Phủ Hoài nghèn nghẹn khúc sông Tô

 

(Toquoc)- Chuyện viết văn của nhà văn Tô Hoài mới thật lạ. Giữa khi đất nước còn tranh tối tranh sáng, giữa văn hóa thực dân và lễ giáo phong kiến còn xung đột quyết liệt, những ai cầm bút sắt viết văn nghĩa là tuyên chiến với truyền thống. Họ đoạn tuyệt canh nông, lập thân bằng báo tuần, báo tháng, bằng vị trí bấp bênh nới gác trọ, neo mình theo những thị hiếu đọc đỏng đảnh của thị dân. Hoặc giả, lại có những người viết văn như một “thư kí trung thành của thời đại”, ghi lại thời khắc lịch sử bằng những số phận con người như Chí Phèo, Mõ, Đĩ Chuột… của Nam Cao; Kép Tư Bền của Nguyễn Công Hoan; Chị Dậu của Ngô Tất Tố… Giữa lúc ấy, Tô Hoài lại đi tìm một con đường vắng với nhân vật Dế Mèn. Khi được hỏi về điều này ông từng tâm sự: “Mình không được học như Huy Cận, Xuân Diệu nên ít chịu ảnh hưởng Tây học và không biết nhiều về sự hình thành các khuynh hướng văn học. Chỉ là tự nhiên, mình thích viết về cuộc đời thực” (trích theo: Tô Hoài - Sức sáng tạo của một đời văn, Hà Minh Đức). Để rồi, chính bản thân ông cũng chẳng thể ngờ hành trình đi vào tâm hồn người đọc của chú dế mèn mang bản mệnh văn chương ấy lại là một hành trình tâm tưởng bất tận. Khi về nằm dưới cỏ xanh, chợt thấy nghèn nghẹn một khúc sông Tô qua phủ Hoài trong chiều cuối hạ.

 

Một cuộc “chu du thiên hạ” không có hồi kết

Trong Dế mèn phiêu lưu kí- tác phẩm đã “đóng đinh” vào tên tuổi ông- có một cuộc “chu du thiên hạ” của chú dế mèn mới lớn. Để rồi, những đồng nhuận bút ấy đã đưa ông được chu du khắp xứ Đông Dương ngày đó và sau này thành nhà văn được đi rất nhiều nước. Nhưng ngẫm ra, cuộc chu du ấy cũng chẳng phải là thứ “chủ nghĩa xê dịch” của ngoại hiện mà thực sự là cuộc kiếm tìm, vươn tới sự hoàn thiện nhân cách trong tâm hồn.

Từ khi học xong bậc tiểu học, nhà văn lập thân bằng việc đi bán giày thuê cho cửa hàng giày ba-ta trên phố Hàng Khay. Sau lần đọc được tin tức thế cuộc từ tờ báo Đông Pháp, ông bắt đầu những ngày tháng thất nghiệp để rồi lạc vào khu vườn của những sự thật đời sống: “Cái lúng túng nhất là mất việc mà không dám nói với ai ở nhà. Vẫn đóng vai đi làm, ngày hai buổi vẫn đi đều. Ngày ngày, tôi cuốc bộ vào thành phố, tha thẩn các vườn hoa. Tôi xem kiến bò đến tận hôm tôi có thể phân biệt rạch ròi ra từng loại kiến xây tổ khác nhau. Quả sấu từ ngày rụng mắt cho tới khi vàng vàng, quả sấu chín. Nước phun ở vòi và nước phun ở mõm con cóc ra có khác nhau tý nào không. Tôi ngồi chơi cách cái lưới sắt với hổ, với khỉ. Nhìn ông hổ nhe răng gầm ghè mà không làm gì mình được. Tôi thấm thía người ta đặt tên cho người thất nghiệp lang thang là thằng “xỉa răng cọp”. Có lần tôi trông thấy người thắt cổ buông chân lơ lửng trên ghế xi măng ở vườn Bách Thảo. Tôi đứng xem cái xác một người đàn bà mặc áo the dài trẫm mình chết nổi dưới những tàu lá sen Hồ Tây, cho đến lúc người ta khiêng đi.”. Sự quan sát tỉ mỉ ấy đã không biến cậu bé Sen thành kẻ vô dụng mà lại dẫn dụ cậu vào cái nghiệp khám những biểu hiện tinh tế của đời sống. Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh đã từng khẳng định Tô Hoài là “nhà văn của người thường, của chuyện thường, của đời thường”. Từ sự lựa chọn cách nhìn ra cái “lạ” trong cái quen, cái bất ngờ trong cái thường, Tô Hoài đã bắt đầu sự nghiệp chu du đầy ắp buồn vui khổ lụy của mình.

Nhìn dáng người thấp đậm, điềm đạm của ông, ai có thể ngờ đã từng có những nông nổi như khi học theo khí phách Kinh Kha lang bạt tận Hải Phòng bằng tấm vé một chiều rồi lững thững bách bộ trở về. Lại có lần vì si mê một bóng hình mà lưu lạc mãi tận chùa Trăm gian. Nhưng chất đời thường trong ông thì phải là sự vượt lên những cái bình thường ấy như chú dế mèn từ chỗ cậy sức bắt nạt kẻ dưới đến cuộc phiêu lưu nhập thế bênh vực những Dế Trũi, cô Nhà Trò, gặp võ sĩ Bọ Ngựa và nếm trải những đói rét, cơ cực… Hành trình ấy cũng chính là sự vượt qua tầm hiểu biết của làng, của Hà Nội cổ xưa để đến với những vùng đất, con người vùng cao; từ tầm hiểu biết phong tục ngoại ô đến phong tục dân tộc thiểu số; từ thực tế đời thường đến hiện thực chiến tranh.

Nhiều người tưởng rằng, khi đất nước đã thống nhất, những đề tài chiến tranh dần sẽ mất dần vị thế, khi cuộc sống hiện đại len lỏi đến các vùng miền, xóa nhòa những “vách ngăn” lề thói thì truyện viết về phong tục sẽ không còn được đề cao. Vậy mà, Tô Hoài lại “bắt” người đọc phải theo đuổi một hành trình mệt nhoài với những thành thật nội tâm của Cát bụi chân ai, Ba người khác… Phải chăng, khi đã đi hết con đường khám phá thế giới tự nhiên, qua hết những biến động của thời đại là lúc con người bước vào hành trình tự phán xét, lặn sâu vào thế giới nội tâm.

Phủ Hoài nghèn nghẹn khúc sông Tô - ảnh 1

Nhà văn Tô Hoài (Ảnh: An Thành Đạt- Nguồn Vov.vn)           


Nghẹn ngào một mất mát

Nhà văn Tô Hoài đã thanh thản về với cỏ xanh sau cuộc phiêu lưu bất tận. Có lẽ ông là tên tuổi cuối cùng của thế hệ những năm 1930-1945 đã tạo ra nền văn chương quốc ngữ dày dặn và bề thế. Con người ấy dung hòa được nhiều cá tính nhà văn (khi làm lãnh đạo Hội VHNT Hà Nội), được nhiều đối tượng bạn đọc yêu thích. Người ta cứ vờ quên đi tuổi tác của nhà văn để hi vọng thêm ngày, thêm tháng vào một cây đại thụ xòa bóng mát giữa khi văn chương nước nhà đang ngổn ngang các hiện tượng, không có ranh giới phân chia các trường phái. Sự ra đi của ông dường như không được báo trước cho dù đã ngoài chín mươi. Bởi lẽ, ông không có một “khúc đệm” nghỉ ngơi, ngừng viết, viết xuống tay, lỡ nhịp, hụt hơi… với cuộc sống mới trước khi tạ thế. Với Tô Hoài, viết như đồng điệu với từng hơi thở, cho dù ở độ tuổi nào chữ nghĩa vẫn mới mẻ, để rồi sự ra đi ấy vẫn còn tươi rói như huyết lệ.

Dẫu đã có 150 đầu sách, trăm cuốn hồi kí, hàng sải tay bản thảo nhưng người đọc vẫn cứ thấy tiếc bởi một cây bút luôn viết mới. Dường như cái lí thuyết “tác phẩm để đời”, quá khứ vàng son với ông chỉ là thứ phù du. Viết với ông mới là được sống. Ở lĩnh vực văn học thiếu nhi, ông là người đặt nền móng. Ở văn học cách mạng, ông là người chạm tới nhiều giá trị nhân đạo sâu sắc nhất ở sự cảm thương và trân trọng những con người miền núi. Ở mảng tự truyện, hồi kí của những nhà văn dũng cảm tự thú, giải thiêng, tự giễu nhại ông cũng “mới” như thể một người viết vừa tới tầm “chín”.

Một kỉ niệm, ngày còn là người thanh niên trẻ đang còn ăn cùng mâm, ngủ cùng giường, viết cùng bàn với thầy giáo trường tư Trần Hữu Tri. Khi ấy, hai người đã chọn cho mình cái bút danh để bước vào nghiệp văn bằng chính cái tên gọi thiêng liêng của núi, sông quê hương mình. Nếu thầy Tri thân ở Hà Thành mà tâm vẫn nhớ tổng Cao Đà, huyện Nam Sang nên lấy hiệu Nam Cao thì với cậu học trò Sen là phủ Hoài Đức, sông Tô Lịch (Tô Hoài). Điều ấy cũng nói lên một bản năng viết của Tô Hoài luôn hướng đến những giá trị văn hóa, vẻ đẹp của phong tục với tâm điểm là nhận cách con người. Những gì cũ kĩ của một Hà Nội cận hiện đại, những thói quen (thậm chí cả những tật xấu) của dân văn chương cũng được ông “ngầm” đại diện mà thành thật tự thú.

Giờ đây, đại diện nhân cách người của giới cầm bút ấy đã không còn nữa. Vị sứ giả của nền văn hóa cận đại với những Chuyện cũ Hà Nội, Mười năm, Giấc mơ ông thợ rìu, Cát bụi chân ai… đã đến tương lai trước những kẻ cầm bút hậu bối hay ông vĩnh viễn đóng băng lại như một tượng đài trong một buổi trưa ngày cuối hạ. Chỉ còn thấy ngoài khung cửa sổ, thảm cỏ vẫn xanh và lấp ló một hang dế nhỏ. Một sinh thể mới lại tiếp nối một cuộc chu du bất tận. Phải chăng, những vui, buồn đâu đó dưới thảm cỏ xanh ấy mới là thứ trường tồn, đáng quý nhất của con người. Bình thường thế nhưng Tô Hoài đã làm thao thiết cả tâm hồn nhân loại.

Bùi Việt Phương

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác