Thi sĩ Hồ Dzếnh

Võ Văn Trực

Tác phẩm văn xuôi và thơ của Hồ Dzếnh thầm lặng trình diễn giữa làng văn Việt Nam cũng thầm lặng như cuộc đời và phong độ của tác giả...

Thi sĩ Hồ Dzếnh - ảnh 1
Thi sĩ Hồ Dzếnh
Sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, làng tôi lập một thư viện nhỏ. Có ông giáo làng tên là giáo Đạt hiến cho thư viện một tủ sách lớn. Ông giáo Đạt chỉ dạy cấp một thôi, mà sao nhiều sách đến thế. Bố tôi làm chủ tịch thôn và trực tiếp giữ cái thư viện đó.

Tuổi nhỏ, tôi được cắp sách đến trường học hành ít nhiều. Nhưng thì giờ chủ yếu là chăn trâu cắt cỏ, có sách vở gì đâu mà đọc. Đến lúc này, ngồi trước những chồng sách cao của thư viện làng, tôi đọc say mê từ ngày này qua ngày khác với Nhất Linh, Khái Hưng, Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Phạm Cao Củng, Thạch Lam, Thanh Tịnh… Một hôm, tôi lục tìm được cuốn Chân trời cũ của Hồ Dzếnh. Tôi chưa hề thấy cuốn sách này bao giờ và cũng chưa hề đọc Hồ Dzếnh bao giờ. Tôi phân vân cầm trên tay: Có lẽ không hay? Nhưng rồi cũng cầm về nhà đọc. Không ngờ: tập truyện đã cuốn hút tâm trí tôi suốt mấy tiếng đồng hồ, vừa đọc tôi vừa ứa nước mắt đồng cảm với những nhân vật trong tryện.

Chỉ có thế thôi, Hồ Dzếnh với một Chân trời cũ phảng phất trong tâm hồn tôi suốt mấy chục năm trời với bao nhiêu số phận hẩm hiu và cảnh đồng quê, sông nước bằng lặng. Mãi đến năm 1962, tại Hà Nội, tôi mới gặp Hồ Dzếnh ở phố Bà Triệu. Hồ Dzếnh đây ư? Hồ Dzếnh của Chân trời cũ đây ư? Vừa mới rời ghế nhà trường, tấm lòng trong trắng còn vang vọng ít nhiều chất lãng mạn của thời học sinh- sinh viên, tôi cố hình dung một Hồ Dzếnh của buổi đầu tiên đọc Chân trời cũ để so sánh một Hồ Dzếnh đang dứng trước mặt mình.

Sau đó, thỉnh thoảng tôi lại gặp Hồ Dzếnh và nhìn anh với niềm chiêm ngưỡng. Anh thường đi lặng lẽ, lủi thủi một mình trên hè phố. Không hồ hởi, không bắt chuyện sôi nổi với ai. “Vâng!”, “Chào anh!”, đó là những tiếng đầu miệng của con người ấy, rồi anh đi… xa hút dưới hàng cây… như bóng dáng của nhân vật từ chân trời xa vắng…

Thỉnh thoảng tôi cũng đọc thơ anh in rải rác trên báo Thủ đô Hà Nội, báo Thời mới. Nhưng không hay. Thơ ca ngợi cuộc sống mới như hàng trăm bài thơ khác in báo, chẳng mang phong cách gì của Hồ Dzếnh với những truyện ngắn tôi từng đọc. Sau khi giải phóng miền Nam, tôi vào Sài Gòn, mua được tập thơ Quê ngoại có phụ lục Hoa xuân đất Việt do Hoa Tiên xuất bản, xếp vào tủ sách “Thơ hay tiền chiến”. Đên ấy, tại một ngôi nhà bên dòng sông Công Lý đen ngòm và tanh tưởi, tôi đọc xong Quê ngoại. Sửng sốt và bần thần. Có một Hồ Dzếnh thi sĩ! Một thi sĩ có tài! Cái cảm giác sửng sốt và bần thần ở thời điểm ấy, dĩ nhiên là do tập thơ hay, nhưng cộng vào đó là do mình bất ngờ: Tại sao thế hệ bạn đọc sau Cách mạng tháng Tám rất hiếm người biết đến Quê ngoại?

Thì ra tác phẩm văn xuôi và thơ của Hồ Dzếnh thầm lặng trình diễn giữa làng văn Việt Nam cũng thầm lặng như cuộc đời và phong độ của tác giả- thầm lặng đến nỗi có những nhà văn nhà thơ chưa hề in thành sách mà cũng được đưa vào Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan và Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh, Hoài Chân: riêng Hồ Dzếnh thì bị quên lãng. Tưởng là ngay hồi ấy người ta quên lãng thì bây giờ còn ai nhớ nữa. May sao, năm 1988, nhà xuất bản Văn học in tác phẩm chọn lọc của Hồ Dzếnh và năm 1990, nhà xuất bản Thanh niên tái bản Quê ngoại. Con trai nằm dưới đáy biển ôm vết thương xây xát của cuộc đời mà hoá thành ngọc. Đã là ngọc thì vĩnh viễn nó là ngọc quý, dù phải âm thầm nằm sâu dưới đáy biển. Ngọn sóng triều của công cuộc đổi mới hơn hai năm qua, người ta đã bình tâm định lại mọi giá trị thực giả trong văn học. Hồ Dzếnh không bị quên lãng nữa, không bị để muộn hơn nữa, ngay hôm nay ta được nâng trên tay tác phẩm của anh với tấm lòng trìu mến.

Gió lìa cánh lá không vang

Tin ta vĩnh quyết trần gian hững hờ.

(Tưởng chuyện ngàn sau)

Thời trai trẻ, Hồ Dzếnh đã nghĩ như vậy. Tôi tin đó là điều suy nghĩ rất thực của anh. Bởi vì, anh sống ngời xanh và lặng lẽ như chiếc lá thì cũng không mong mỏi và tham vọng gì sự vinh quang ồn ã khi chết và sau khi chết. Lẽ đời thường vậy, kẻ có tham vọng đạt đến sự vinh quang bằng mọi thủ đoạn thì bị thất bại đau đớn: người không mang tham vọng mà im lặng làm việc cần mẫn thì vinh quang dâng đến. Cuộc đời của Hồ Dzếnh là như vậy đó: nghèo túng, phiêu bạt nay đây mai đó, khi dạy học ở một vùng quê vắng vẻ, lúc tằn tiện từng hào lên Hà Nội học, khi theo anh trai đi làm hoả xa để kiếm sống, lúc làm thợ đúc thép, thợ cơ khí… Yêu văn thì viết văn. Yêu thơ thì làm thơ. Anh không nghĩ rằng mình trở thành nhà văn hay nhà thơ. Anh càng không nghĩ và không ngờ, cuối thế kỷ XX này, có một nhà xuất bản lại in tác phẩm chọn lọc của mình và xếp vào tủ sách “Văn học Việt Nam hiện đại”.

Phải lận đận đến mức nào chứ, phải đau đớn đến mức nào chứ, mới viết được những câu thơ đau thành thật và giản dị như thế này:

Nát thân, không nát nỗi buồn

Lẫn trong cái chết vẫn còn cái đau!

(Tưởng chuyện ngàn sau)

Đây, một người học trò cũ bỗng lần mò tìm được địa chỉ của thầy Hồ Dzếnh vào ngày 25 tháng 6 năm 1989 viết thư cho thầy với những dòng cảm động: “Hồi đó, thầy dạy em môn văn tại trường trung học tư thục Tây Sơn thuộc huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Lúc bấy giờ thầy nghèo quá, em thấy vậy, sắp xếp cho thầy một nơi ở để thầy dạy thêm những ngày không có giờ ở nhà trường, để cuộc sống của gia đình thầy đỡ vất vả…” (Hoàng Ngọc Trữ).

Rời quê mẹ, ra Hà Nội theo người anh trai, lần hồi kiếm kế sinh nhai. Hui hút sống trên căn gác hẹp tối tăm ở phố Hàng Ngang, Hàng Đào. Lúc thì đứng bán ở quầy hàng, lúc thì đi làm công thuê, lúc thì dạy học cho con nhà chủ. Dành dụm từng đồng để theo học cho xong cấp tiểu học trường Hồng Bàng. Do sự thôi thúc của nội tâm mà cầm bút viết. Khi thì viết văn, khi thì làm thơ. Tập truyện ngắn Chân trời cũ và tập thơ Quê ngoại hình thành song song. Nào anh có biết văn mình, thơ mình hay đến mức nào. Anh cũng ít giao tiếp với bè bạn văn chương, chỉ thỉnh thoảng lui tới trò chuyện cùng Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân, Nguyễn Nhược Pháp. Các trường phái, các nhóm văn đàn hầu như hoàn toàn xa vắng đối với anh. Thỉnh thoảng viết được truyện ngắn nào, bài thơ nào, thì gửi in các báo lá cải ít người để ý như Ngọ báo, Trung Bắc chủ nhật, Thanh Nghệ Tĩnh tân văn, Mùa gặt mới… Như vậy thôi, lủi thủi, một mình mình biết, một mình mình hay…

Lùi xa hơn nữa, thuở mới lọt lòng và suốt cả thời bé dại, nhọc nhằn và buồn bã biết bao. Quê mẹ ở Ghép, mẹ vật lộn với nghề làm muối rồi chở đò ngang. Cậu bé Hồ Dzếnh theo gia đình sống lênh đênh trên sông nước dọc những bãi bờ đìu hiu. Nay đậu bến này mai ghé chợ kia. Cuối cùng đỗ lại một mảnh đất ngụ cư thuộc làng Đông Bích. Chao ôi, cái xóm nghèo thoi thóp ấy chỉ chừng bốn trăm người với gần năm mươi nóc nhà buồn tênh khói chiều như những hơi thở dài não ruột, mà quặn đau mà dữ dội xiết bao. Bọn cướp hoành hành. Bọn hào lý hoạnh hoẹ. Lá lành đùm lá rách, những người nghèo ôm nhau mà sống qua ngày trên bến sông lạnh lẽo. “Mấy điểm đèn hạt đậu run trên sông như những con mắt buồn từ kiếp trước. Bỗng, giữa khoảng triền miên rộng rãi, ngân đưa một điệu hát lơ lửng bay trên dòng nước, một điệu hát đò đưa trầm trầm lặng lẽ. Nhịp hát gần lại và xa đi theo chiếc thuyền nhỏ, cô độc ảo não, trong sự bày tỏ kín đáo của một tấm lòng thương nhớ mênh mông” (truyện ngắn Ngày gặp gỡ). Hoạ hoằn lắm cậu bé ấy mới theo bạn bè lên phố huyện Quảng Xương chơi. Huyện lỵ đối với cậu bé xóm nghèo đã là “đất tỉnh thành” rồi. Khi xa quê, hồi tưởng lại, cái phố huyện kia lọc qua tâm hồn thi sĩ, Hồ Dzếnh đã dùng ngòi bút chấm phá tạo ra một không gian mơ hồ, bảng lảng:

Khi vàng đứng bóng im trưa

Tiếng khô lá rụng làm thưa phố phường

(Phố huyện)

Cả một thời buồn tủi, cả một vùng thôn mạc vắng lặng ấy là cái để cho anh khóc bằng thơ, để làm ố hoen cả một buổi bình minh đáng lẽ rất tươi đẹp (Người chị dâu). Chuỗi năm tháng tiếp theo, tiếng khóc ấy vẫn dội vào trong trang viết của anh với dư âm “tiếng chày giã gạo đều đều rơi vào giữa cảnh tĩnh mịch, như kéo giãn thời khắc buồn bã không bao giờ tan” (Ngày gặp gỡ): “tiếng xay lúa ồ ồ nhiều lúc đến tận hai giờ sáng, như những nhịp đời thương nhớ âm vọng trong thời khắc lòng người” (Người chị dâu). Có ai chịu nhiều đắng cay hơn nhân vật trong truyện Người anh xấu số“tâm hồn như căn lều trống, gió thổi qua không vướng một bức vách?” Có ai chịu nhiều cô đơn, lạnh lẽo hơn người đàn bà trong truyện Sáng trăng suông mà ngày tết đến chỉ có “mấy que hương đen ngậm ngùi cháy trên bàn thờ vắng vẻ, vài bông hoa giấy trơ trẽn thò ra ngoài chiếc bình sứ, không đủ điểm sáng sự u tịch đã có từ nhiều đời”.

Tôi cảm thấy lạnh người theo những dòng anh viết dẫn dắt tôi vào một cõi u hoài, cô tịch của một chân trời băng giá để rồi tôi nằm mê man tại đó thấp thoáng trong giấc mộng những hình bóng lui hui chịu sự đè nặng của số phận. Tôi chợt nhớ đến Thạch Lam, Thanh Tịnh. Truyện ngắn của hai tác giả này là những dòng văn xuôi giàu chất thi ca. Tôi nghĩ về Hồ Dzếnh hơi khác, Hồ Dzếnh viết văn bằng tâm hồn của một nhà thơ, cho nên có thể nói rằng mỗi truyện ngắn của anh là một bài thơ triền miên cảm xúc mà trong đó nhân vật chỉ là cái đinh để anh treo lên đó bức tranh tâm hồn của mình.

Đọc Quê ngoại tôi cũng nhớ đến Nguyễn Bính. Giữa những năm tháng thi đàn Việt Nam đang rầm rộ một cuộc cách tân lớn, hai thi sĩ Nguyễn Bính và Hồ Dzếnh chảy theo một  dòng riêng: gần gũi với ca dao của đồng quê muôn thuở. Nhưng thơ Nguyễn Bính dân dã mang phong vị hào hoa lãng tử, còn thơ Hồ Dzếnh thì dân dã mang hương vị trong trẻo của thôn mạc.

Thời bé dại, Hồ Dzếnh theo gia đình sống lênh đênh dọc miền sông nước, được nghe nhiều điệu hò chèo thuyền, hò sông Mã, lại thường theo anh trai đi hát đối đáp nam nữ ven các làng bờ bãi. Bà mẹ Hồ Dzếnh thuộc làu Truyện Kiều, thường hát Kiều, ru Kiều. Âm điệu dân ca ngấm vào tâm hồn anh như vị muối mặn ngấm vào da thịt. Anh lọt lòng và lớn lên trong vành nôi dân ca ấy. Không lấy gì làm ngạc nhiên khi ta gặp ở anh những câu lục bát và các thể thơ truyền thống rất nhuần nhuyễn:

Trời không nắng, cũng không mưa,

Chỉ hiu hiu rét cho vừa nhớ nhung

Chiều buồn như mối sầu chung,

Lòng im nghe thoảng tơ chùng chốn xa

Đâu hình tàu chậm quên ga

Bâng khuâng gió nhớ về qua lá đầy.

(Mùa thu năm ngoái)

Tình yêu trong thơ anh trong veo một nỗi buồn với nhịp điệu lục bát chậm rãi như tấm lòng trinh trắng ngập ngừng đến với bạn tình:

Hỡi người tôi nói gì chưa?

Tôi đang sắp nói hay vừa nói ra?

(Duyên ý)

Cái cốt cách ngập ngừng, từ tốn ấy cũng được bộc lộ ngay cả lúc anh có những ý nghĩ mạnh bạo:

Tóc mây vắt vẻo niềm duyên dáng

Che nửa phong ba nửa mát lành

(Trong nắng trưa)

Đừng mong ước cả thiên đường

Hãy xin lấy nửa tấc vườn vắng hoa,

Tình người bướm lại ong qua

Tình tôi con nước, canh gà hắt hiu.

(Giản dị)

Chiều hôm ấy, buổi chiều của tuổi hăm hai, Hồ Dzếnh chờ đợi một cô gái. Đến giờ hẹn, cô ta chưa tới. Và suốt cả buổi chiều cô ta vẫn không tới. Dĩ nhiên trong trường hợp ấy, người con trai nào mà chẳng buồn. Nhưng Hồ Dzếnh tự an ủi: “Không đến lại hoá hay! Giả sử cô ta đến thật, và rồi yêu nhau, rồi tan vỡ…”. Phút rủi ro của tình yêu lại hoá thành phút cảm xúc thần kỳ của nghệ thuật, anh cầm bút viết một mạch, bài thơ trọn vẹn không cần chữa lại câu nào. Trong bài có hai câu được khái quát như một triết lý được nhiều nam nữ thanh niên chép vào sổ tay:

Tình mất vui lúc đã vẹn câu thề

Đời chỉ đẹp khi hãy còn dang dở

(Ngập ngừng)

Với một thi sĩ sử dụng các thể thơ dân tộc vững vàng như vậy, có ai nghĩ rằng ông là người con lai của hai dòng máu Việt Hoa? Thân sinh của Hồ Dzếnh là người Trung Quốc tha phương cầu thực trôi dạt sang Việt Nam và kết duyên với cô lái đò ở sông Ghép. Thanh Hoá đã là nơi chôn nhau cắt rốn, đã là máu mủ ruột rà với đất đai, với cảnh sắc với con người: Hồ Dzếnh ngợi ca: “Hỡi nước Việt Nam! Tôi nghiêng lòng xuống Người, trên những luống cày mà hương thơm còn phảng phất, vì tôi đã từng uống nước và nói tiếng của Người, vì tôi đã thề yêu Người trên bậc tuyệt vời của tôn giáo. Trên giải đất súc tích những tinh hoa của văn chương: những công trạng của lịch sử, tôi còn ghi cả bóng dáng người xưa tôi yêu thương…” (Truyện ngắn Chị Yên). Dẫu đến vậy, nhiều lúc anh vẫn bàng hoàng mặc cảm, đây là mảnh đất Quê ngoại! Còn quê nội ư? Quê nội là một nơi anh chưa hề bước tới. Tâm tưởng anh vẫn day dứt, bùi ngùi, mơ màng đến một xứ sở xa lăng lắc, mù biệt tăm- nơi đó mới thật là quê hương, là gốc rễ của mình. Một đứa bé đẻ đường đẻ chợ nào đó, vô gia cư vô quê quán, được bố mẹ nuôi từ khi còn đỏ hỏn trong tấm tã, lúc lớn lên đứa bé ấy nghe phong thanh rằng người nuôi nấng chăm chút mình không phải sinh ra mình, mà người thực sự rút ruột tạo ra mình từ thuở còn bào thai là người khác kia, ở đâu đó, gần gũi, xa xôi trong cõi đời này, đứa bé ấy sẽ suốt đời vu vơ tìm kiếm với tâm trạng cô đơn. Hồ Dzếnh dẫu được sự đùm bọc của tre làng Việt Nam, vẫn luôn luôn hoài vọng một miền xa thấp thoáng trong Kinh thi trong thơ Đường, trong Sử kí Tư Mã Thiên. Nào anh đã được về chốn ấy một ngày nào đâu mà cũng chạnh lòng so sánh: Hoàng hôn ở đây không như hoàng hôn Giang Tây, Hà Bắc, hoàng hôn ở đây ưu hoài như một chinh phụ nhớ chồng… (Truyện ngắn Ngày gặp gỡ). Qua cuộc đời chú ruột lặng lẽ, tha thủi như một cái bóng cô hồn, Hồ Dzếnh bỗng nôn nao nghe vang trong lòng mình “một thứ gió âm u của miền sa mạc Mông Cổ, trôi qua Thiểm Tây, Cam Túc, luồn vào những khu rừng không tên của hai tỉnh Lưỡng Quảng, vượt trùng dương sang tôi, như tiếng thở dài não nùng của những linh hồn phiêu dạt”  (Truyện ngắn Chú Nhì).

Toàn bộ tập Quê ngoại âm vang tình cảm của người con đối với quê mẹ, quê nước Việt. Nhưng trên bầu trời trong trẻo thôn dã ấy vẫn lảng vảng những đám mây rỉ rả rơi xuống giọt lệ khóc cố hương một chút buồn Tư Mã, một chút nhớ Chiều Quân, một chút bâng khuâng trời Viên Hán, một chút rung động với bóng liễu Động Đình và man mác với trăng đêm Dương Tử mây chiều Giang Nam…

Tiêu biểu cho nỗi nhớ thương mơ hồ ấy là bài Chiều. Dạo đó tác giả theo người anh trai đi làm hoả xa ở Lạng Sơn. Trong phút chốc bỗng thấy nhớ ghê gớm miền quê cha, Hồ Dzếnh lững thững lên tận Mục Nam Quan vọng nhìn ngọn cờ bên kia biên giới. Cảm giác lữ khách xô tới như trận gió miên man thổi qua ngàn lau trắng ven chân núi. Như bị thôi miên, anh cầm bút viết nguệch ngoạc lên bao thuốc lá. Sau khi trở lại nhà, đem áo giặt, anh chợt nhặt được vỏ bao thuốc và đọc lại những dòng chữ viết xiêu vẹo: thì ra một bài thơ trọn vẹn!

Anh chép lại sạch sẽ với đầu đề Màu cây trong khói, đem gửi đăng báo Người mới ở phố Hàng Chiếu- một tờ báo lá cải chuyên rao vặt và quảng cáo. Không ai để ý đến bài thơ đó. Bỗng một hôm Thạch Lam tìm gặp: “Tôi rất thích bài thơ. Sao anh không gửi đăng báo Ngày nay?”… Năm 1953. Dương Thiệu Tước phổ nhạc trong cơn say thuốc phiện trên gác xép Hà Nội và đổi tên bài thơ là Chiều. Dương Thiệu Tước cũng thay một chữ trong câu cuối: “Khói xanh bay lên mây” thành “Khói huyền bay lên mây”.

Toàn bài thơ gồm mười ba câu, không hề sử dụng một chút chất liệu gì về lịch sử, về địa lý, về sông núi. Tất cả đã hoà tan và được gạn lọc thành chất liệu tâm hồn tinh tuý nhất của một người con vời vợi nhớ quê nhà cố quốc…

Sau Tết Canh Ngọ - 1990


(Văn nghệ)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác