giặc Mỹ. Bài thơ này không phải mượn cây nói người mà trực tiếp nói về cây. Bạch đàn là loại cây có sức sống mãnh liệt:

Ta đi với bạch đàn

Bạch đàn trẻ thế

Ta đi với chiều cao rất khoẻ

Bám chặt vào bền sâu của đất

Bạch đàn lên ung dung

Thân ngời trắng đúc bằng ánh sáng

Của trời ta biếc trong

Kể kết hợp với tả khá nhuyễn làm cho các hình ảnh thơ hiện lên rõ nét mà cụ thể, tự nhiên. Những hình ảnh thơ rộng lớn, to tát: đất, trời, ánh sáng… để tạo phông cho sự xuất hiện kỳ vĩ của Bạch đàn: Thân ngời trắng đúc bằng ánh sáng. Tác giả tiếp tục kể: Biết đánh rụng những cành vướng trái/ để dồn cho sức lớn chiều cao…

Bài thơ Bài ca Bạch đàn ngợi ca sức sống mãnh liệt của một loài cây. Sức sống đó có được là nhờ ở giống, nhờ bám sâu vào lòng đất, nhờ nghị lực vươn lên cho vóc dáng chiều cao… Câu chuyện Bạch đàn cũng là câu chuyện đời bởi vóc dáng chiều cao của Bạch đàn cũng là “Vóc dáng cuộc đời ta đấy” (Bài ca Bạch đàn, trang 55)

Bài thơ Con Khướu ấy tác giả viết năm 2005. Bài thơ có tám câu kể chuyện con Khướu quên bầu trời và cây xanh, quên có đôi cánh thần tình, quên cả bay đi khi người chủ không đóng cửa lồng vì nó chỉ quen hót ở trong lồng. Thật quá đầy đủ khi tác giả khẳng định “Con Khướu ấy không phải là chim nữa” (Con Khướu ấy, trang 196). Tứ thơ nằm ở ngay lời bình của tác giả. Bài thơ có 10 câu, tác giả dành hai câu điệp: Con Khướu ấy không phải là chim nữa!. Đó là nỗi đau của chính tác giả về một con chim đã đánh mất mình do môi trường, hoàn cảnh tạo nên. Cái ý liên tưởng từ chuyện chim đến chuyện người, tác giả dành cho bạn đọc…

Trong tập tuyển còn nhiều bài thơ viết về thế giới tự nhiên: Dã tràng, Ve sầu, Hòn Trống Mái, Tiếng chim, Trước những đồi thông, Hỏi bướm và hỏi ong, Cây me vườn xưa, Cây, Con mèo như tôi thấy… ẩn chứa trong mỗi bài thơ là sự trăn trở, dằn vặt, lo âu, là khát khao về một cuộc sống ngày càng hoàn thiện và tốt đẹp.

2. Chuyện lịch sử

Bài thơ Trong đền thờ Vua Đinh, tác giả viết tháng tư năm 1994. Nhà thơ kể câu chuyện nhân dân không đặt tượng Dương Vân Nga cùng ngồi với Đinh Tiên Hoàng. Một mình Đinh Tiên Hoàng ngồi với ba con trai. Bài thơ có 11 câu thì có tới sau câu là lời bình của tác giả:

Nhân dân ta hoàn toàn có lý

Bốn người là đàn ông tất cả

Nhìn phía nào cũng thấy trống trênh

Con mồ côi cha thì goá bụa

Chỉ thiếu một người thì thiếu hẳn một nửa

Cả bốn linh hồn ngồi giữa cô đơn

(Trong đền thờ vua Đinh, trang 123)

Thơ mang đến cho người đọc cái nhìn, cái cảm về cuộc sống. Đã nhiều người đến thắp hương đền thờ vua Đinh, mấy ai nhìn thấy nỗi cô đơn của một gia đình khi vắng bóng người phụ nữ (chỉ một người mà thiếu hẳn một nửa), nhất là người phụ nữ ấy lại là vợ, là mẹ. Bi kịch của lịch sử đã thành bi kịch cho một gia đình, bi kịch của tình người, của tâm hồn.

Cũng là cách nhìn, cách đánh giá lịch sử, ở bài thơ Thăm miếu Nhạc Phi, tác giả viết khi cùng đoàn nhà văn Việt Nam thăm Trung Quốc (9-2003). Vẫn là cách dẫn chuyện bằng bình luận lịch sử. Chuyện kể rằng: Những ngày còn sống, Tần Cối là tể tướng, tướng quân Nhạc Phi là thuộc hạ. Sau một trận đại thắng quân Kim, Nhạc Phi toan vượt sông Hoàng Hà đuổi giặc thì Tần Cối thông mưu với giặc bắt ông rút quân về và giết ông trong ngục. Chính vì lẽ đó mà giờ đây: Nhạc Phi ngồi trên bàn thờ cao ngất/ Còn Tần Cối thì quỳ lom khom dưới đất, chầu lên… (Thăm miếu Nhạc Phi, trang 189). Bi kịch lịch sử là lòng yêu nước đã thua mưu bán nước, và chính nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử và là người xếp đặt lịch sử. Mãi mãi Tần Cối chịu mang nỗi nhục của kẻ bán nước cầu vinh.

Những câu chuyện về Di Hoà Viên, Vạn lý Trường Thành, Bài thơ tình của Tô Đông Pha, Thăm Trường thi đời Thanh nhớ Bồ Tùng Linh, Tây thi… đều là những câu chuyện có thực của lịch sử được nhà thơ kể lại bằng cách nhìn nhận, bằng quan điểm thẩm mỹ của thời nay. Nỗi đau của những bi kịch lịch sử được khám phá và trở thành những câu chuyện mang khát vọng vươn tới chân, thiện mỹ…

3. Chuyện người

Chuyện người với những con người, những hình ảnh cụ thể của đời sống được tác giả khắc hoạ qua cách tự sự hoà quện hơi thở trữ tình qua nhân vật trữ tình, cái tôi trữ tình trực tiếp tạo nên hệ thống hình tượng khá riêng biệt, độc đáo.

Từ cảm hứng ngợi ca vẻ đẹp anh hùng của con người thời chống Mỹ, những nghĩ suy về con người thời bao cấp đến những cảm thông sâu sắc với những bi kịch con người trước sự đổi thay của nền kinh tế thị trường… thơ Mai Ngọc Thanh đã đi từ cái “Ta” chung đến cái “Tôi” riêng. Là nhà thơ gắn bó với đời sống, thơ ông cứ mở rộng dần từ đề tài, chủ đề, cách cảm nghĩ theo bước đi của ông qua năm tháng. Sinh ra và lớn lên ở một vùng quê biển, thơ ông dành nhiều trang ngợi ca người và đất vùng biển: Cung đường bom, Hải An, Khúc ca, Gặp lại xã đội phó cũ vùng biển, Người đánh cá ấy, Bạn tôi, Mùa đông ấy đến mùa thu nay, Giữa hai mùa gió, Đứng ở đây, Ngoài khơi ấy… Từ đó, ông mở rộng không gian đời sống, thơ gắn liền với những thay sự việc đổi thay, với những sự kiện lịch sử: Những ngày giặc Mỹ đánh đê, Trên bãi bom B52, Hàm Rồng đêm pháo hoa, Bàn chân anh giải phóng, Đà Nẵng, Sơn Trà cờ bay, Suối Sim, Núi Pha Hum và dòng mương Tén Tần, Cánh đồng mang tên anh, Tiếng mìn Ao lốc… Song, đọng lại trong lòng bạn đọc vẫn là những bài thơ tác giả viết về cuộc sống đời thường của những con người bình thường. Đó là những con người “Như có như không… như kỷ niệm một thời”.

a. Bài thơ Chúa Hài Đồng

Bài thơ Chúa Hài Đồng là một câu chuyện cảm động về một nữ thanh niên xung phong đã cống hiến tuổi thanh xuân của mình ở ngã ba bom Đồng Lộc. Mãi đến tuổi bốn mươi, chị mới được mang thai. Song, cái hạnh phúc ngỡ như đương nhiên phải đến với chị ấy lại làm cho chị phải dằn vặt, khổ đau tới mức chị đã nghĩ tới cái chết:

Chín tháng mười ngày giấu mình trong khói bếp cây vườn

Việc phải đi thì đi khuya đi vòng đi tắt

Vậy mà gió cũng ác

Cứ lật tà áo cô lên

Vuốt nhọn thêm những lời cay độc

Từng có lúc thìa thuốc sâu chập chờn trong óc buốt

Nếu không vượt qua được những phút yếu lòng…

Chỉ bảy câu thơ, tác giả đã gói gọn bi kịch đớn đau của một người phụ nữ mang thai mà phải sống như người mang tội. Lối kể chuyện bằng hình ảnh như một đoạn phim đặc tả. Tác giả không bình luận nhưng tính cách người phụ nữ vẫn hiện lên rõ nét. Chủ đề của bài thơ không chỉ là tiếng nói cảm thông về nỗi đau của người phụ nữ mà là tiếng reo vui trước sự ra đời của Thằng Bé Đẹp như Chúa Hài Đồng.

Mọi trả giá nặng nề mẹ đã trả

Bú no rồi chân đạp tung như múa

Và cái chim phóng một cầu vồng.

(Chúa Hài Đồng, trang 95)

Kể và tả là thế mạnh trong bút pháp thể hiện của thơ Mai Ngọc Thanh. Bài thơ này, kể bằng hình ảnh tức tả nhiều hơn kể, nên hình ảnh người mẹ và đứa con đã mang vẻ đẹp gợi cảm, xúc động…

b. Trường ca Sơn Tỉ

Tác giả chú dẫn: “Sơn Tỉ, tên một người độc thân, lang thang làm nghề gánh thuê mà người ở thị xã Thanh Hoá những năm 1955-1987 ai cũng biết, tôi nghĩ cuộc đời con người này đáng là một Trường ca” (Trường ca Sơn Tỉ, trang 130).

Sơn Tỉ là nhân vật có thật ở Thanh Hoá. Sau khi Sơn Tỉ mất, một số nhà văn đã viết một số truyện ngắn về cuộc đời con người này. Bài thơ này tác giả viết xong vào ngày 01.9.1987. Đó là năm đất nước bắt đầu sự nghiệp đổi mới, đời sống kinh tế xã hội vô cùng khó khăn. Quan hệ tình cảm của con người đang bị mai một trước sự cạnh tranh của nền kinh tế thị trường. Mở đầu bài thơ, tác giả giới thiệu:

- Lại Sơn Tỉ

Bọn trẻ ùa theo đông như ruồi

Cứ reo gọi và cười như nắc nẻ

- Ê Sơn Tỉ! Ê thằng Sơn Tỉ

Người lớn trong nhà nhìn ra

Con mắt lạnh lùng khinh thị

Ai lạ chi cái thằng Sơn Tỉ

Một con người vừa có lại vừa không

Một con người tuổi khoảng năm mươi mà con nít cũng gọi bằng thằng, một con người “vừa cười đó bỗng dưng bật khóc”, cả ngày đi gánh thuê nhặt những đồng bạc lẻ, vậy mà năm 1960 nhặt được cả ngàn đồng lại đem nộp công an… Song, ấn tượng nhất vẫn là tính sòng phẳng cực đoan của Sơn Tỉ:

Ai cần thuê, giá hai bên đã thoả thuận

Chạy gần hết đường rồi lại đòi bớt tiền công

Là Sơn Tỉ đùng đùng nổi giận

Thả hàng ngay không thèm lấy một đồng

Rồi chuyện Sơn Tỉ cứ dăm ba ngày lại mang những đồng bạc lẻ gửi ngân hàng. Sơn Tỉ không có nhà, không hộ khẩu, chứng minh thư… Cứ mỗi đoạn thơ kể tính cách Sơn Tỉ, tác giả lại điệp câu bình luận của người đời: “Nên người ta càng bảo thằng hâm”. Bằng lối kết cấu điệp khúc như vậy, hình ảnh nhân vật được khắc hoạ rõ nét từ hình vóc bên ngoài đến nội tâm, hành động… Sau khi bản trường ca này được giới thiệu, đã có nhiều ý kiến cho rằng nhân vật Sơn Tỉ không phải là nhân vật của trường ca. Tôi cho rằng, những tác phẩm trường ca hiện đại, điều quan tâm không phải là tác giả viết cái gì mà là tác giả viết như thế nào. Nói một cách khác, trường ca hiện đại không chú ý nhiều đến việc miêu tả hiện thực mà tác giả cần thể hiện cho được cái tinh thần của xã hội ấy. Cái tinh thần xã hội của trường ca Sơn Tỉ là thái độ quan tâm của xã hội tới quá trình tự hoàn thiện mình của một con người. Tác giả đã nhìn ra thái độ vô cảm của con người với con người trước sự tha hoá của đời sống. Trong trường ca Sơn Tỉ, cái được người đời quan tâm chính là cái phần chưa hoàn thiện của con người Sơn Tỉ. Cái tinh thần ẩn dụ sâu sắc chính là nỗi đau của chúng ta trước sự cười cợt của người đời về cái phần chưa hoàn thiện của Sơn Tỉ, cái cách sống đơn giản, trần, mộc, hiền lành chất phác, cái tính sòng phẳng cực đoan, cái bản thể “tự nhiên nhi nhiên” của con người Sơn Tỉ. Tinh thần ấy được tác giả thể hiện rõ khi kết thúc bản trường ca:

Bọn trẻ lớn lên ngơ ngẩn nhớ một người

Nhớ cả cái phần người không hoàn thiện

Đâu chỉ có những tên tuổi lớn

Để lại trong ta khoảng trống lúc không còn

Tôi cảm thấy từ hôm Sơn Tỉ vắng

Thị xã mình bảng lảng… buồn hơn

(Trường ca Sơn Tỉ, trang 133)

Đọc tập tuyển thơ Mai Ngọc Thanh, nhiều bài thơ có thể rồi người ta sẽ quên, nhưng câu chuyện Sơn Tỉ thì người ta mãi nhớ, cái mà người ta nhớ nhất là thái độ trân trọng của nhà thơ trước cái phần ngỡ như chưa hoàn thiện của con người.

4. Chuyện nhân tình, thế thái

Bài thơ Chuyện kể của Nhà văn già là bài thơ ngẫm ngợi về chuyện làm người. Chuyện kể rằng, nhà văn Nguyễn Tuân nhận lời một chủ tịch huyện đi nói chuyện văn, con đường đưa nhà văn đi nhiều ổ gà, nhà văn phải chịu những cú xóc tung người, vậy mà ông chủ tịch ngồi ghế trước nhà văn đã quên béng vị khách ông mời, vị khách hơn chủ tịch huyện mười lăm tuổi và nhà văn tả:

Ông ngồi

Cái thói quen bền chắc

Bất cứ chỗ nào cũng cái ghế dành riêng

Cả trong xe hôm nay nhảy cóc trên đường xóc

Thì cái ghế ấy không thể nhường cho người khác

Bài thơ là một lời tâm sự về thói quen giữ ghế của các bậc quan chức thời nay. Nỗi niềm càng tê tái khi tác giả khép lại câu chuyện:

Chuyện này bác Nguyễn Tuân đã kể

Chưa thấy viết trong bài ký nào, bác đã ra đi

(Chuyện kể của Nhà văn già, trang 125)

Ngoài những câu chuyện lịch sử, càng về sau ông càng viết được nhiều bài thơ suy ngẫm về nhân tình, thế thái: Không đề, Trên chót đỉnh, Người đàn bà đạp xích lô, Liên tưởng, Tôi chỉ nghĩ thầm, Xem đua ngựa…

Phải luôn có ý thức và tình cảm quan tâm đến con người nên những câu chuyện thường ngày mắt thấy, tai nghe đã trở thành những câu chuyện ẩn chứa nhiều tâm sự, nhiều suy ngẫm trong thơ Mai Ngọc Thanh.


Nói đến những câu chuyện đời trong thơ Mai Ngọc Thanh là nói đến thi pháp. Sự kết hợp hài hoà bút pháp trữ tình và bút pháp tự sự là đặc trưng của thi pháp thơ nói chung song tính vượt trội của phương thức trữ tình hoặc phương thức tự sự là nét độc đáo riêng của từng tác giả. Thơ Mai Ngọc Thanh đã vượt trội về phương thức tự sự. Có người nói: Văn xuôi là gạo, thơ là rượu. Tôi nói, thơ Mai Ngọc Thanh là loại gạo thơm, ngon, còn muốn có rượu, bạn đọc phải tự mình chưng cất lấy…

Đầu hè 2007

----------------

(*) NXB Hội Nhà văn, 2006

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác