Ông Tưởng, Ông Mai - chuyện bây giờ xin kể

Nguyễn Huy Thắng

Cha tôi sinh năm Nhâm Tý 1912. Nhà văn Đặng Thai Mai sinh năm 1902, hơn cha tôi vừa tròn chục tuổi. Sự chênh lệch tuổi tác này không phải là nhỏ, nhưng cũng không là quá lớn.

Ông Tưởng, Ông Mai - chuyện bây giờ xin kể - ảnh 1

Ký hoạ Nguyễn Huy Tưởng do Văn Cao vẽ, đăng trên Tiên phong số 23 (15-11-1946) - số chuyên đề về Quốc hội.

Nếu so với một số người được coi là “cùng trang lứa”, như nhà văn Nguyễn Đình Thi, họa sĩ Dương Bích Liên, cha tôi còn chênh tuổi hơn. Hai ông nghệ sĩ này cũng sinh năm Tý, nhưng kém cha tôi vừa tròn một giáp. Vậy mà giữa cha tôi với các ông, hầu như không hề có sự cách biệt về tuổi tác. Cha tôi luôn xưng với các ông là anh- tôi, ngược lại cũng vậy. Thậm chí nhiều khi họ còn xưng tên với nhau nữa, như giữa những người bạn đồng niên. Họa sĩ Dương Bích Liên trong một bức thư gửi cha tôi, sau khi ký tên, còn kèm theo mấy chữ “Bạn yêu Tưởng”. Nhà văn Nguyễn Đình Thi cũng trong một bức thư đã gọi cha tôi là Hòa và xưng là Học (bí danh của hai ông hồi kháng chiến)...

Với nhà văn Đặng Thai Mai thì lại khác. Thời kỳ Mặt trận Dân chủ cuối những năm 1930, khi cha tôi đến với phong trào Truyền bá quốc ngữ, bắt đầu bằng việc uốn nắn cho những người thất học tập viết chữ i chữ t, thì nhà văn Đặng Thai Mai chính là một trong những người sáng lập ra phong trào này; khi cha tôi mới kiếm được chân thư ký sở Đoan (sở thuế quan) của chính quyền bảo hộ, còn đang lo lập thân, tìm con đường đi cho mình, thì ông Đặng Thai Mai là người được Đảng Cộng sản giới thiệu tranh cử vào Viện Dân biểu Trung Kỳ... Nhưng chính sự cách biệt về danh phận mới là điều đáng nói. Khi ấy ông Đặng Thai Mai đã là người có uy tín lớn trong xã hội, là một cây bút có tên tuổi, một học giả uyên thâm, vị giáo sư đáng kính của trường Thăng Long được quốc dân trông cậy. Còn cha tôi mới đang âm thầm đến với văn chương, thậm chí còn chưa có sách ở đời. Những bài tiểu luận, những tiểu thuyết lịch sử ông đăng dài kỳ trên Tri Tân, thực ra mới chỉ được biết đến trong giới khảo cứu hơn là văn chương.

Dẫu sao mặc lòng, cha tôi vẫn kiên trì con đường đi của mình và, cái gì đến đã đến, cuối năm 1943 ông gia nhập tổ chức Văn hóa cứu quốc. Chắc chắn giờ đây, giữa cha tôi và nhà văn Đặng Thai Mai đã có những mối liên hệ mật thiết, vì cả hai ông đều chịu sự lãnh đạo của đoàn thể và đều có chung một mục đích: phấn đấu cho nền văn hóa mới, nền văn hóa “dân tộc, đại chúng, khoa học” của nước Việt Nam tự do tương lai...

Tháng 1-1945, cha tôi đi các tỉnh Nam Định, Hải Phòng tham gia các hoạt động của Hội Truyền bá quốc ngữ và phổ biến bản Đề cương văn hóa của Đảng. Tại một trong những hoạt động ấy, ông được nhà văn Đặng Thai Mai tặng cho một cuốn Lỗ Tấn mới xuất bản. Cha tôi đã rất cảm kích và không quên ghi trong nhật ký rằng ông “lấy làm vinh hạnh lắm” (27-1-1945). Cũng khoảng thời gian này, cha tôi có cuốn Đêm hội Long Trì vừa in ra - cuốn sách đầu tiên của ông. Sách in đã xấu, bìa lại quê mùa, khiến ông phẫn uất định không biếu các bạn bè cuốn truyện “thảm thương” ấy (chữ dùng của cha tôi trong nhật ký). Không biết về sau cha tôi có đổi ý hay không, song tôi nghĩ, việc nhận cuốn sách tặng của một bậc tiền bối như nhà văn Đặng Thai Mai, chắc chắn đã đem lại cho ông cảm giác tự tin hơn.

Cách mạng tháng Tám thành công, nhà văn Đặng Thai Mai và cha tôi cùng được giao phó nhiều trọng trách của Hội Văn hóa cứu quốc. Nhưng cũng như trước đấy, nhà văn Đặng Thai Mai, với uy tín trước quốc dân của mình, được bầu vào nhiều cương vị quan trọng, còn cha tôi thường là đứng đằng sau, với cương vị khiêm tốn hơn, lo tổ chức, triển khai các hoạt động văn hóa nói chung và của Hội Văn hóa cứu quốc nói riêng. Hai ông đã có nhiều dịp làm việc với nhau, khi tại Đại hội Văn hóa toàn quốc, khi trong thành phần Việt Minh đoàn của Quốc hội, khi thì cha tôi cùng nhà thơ Tố Hữu mới ở miền Trung ra, đến nhà ông Đặng Thai Mai bàn bạc công việc... Một sự kiện lớn đến với cha tôi vào giữa năm 1946 - năm Dân quốc đầu tiên. Đầu tháng tư, vở kịch Bắc Sơn của ông được công diễn tại Nhà hát lớn Thủ đô. Vở kịch đã gây tiếng vang lớn, được công chúng tán thưởng, báo chí quan tâm, ý kiến khen chê có đủ. Có báo khẳng định “Bắc Sơn xứng đáng là vở kịch cách mạng thành công nhất từ trước tới nay”, có báo thậm chí còn cho rằng “Bắc Sơn mở ra một nền kịch mới”, có báo thì lại chê thậm tệ, rằng “tác giả có vẻ cẩu thả vội vàng trong khi cấu tạo hai vai chính của vở kịch” (hai nhân vật Thái và Ngọc), rằng “kỹ thuật cấu tạo của tác giả thô sơ quá”... Một tháng rưỡi sau, nhà văn Đặng Thai Mai gặp cha tôi tỏ ý khen Bắc Sơn và cho rằng vở kịch cũng có những cái mới. Sau đó, trong một bài viết có tính tổng kết -  Tình hình văn học Việt Nam sau cuộc Cách mạng tháng Tám, ông có dành cho tác phẩm của cha tôi vài dòng đánh giá: “Người ta đã nói nhiều đến tập kịch Bắc Sơn của Nguyễn Huy Tưởng. ý kiến các nhà phê bình cũng khá phân vân. Sự trái ngược giữa các lời bình phẩm về giá trị tập Bắc Sơn theo ý tôi, chỉ tố cáo một sự thực: ngòi bút của Nguyễn Huy Tưởng còn tiềm tàng những khả năng hiện còn chưa khai phá hết” (Tiên phong, số đặc biệt ra ngày 19-8-1946).

Ông Tưởng, Ông Mai - chuyện bây giờ xin kể - ảnh 2
Ký họa Đặng Thai Mai, đăng trên Tiên phong số 22
(1-11-1946) - số chuyên đề về Đại hội nghị Văn hóa cứu quốc.
Ý kiến này của nhà văn Đặng Thai Mai cũng khá đồng nhất với cách nhận định của nhà văn Nguyễn Đình Thi, người viết lời Tựa cho cuốn sách được in ít lâu sau đó: “Bắc Sơn là một bước đầu, một sự tìm tòi và một thí nghiệm... Cuộc tìm tòi của Nguyễn Huy Tưởng đã làm vững thêm lòng tin chung của chúng tôi và của những người rất đông, với chúng tôi hiện đang cùng cảnh ngộ”.

Có thể nhận thấy tính khách quan và sự cẩn trọng ở những lời nhận xét nói trên. Nhà văn Đặng Thai Mai và nhà văn Nguyễn Đình Thi, với cha tôi, cùng là chỗ đồng chí với nhau. Thành công của bạn cũng có thể xem là thành công của mình. Song các ông lại là những người mang trọng trách dẫn đạo trong công cuộc xây dựng nền văn hóa mới. Một sự bất cẩn trong khen chê, nhất là khen nhau, rất dễ gây cảm giác là vơ vào, là các ông muốn nói gì cũng được. Tuy nhiên, sự nỗ lực của bạn thì rất đáng ghi nhận; bên cạnh nhiều đóng góp tích cực khác nó còn khích lệ, động viên chính các ông nữa.

*

*  *

Những năm kháng chiến, cha tôi và nhà văn Đặng Thai Mai ít có dịp gặp nhau. Nhật ký của cha tôi hầu như không có dòng nào nói đến ông Mai. Điều này có thể là do địa bàn công tác. Cha tôi đi kháng chiến ở Việt Bắc. Nhà văn Đặng Thai Mai làm Chủ tịch ủy ban hành chính và kháng chiến Thanh Hóa. Mùa thu năm 1951, cha tôi đại diện cho Hội Văn nghệ Việt Nam vào dự Hội nghị Văn nghệ Liên khu 3, cũng không có dịp gặp ông Mai. Có thể lúc này, nhà văn Đặng Thai Mai đã chuyển hẳn sang công tác giáo dục nên giữa hai ông lại thêm sự cách biệt về lĩnh vực công tác. Hòa bình lập lại, trở về Thủ đô giải phóng, hai ông dường như cũng ít có dịp gặp gỡ nhau. Sau khi các hội văn học nghệ thuật chuyên ngành được thành lập, cha tôi tuy vẫn còn trong Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, nhưng thực tế đã thôi công tác lãnh đạo, để được chuyên tâm sáng tác. Nhà văn Đặng Thai Mai thì đảm đương trọng trách Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam. Công việc bộn bề, mỗi người mỗi khoảnh, nếu hai ông ít có điều kiện giao thiệp âu cũng là điều dễ hiểu.

Cuối năm 1958, nhà văn Đặng Thai Mai cho ra chuyên luận Văn thơ Phan Bội Châu. Đây được coi là một trong những trước tác quan trọng nhất của nhà nghiên cứu giai đoạn sau Cách mạng. Sách ra, ông có tặng cha tôi một cuốn. Việc tặng sách giữa các nhà văn, xem ra cũng là chuyện bình thường. Việc đề tặng bên trong mới là điều đáng nói. Và đây là những lời nhà văn Đặng Thai Mai gửi tới cha tôi. Cũng không nhiều nhặn gì, tất cả chỉ vẻn vẹn mấy chữ: “Tặng Huy Tưởng - Thân ái - 12/58 - ký Đặng Thai Mai”. Dẫu đã biết sự quý trọng nhau giữa các nhà văn trước đây, tôi vẫn rất cảm động trước hai chữ “Thân ái” ông Đặng Thai Mai dành cho cha tôi. Nhưng điều còn bất ngờ hơn lại là ở cách gọi. Ông không gọi cha tôi là đồng chí, là anh, là bạn, cũng không viết trang trọng đầy đủ cả họ tên. Mà  đơn giản là “Huy Tưởng” như những người bạn thân thiết nhất của cha tôi vẫn nói, vẫn gọi, vẫn muốn biểu hiện sự quý mến đối với ông.

Ngược dòng thời gian, tôi nhớ tới một đoạn nhật ký, cũng không dài dòng gì, cha tôi ghi lại cuộc nói chuyện với nhà văn Đặng Thai Mai. Có thể nói mà không sợ sai rằng, nhà văn Đặng Thai Mai và cha tôi là những người đặc biệt quan tâm đến vấn đề văn hóa, hai ông mang trong mình vốn hiểu biết sâu sắc về cả hai nền văn hóa phương Đông và phương Tây, với các nét phổ quát, đặc trưng và khu biệt. Ngày 10-7-1956, nhân bàn về tính cách các dân tộc, trong đó có Nhật Bản, một đất nước luôn luôn có suy nghĩ và người dân có đời sống trí thức dồi dào, nhà văn Đặng Thai Mai đã có một nhận xét đáng chú ý như cha tôi đã ghi lại: “dân tộc Việt Nam là một dân tộc trẻ con”, vì “động cái gì cũng ngạc nhiên, cũng cười”.

Có thể trước đó nhiều chục năm, thi sĩ Tản Đà đã có lúc thốt lên: “Dân hai mươi triệu ai người lớn - Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con”; câu thơ đó quá nổi tiếng khiến cho một người đọc nhiều như cha tôi khó mà không biết cho được. Song điều nhận xét nói trên của một bậc học giả như nhà văn Đặng Thai Mai rõ ràng vẫn đặt ra cho cha tôi nhiều sự phân vân, như ông sẽ còn trở đi trở lại vấn đề này trong nhật ký. Tuy nhiên, điều chúng tôi muốn nói ở đây là vì sao nhà văn Đặng Thai Mai lại chia sẻ những suy nghĩ có thể nói là khá nhạy cảm ấy với cha tôi, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng? Thiết nghĩ, câu chuyện giữa hai ông hoàn toàn có nguyên do của nó. Nhà văn Đặng Thai Mai là nhà nghiên cứu hàng đầu của Việt Nam về tác gia Lỗ Tấn của Trung Quốc, người cả đời cầm bút không khen dân mình lấy một lời, nhưng luôn là nhà văn được nhân dân Trung Quốc yêu quý nhất. Là người am hiểu Lỗ Tấn đến chân tơ kẽ tóc, nhà văn Đặng Thai Mai hiểu rằng, Lỗ Tấn phải yêu nước đến chừng nào mới đau đớn đến thế trước những cái kém, cái dở của dân tộc mình. Và tiên sinh đã kiên quyết vạch trần những cái yếu kém ấy trên cái cơ thể đang cần được uốn nắn hơn là vuốt ve, theo kiểu “thuốc đắng dã tật”! Cha tôi, như giờ đây chúng ta được biết qua nhật ký của ông, cũng suốt đời băn khoăn về dân tộc mình. Ngay ở tuổi mười tám đôi mươi, ông đã viết: “Người không biết lịch sử nước mình là một con trâu đi cày ruộng. Cày với ai cũng được, mà cày ruộng nào cũng được” (nhật ký 13-1-1932). Nhà văn Đặng Thai Mai gắn bó với cha tôi có thể không nhiều, nhưng tâm huyết của bạn đối với lịch sử, văn hóa dân tộc thì chắc chắn ông quá biết. Nếu như ông có chọn cha tôi để giãi bày suy nghĩ của mình, âu cũng là sự tự nhiên thôi.

Tuy vậy, dường như cha tôi đã không tán đồng ông Mai hoàn toàn. Nhật ký cha tôi ghi lại chuyện ấy sau đó có viết: “Chưa chắc dân tộc ta là một dân tộc trẻ con, như Đặng Thai Mai nói”. Song ngay ở sự không tán đồng này vẫn chỉ là “chưa chắc” thôi. Bởi bản thân cha tôi cũng nhận thấy ở dân ta thực tế có những biểu hiện “trẻ con” thật, như ông sẽ viết tiếp: “Chúng ta còn thấp kém về trình độ văn hóa. Những vấn đề trí thức chưa làm cho ta suy nghĩ. Cho nên còn sốc nổi. Và tài bắt chước. Chúng ta chưa suy nghĩ sâu, thâu thái mau, nhưng vì cái vốn còn ít, nên cái gì ở ngoài là ta theo cả.” (Liệu có cần phải kể ra đây những cái của nước ngoài được du nhập một cách thiếu chọn lọc vào nước ta những năm gần đây - từ thời trang đến lối sống, thậm chí cả cách nói vay mượn từ ngữ nước ngoài - để minh họa cho điều nhận xét có tính dự báo của hai ông khi ấy?)

Tiên trách kỷ, hậu trách nhân, vấn đề nhà văn Đặng Thai Mai nêu ra trong câu chuyện với cha tôi cũng là những điều ông không thôi suy nghĩ về chính bản thân mình, hay những người có trách nhiệm như mình. Ông từng tự nhủ: “Ta chẳng ở trong cái mớ người Việt Nam còn thấp kém hay sao?” (nhật ký 7-7-1956). Với trách nhiệm của người cầm bút, ông không dám có tham vọng quá to tát kiểu như cải tạo xã hội, cải tạo con người - điều mà người ta vẫn hay nêu thành sứ mệnh của nhà văn. Mấu chốt của vấn đề đặt ra với nhà văn, theo ông, chỉ đơn giản là bày tỏ thái độ: “Vấn đề là ở thái độ. Thái độ của người bảo vệ chế độ. Cholokhov nói biết bao nhiêu cái xấu, mà cả tác phẩm nói lên bao nhiêu cái tinh thần Xô viết mà ai cũng yêu.”  Với suy nghĩ ấy, ít ngày sau ông đặt bút viết tùy bút Một ngày chủ nhật, nêu những sai lầm trong cải cách ruộng đất với thái độ xây dựng chân thành, mong sao góp một tiếng nói phản biện xã hội để cùng nhau suy nghĩ sửa sai, chấn chỉnh lại cuộc đời. Bài tùy bút sau đó bị phê phán rất nặng, rằng tác giả nhìn đâu cũng chỉ thấy có rác rưởi. Đấy cũng là thời kỳ diễn ra vụ việc “Nhân văn Giai phẩm” và nhiều vấn đề phức tạp khác nữa trong đời sống đất nước. Sau một đợt đấu tranh tư tưởng kéo dài trong giới văn nghệ, quãng giữa năm 1958, cha tôi đi thực tế lao động ở Điện Biên...

Sau hơn bốn tháng trở lại sống với những cán bộ, chiến sĩ như ngày nào ông từng lăn lộn, gắn bó trong kháng chiến, cha tôi đi thực tế về, trong lòng có thanh thản hơn. Chắc chắn ông đã rất vui khi nhận cuốn sách tặng từ nhà văn Đặng Thai Mai, cuốn Văn thơ Phan Bội Châu với lời đề “Tặng Huy Tưởng - Thân ái” như trên đã nói. Cuốn sách đã sờn mòn, có lẽ đã được người nhận đọc không chỉ một lần...

(Bản do Tác giả gửi tới Báo Tổ Quốc)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác