Thơ Lê Văn Vọng khởi nguồn từ những điều bình dị (*)

(Toquoc)- Đọc thơ Lê Văn Vọng là đọc những tình cảm của anh với những người lính một thời trận mạc. Những vui, buồn, những gian nan, khổ ải, những mất mát, hy sinh của những người lính xưa… chất chất, chồng chồng trong thơ anh…

Thơ Lê Văn Vọng khởi nguồn từ những điều bình dị (*) - ảnh 1
Nhà thơ Lê Văn Vọng
Tôi đã đọc thơ Lê Văn Vọng. Không dám nói là nhiều, nhưng vì là bạn quen nên gặp thơ anh ở đâu là đọc. Thế mà, hôm nay có được nguyên một tập thơ, có cái tên dìu dịu: Những hạt mưa xuân. Tôi có cảm nhận một cách máy móc là: đọc thơ Lê Văn Vọng là đọc những tình cảm của anh với những người lính một thời trận mạc. Những vui, buồn, những gian nan, khổ ải, những mất mát, hy sinh của những người lính xưa… chất chất, chồng chồng trong thơ Lê Văn Vọng. Có lần anh bảo tôi: nó thấm vào máu rồi, cứ viết là nó ra thôi. Anh nói thực lòng vì một thời anh từng là chiến sĩ quân giải phóng ở miền Đông Nam bộ. Tôi mang cảm nhận máy móc ấy để đọc Những hạt mưa xuân của anh. Thật bất ngờ, chỉ có ba bài đầu tập còn giống như tôi nghĩ, đến bài thư tư trở đi, mọi các thật khác, rất khác với Lê Văn Vọng mà tôi biết. Bên trong những con chữ giản dị, uẩn tàng trong những câu thơ không máy móc cầu kỳ, chất chứa trong từng dòng, từng trang là cả một cuộc trải nghiệm của một đời thơ để chiêm nghiệm từng cái mà anh gặp, anh thấy. Ở đây có thân phận con người, mà có thân phận của tất cả những gì mà Lê Văn Vọng thấy, gặp và nhìn thấu đến tận hồn sống để mà thành thơ của riêng anh.

Nhà thơ thường có những chuyến dịch chuyển để tìm nguồn cảm hứng. Nét mới của từng vùng đất nơi nhà thơ đến sẽ tạo ra những bài thơ mang những nét riêng biệt. Nhưng với Lê Văn Vọng, đã từng làm những cuộc dịch chuyển gần như hết một thời trai trẻ. Đó là cuộc dịch chuyển trong bom đạn chiến tranh, để bây giờ, anh có thể ngưng lại nhìn mình thấu tỏ hơn. Nếu có dịch chuyển thì cũng là những cuộc tìm về chốn xưa nơi một thời đồng đội mình đã hy sinh. Ở đó anh có thể nói với bạn bè xưa của mình: “tôi đến đây để đừng bao giờ quên mùa hè 1972 đỏ lửa thành cổ/ những binh đòan ra đi không trở về/ những chàng trai mang tuổi xuân nhóm lửa/ máu xương hòa trộn đất bùn/ Tôi đến đây đừng để bao giờ làm kẻ vong ân và người hèn nhát” (Tôi đến). Có thể coi đây là một lời thề nhưng cũng có thể coi đây là nén nhang thắp trước những linh hồn liệt sĩ Quảng Trị. Khi đi tìm những thân phận người lính năm xưa, có lúc anh thảng thốt kêu lên khi đến trại tù binh Phú Quốc, mà ở đó có những người đã nằm xuống mà đến nay vẫn chưa tìm được: “Chỉ thấy hoang sơ, cỏ mọc/ các anh đâu rồi? các anh nằm đâu/ Sao mãi lặng im?” (Các anh đâu rồi). Tôi biết Lê Văn Vọng còn rất ham những chuyến đi. Nhưng hướng đi của anh rất rõ: tìm về với nơi ngày xưa mình từng là người lính cầm khẩu súng và sau này là chiếc máy quay phim. Tôi biết vậy, vì cách đây vài năm anh đã đến Tây Ninh và bảo tôi đưa anh về thăm lại nhưng vùng đất như Xa Mát, Thiện Ngôn, Đồng Pan… nơi thời chiến tranh anh đã tới. Anh tần ngần đứng giữa rừng Tràng Riệc để tìm lại trong ký ức mình những ngày xưa. Rồi hôm ở Hà Nội, anh bạn quay phim truyền hình Tây Ninh Nguyễn Thanh Nhàn và nhà thơ Lê Văn Vọng đã ngồi đối diện nhau, bỗng như cùng một lúc cả hai bỗng à lên một tiếng. Họ đã nhận ra nhau với một thời học lớp quay phim trên căn cứ R, hồi đánh Mỹ. Rồi hai người gần như quên tất cả bạn bè cùng mâm nhậu, lần tìm tên những người bạn thời chiến tranh, ai còn, ai mất, ai đã nghỉ hưu, ai còn tiếp tục công việc… Câu chuyện cuốn ào ào, mắt Lê Văn Vọng cứ ánh lên một ao ước: muốn về nơi ngày xưa mình đã đến, đã chiến đấu. Để viết! Anh đã nói điều đó với tôi ngay sau đó.

Sau những ghi nhận về các cuộc dịch chuyển, Lê Văn Vọng đã cho ta thấy ở anh một sức viết mạnh mẽ và những trải nghiệm về những gì xung quanh anh. Bắt đầu từ những cái giản dị nhất, bình thường nhất. Nhưng chính từ những giản dị, bình thường đó mà Lê Văn Vọng nói lên tiếng nói riêng của mình. Ngọn cỏ chẳng hạn, ta thấy nó hằng ngày. Và cũng không thiếu những thi sĩ đã mượn cỏ để nói lên thân phận nhỏ bé của mình, của người. Lê Văn Vọng cũng nói về cỏ, cái thứ nhỏ không thể nhỏ nữa, thấp không thể thấp hơn, không ai gieo trồng, không ai chăm chút vậy mà cứ đội đất mà lên. Không ai bảo cỏ là quý, không ai nói rằng không có thì không có sự sống. Nhưng trái đất này mà không có cỏ thì sẽ ra sao? Bình dị như những chiếc lá, những chiếc là làm nên bát ngát rừng xanh, nhưng rồi cũng đến khi là rụng và xong một đời lá, nhưng ai nhìn chiếc lá như Lê Văn Vọng: một chiếc lá vàng rơi/ nghìn chiếc lá vàng rơi/ hóa thân vào đất/ để cuộc đời lại có những mầm cây (Cỏ 2). Một lẽ giản dị mà lạc quan đến vậy. Sẽ gặp trong Những hạt mưa xuân của Lê Văn Vọng rất nhiều, rất nhiều bài giản dị như ngọn cỏ, lá cây. Người bán hoa bình dị thôi nhưng với Lê Văn Vọng lại là người mang mùa xuân khắp phố phường Hà Nội. Cây hoa sữa có xa lạ gì với người Hà Nội, Lê Văn Vọng có cây hoa sữa của riêng mình, cây hoa sữa ấy cả đời tồn tại, đứng vững ở ven đường làm chứng nhân của bao sự đổi thay của xã hội với những thăng, những trầm của lịch sử và cứ tỏa hương quyến rũ: mặc người qua kẻ lại chẳng ngó ngàng. Rồi những bông bằng lăng, những lá lộc vừng, những bông hoa đào… chẳng xa lạ với ai, nhưng khi đã vào thơ Lê Văn Vọng, thì bỗng nhiên cựa quậy, bỗng nhiên có tiếng nói, có tâm hồn. Như thế vẫn chưa có gì lạ, cái lạ nằm ở chỗ khác, đó là tiếng nói riêng của Lê Văn Vọng trước những sự tồn tại bình thường: Rực rỡ một lần thôi/ rồi hóa thân vào đất/ những cánh hóa trinh bạch/ đem theo cả nỗi niềm (Hoa bằng lăng). Những chiếc lá che vòm trời ban công/ truyền sức sống cho gốc cành cổ thụ (Những chiếc lá lộc vừng).

Ngay cả khi viết về những người thân yêu nhất của mình, Lê Văn Vọng cũng bắt đầu từ những gì giản dị nhất. Nhưng chính từ sự giản dị ấy mà ta thấy được tình yêu rất mãnh liệt của nhà thơ. Hai mươi năm mẹ đi xa, nhà thơ nhớ đến cái lưng còng, tiếng ho trong đêm, tiếng gậy chống trên nền nhà để giữ bước chân mẹ đi thêm vững. Nhưng thật nao lòng khi bỗng nhớ: … tiếng thổi lửa mỏng như gió thoảng/ nấu cho con bát cơm độn đầy khoai sắn khi con về (Mẹ ơi). Hai mươi năm không có mẹ, cây vỏ góc vườn cũng không còn vì không còn ai ăn trầu. Nhà thơ thốt lên: đến khi hiểu đời mình sống không thể thiếu mẹ/ thì xót xa mẹ đã đi rồi (Mẹ ơi). Nghe mới tủi thân và ngậm ngùi làm sao?

Cũng giản dị như thế khi anh bắt đầu bài thơ Bố tôi: Bố tôi, một người thợ cầy thuê/ lấy mẹ tôi là người cấy mướn. Có khác bài thơ này được viết ra như lời kể chuyện, cách kể thật mộc mạc và chân tình. Theo đó thì người cha thật làm lũ: Từ gió rét căm căm, đến nắng hè chói chang vẫn cắm cúi ngoài đồng. Người không có tuổi thơ, không có cả thời trai trẻ,vì những ngày ấy chỉ quen thuộc với: nhổ mạ, gánh phân, cày bừa đập đất, giống như con kiến cần cù xây tổ vậy. Và cái tổ ấm mà ông xây đã thành một gia tài rất lớn, một con, một của. Của thì chỉ có một gian nhà, nhưng con thì năm đứa đứa nào cũng qua đại học. Gia tài này mới thực lớn lao, mới thực ấm lòng người cha một thời cần cù tần tảo. Nhưng cũng thật xót xa ngày hết giặc trở về thì bố không còn nữa: Người sĩ quan vào sinh ra tử/ như bơ vơ, yếu đuối vô hồn (Bố tôi). Giờ phút ấy người con lại nhớ đến lời cha dặn khi nhập ngũ và chính từ lời dặn ấy đã giúp con vượt qua bom đạn, trở thành người chiến thắng hôm nay. Vì thế khi viếng mộ: Tôi đứng lặng mà lòng nức nở/ câu nói của người ngày nào tôi vẫn nhớ (Bố tôi). Phải rồi, vì nhớ lời dặn của bố mới nên người.

Càng đọc càng thấy chủ đích của tác giả khi làm thơ: Không cầu kỳ hoa mỹ khi dùng chữ. Không rối rắm phức tạp khi hành câu. Mọi điều viết ra giống như viết từ máu thịt vốn dĩ có sẵn trong con người nhà thơ vậy. Phải có biết bao nhiêu năm gắn bó với nghiệp thơ, nên mới bắt đầu từ sự giản dị mà nói được cõi lòng. Khi viết về quê hương mình: “có ai về Hải Châu cùng tôi/ quê nhà tình sâu nghĩa nặng/ sáu núm nhau của sáu anh em tôi đều chôn ở đó/ ở đó bố mẹ tôi vể cõi vĩnh hằng” (Hải Châu). Đọc những dòng này mà thấy rưng rưng. Rồi đây, kỷ niệm của một đời người, của một cặp tình nhân, ngày cưới: “Ngày cưới mọi điều đều giản dị/ anh nghiêm trang bộ đồ cấp úy/ em không áo cưới phấn son/ cứ bình dân như buổi đi làm” (Ngày ta cưới). Lúc đất nước khó khăn đã có bao cặp vợ chồng cưới nhau như thế, vậy mà bây giờ: “mỗi ngày đem theo bao kỷ niệm/ khi ta nói lời đầu bạc răng long” (Ngày ta cưới). Hạnh phúc chỉ đến thế là cùng, mong ước gì hơn.

Lê Văn Vọng bắt đầu từ giản dị để cho tìm đến cả những triết lý không phải ai cũng nhận ra. Tôi nhận ra điều này khi đọc bài thơ Đếm của anh. Người bán hàng thì đếm từng đồng tiền mà luận ra bao nhiêu vất vả gian nan của con người. Người mẹ thì đếm những bước chân con để thấy: từ giọt máu trở thành niềm hạnh phúc. Còn người tử tù thì lặng lẽ đếm từng ngày còn được tồn tại ở nhân gian để thấy: sự hối hận đêm ngày vón cục/ đè nặng cuộc đời tàn. Rồi thời mới bây giờ có biết bao kẻ mang cái danh Sở Khanh thì đếm những người đàn bà bị y chinh phục mà không biết đến lúc nào y nhận ra sự tha hóa gặm nhấm mất nhân cách của con người. Thật thương cho người quản trang, ngày nào cũng bước thấp bước cao trong nghĩa trang liệt sĩ, ngày nào cũng đếm từng ngôi mộ, những mong hiều hết những đồng đội mình đã nằm xuống mà không sao đếm hết: “anh muốn đếm mà không thể nào đếm nổi/ sau mỗi bước chân là nước mắt đầm đìa/ và cứ thế từng ngày/ từng ngày/ anh thấy như mình có lỗi”. Khi muốn thề hiện cái tôi, thì tác giả: tôi đếm thời gian trên từng sợi tóc rối. Đếm sợi tóc thôi mà thấy gian lao, dại khờ, thấy buồn, vui, thấy bất hạnh và vinh quang, thấy bạn bè mất còn, ghét, thương, thủy chung và phản trắc. Giữa những thứ thấy được, đếm được ấy để rồi mới lọc ra được mình Tôi. Chỉ bằng những lời dung dị, Lê Văn Vọng đã cho ta thấy khá rõ chân dung từng lọai người trong xã hội, cũng đồng thời thấy được tâm trạng và thân phận của người thơ giữa cõi người này.

Hôm đi cùng tôi lên thăm di tích Căn cứ Trung ương cục miền Nam ở Tân Biên (Tây Ninh), Lê Văn Vọng tâm sự với tôi: Năm 1976, sau giải phóng miền Nam, mình có bài thơ Chiếc áo màu xanh, đến năm 1979, mình có thêm bài Chiều sân ga. Đây là hai bài thơ mà thế hệ sinh viên rất thích. Có em thuộc lòng, có em chép vào sổ tay. Nhiều lần vào những dịp tình cờ, khi thì gặp tôi trên tàu, khi thì ở một đơn vị nào đó, có người nghe đến tên tôi là họ đọc những bài thơ đó cho tôi nghe. Nghĩ, đời một nhà thơ, được thế là sướng lắm rồi.

Riêng tôi, tôi muốn nói với Lê Văn Vọng rằng: chính từ sự bình dị khi làm thơ mà thơ anh có người thuộc, có người thích. Những hạt mưa xuân của anh cũng được như vậy đấy.

Nguyễn Đức Thiện

-----------

(*) Nhân đọc tập thơ “Những hạt mưa xuân” của Lê Văn Vọng - NXB Quân đội Nhân dân 2008

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác