“Ôi những ngôi sao bay về đâu…”

(Lời tòa soạn) Nhà báo, nhà thơ - liệt sĩ Nguyễn Trọng Định, phóng viên Báo Nhân Dân hy sinh trên chiến trường Quảng Đà ngày 26-8-1968. Mãi 25 năm sau, năm 1993, tập thơ đầu tiên “SẮC CẦU VỒNG“ của anh mới ra mắt bạn đọc.

Trong lời nói đầu, nhà thơ Lữ Huy Nguyên, Giám đốc Nhà xuất bản Văn học khi đó cám ơn gia đình, bạn bè anh Định đã gửi tới NXB những trang bản thảo của anh Định mà mỗi người với những cơ duyên khác nhau còn lưu giữ được. Ông đặc biệt trân trọng “…những trang bản thảo cuối cùng của Nguyễn Trọng Định nằm trong chiếc ba lô đẫm máu đã được nhà văn Trần Mai Hạnh (cũng là bạn học dưới Định một lớp) cùng nhóm phóng viên chiến trường lúc ấy mang ra, giao tận tay gia đình, lẫn với cả chiếc áo khoác sờn rách nắng mưa mà cụ thân sinh Định đã choàng cho con khi Định cầm bút vào chiến trường…” * Nhưng cuộc đời Nguyễn Trọng Định không phải chỉ có thi ca. Trong trang đầu cuốn nhật ký duy nhất để lại cho đời mà người yêu anh lưu giữ hơn 40 năm qua, chưa từng công bố, là chữ ký và bút tích phóng khoáng của anh chép lại tuyên ngôn nổi tiếng của thi hào Pê-tô-phi:

“Tự do và Ái tình

Vì các ngươi ta sống”

Những trang nhật ký lần đầu công bố của nhà báo Trần Mai Hạnh, cùng trong tổ phóng viên chiến trường với anh, cùng vượt Trường Sơn với anh, cùng xuống mặt trận đồng bằng Quảng Đà với anh, có mặt lúc anh hy sinh, đã mang chiếc ba lô đẫm máu và những kỷ vật của anh về giao lại tận tay cho gia đình, và là người đã viết tường trình cụ thể về địa điểm và hoàn cảnh hy sinh của anh để Báo Nhân Dân làm thủ tục đề nghị Nhà nước xét công nhận danh hiệu liệt sĩ cho anh, sẽ giúp chúng ta hiểu thêm những ngày cuối đời của anh. Những trang nhật ký đó cùng với những trang nhật ký anh để lại, và hồi ức lần đầu thổ lộ của người yêu anh thuở ấy - một nữ phóng viên Báo Nhân Dân, mang tới cho chúng ta những rung cảm sâu sắc về cuộc đời của một nhà báo, nhà thơ - liệt sĩ còn rất trẻ và gương mặt tình yêu trong sáng của một thời bom đạn đã qua…

“Ôi những ngôi sao bay về đâu…” - ảnh 1

I.

Trọng Định chết.

Cái tin đột ngột làm mình chết sững cả người. Trời nắng chang chang mà bỗng ớn lạnh, rùng mình. Cái chết đến nhanh quá, bất ngờ quá, tàn nhẫn quá. Mới chiều qua Định ở bờ bên kia, theo giao liên quận ủy quận 2 vượt sông La Thọ - một nhánh nhỏ của sông Thu Bồn, sang thăm mình. Định mặc bộ đồ bà ba đen rộng thùng thình, nhào đến ôm lấy mình. Mình sững người khi thấy Định đi chân đất. "- Rủi quá. Tao chạy càn mất cả hai chiếc dép. Chân đất đạp lên mảnh gai, mảnh pháo chịu hết nổi. Mày đi với lính, kiếm được dép thì hú cho tao một tiếng, tao tới liền”. Mình mang gói kẹo đậu phụng và bao Ruby quân tiếp vụ ra chiêu đãi. Quên luôn chuyện mất dép, hai thằng cao đàm khoát hoạt về những cuộc chạy càn bất đắc kỳ tử, về những biến cố trong hai tuần xa nhau và dự định cả cái ngày thượng sơn trở lại với ”mảnh rừng chiến khu xao xuyến”. Định lôi trong xắc-cốt ra bản thảo bài “Thăm quê hương anh hùng Nguyễn Văn Trỗi”- “Tao đọc cho mày nghe nhé. Đây là bài đầu tiên tao viết tại chiến trường. Tao vừa gửi bài lên núi nhờ điện đài chỗ mày chuyển cho báo nhân dân ở Hà Nội. Gửi bài xong là tao qua chơi với mày.”

Bài báo Định viết về cuộc sống chiến đấu cực kỳ ác liệt nhưng rất đỗi lạc quan của người dân xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn - quê hương anh Trỗi. Bài đầu tiên và cũng là bài báo duy nhất của Định ở chiến trường cũng có một số phận đặc biệt. Hơn một tuần sau, anh Trọng Quyền, tổ trưởng tổ phóng viên Việt Nam thông tấn xã tại Quảng Đà nhận được bài báo này cùng với tin Trọng Định đã hy sinh. Lúc điện bài về tổng xã, điện báo viên Ngọc Thạch không kìm được xúc động đã lưu ý dưới bài: “Chuyển giúp ngay báo Nhân dân. Người viết bài này đã hy sinh”. Ngay lập tức bài được đăng trang trọng trên báo Nhân dân, được phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam nhiều lần. Và cũng ngay lập tức ở Hà Nội âm ỉ truyền lan tin Trọng Định hy sinh…

“Ôi những ngôi sao bay về đâu…” - ảnh 2

Bữa đó Định chợt hỏi tôi có nhớ nhà không, rồi nói: “Cứ chiều tà im tiếng súng, ngồi bờ sông hóng gió, nhìn về núi Chúa là tao lại nhớ mẹ, nhớ Kim, nhớ Hà Nội ghê lắm”. Rồi Định lại quay qua chuyện thơ phú: ”Tao không thích thơ lục bát, tao thích thơ tự do kiểu ”…Chị ấy năm nay còn gánh thóc/ Dọc bờ sông trắng nắng chang chang…” của Hàn Mặc Tử. Đọc lên nó ám ảnh ghê lắm”. Cùng học tổng hợp văn nhưng tôi không am hiểu lắm về thơ nên chỉ ầm ừ phụ họa. Rồi để chứng minh, Định đọc cho tôi mấy bài thơ tự do vừa phác thảo. Có những câu tôi nhớ, đại loại:

Chiều tạm ngưng bom đạn

Anh nhớ em làm sao

Phía trước núi xanh cao

Phía sau là sông biếc

Anh yêu em tha thiết

Xa anh em có biết

Phía trước núi xanh cao

Phía sau là sông biếc…

Rồi:

Trời biên giới mù sương

Sau mỏm núi kia là đất mẹ

Ta đứng bên này

Ngực thở đất trời bên đó

…Tại một ngã ba ngã bẩy

Quanh một lối mòn

mẹ ta đứng vẫy

Nước mắt mẹ rưng rưng

Và cửa sổ người yêu thương mở

những buổi chiều

Em có dõi nhìn bóng hình anh

trên con đường trải nhựa…

Định hỏi tôi có biết Kim, người yêu của Định, cùng làm Báo Nhân Dân với Định không. Tôi nói có thoáng gặp hai lần. Lần đầu là ở phố Nguyễn Chế Nghĩa. Kỳ đó, Định đưa Kim tới nhà anh Đinh Văn Đức, bạn thân cùng lớp tổng hợp văn. Bữa đó tôi cũng có việc ghé nhà anh Đức. Lần hai là ở cổng trụ sở Việt Nam Thông tấn xã, buổi sáng tôi và Định lên xe vào chiến trường Kim tới tiễn. Tôi nhớ đó là một cô gái xinh xắn, nhẹ nhõm, cao dong dỏng có nước da trắng và cặp mắt đen láy.

- Kim cùng làm Báo Nhân Dân với tao - Định kể. Cô ấy ở nông thôn, nhà nghèo, hết lớp 8 phổ thông thì đi học trung cấp điện báo viên rồi về công tác tại Báo nhân Dân. Bọn tao yêu nhau mới được hơn năm nay, khi yêu cô ấy mới 18 tuổi. Bữa mày gặp tao ở Nguyễn Chế Nghĩa là tao vừa đưa cô ấy về quê thưa chuyện với bố mẹ. Lúc quay về Hà Nội gặp mưa ướt hết, tao phải đưa cô ấy về nhà Đinh Văn Đức ở 10 Nguyễn Chế Nghĩa. Tao vừa xách nước vào phòng tắm cho cô ấy thay quần áo, quay ra thì gặp mày.

- “Đây, ảnh tao với Kim đây!” - Định lấy ở túi áo ngực trái ra tấm ảnh đen trắng, khổ lớn gần một bàn tay. Bức ảnh chụp chân dung hai người, Kim âu yếm ngả đầu vào vai Định. Thú thực lúc ấy tôi phục Định sát đất. Tôi yêu Lý Hương, mối tình đầu mà cũng chưa dám chụp chung ảnh lần nào, tặng nhau ảnh chân dung bé tẹo mà cũng phải giấu giấu diếm diếm. “Nếu tao hy sinh, mày còn sống trở về thì tìm gặp Kim. Mày nói tao yêu cô ấy, không lúc nào tao không nghĩ đến cô ấy”. Tôi gạt phắt đi, mắng Định là gở mồm gở miệng. Nhưng trong thâm tâm lúc ấy, tôi cũng không khỏi ngạc nhiên vì sao lần đầu nói với tôi chuyện riêng mà Định lại mở lòng đến thế. Lại còn dặn dò chuyện sau này nữa. Mà Định vốn là người kín đáo, kiệm lời. Định muốn ở lại bên quận đội cùng tôi ít ngày, tiện thể lấy tài liệu viết bài. Nhưng các anh tuyên huấn quận đội khước từ với lý do phóng viên báo Đảng trên cử xuống đã được quận ủy tiếp nhận, bảo vệ, lo mọi chuyện rồi. Cuối buổi chiều tôi tiễn Định ra bờ sông La Thọ để về quận ủy bên kia sông. Nhánh sông nhỏ, nước cạn có thể dễ dàng lội bộ qua.

Không hiểu sao, ôm chặt nhau chia tay rồi, đã bước chân xuống nước rồi Định lại nhảy lên bờ kéo tôi lại:

- Tao có bài thơ riêng tặng Kim rất hay. Mấy hôm trước tao nằm mơ thấy cảnh đưa Kim về quê thưa chuyện với bố mẹ, xin phép được yêu nhau tao xúc động làm bài thơ này. Lúc nãy tao quên, giờ thì mày lấy sổ ra chép, về đọc rồi có gì nói lại với tao. Chiến tranh chẳng biết thế nào. Nói dại, nếu tao hy sinh, mày còn sống thì tìm gặp chuyển cho Kim bài thơ này, coi như đấy là những dòng cuối tao gửi lại với đời, gửi lại cho cô ấy.

Nghe Định dặn dò mà tôi cứ rợn cả người. Bài thơ có đầu đề là “Gửi em” nói về TÌNH YÊU và CHIẾN TRANH. Bài thơ có sức ám ảnh ghê gớm trong từng câu, từng chữ. Thân phận tình yêu, những đe dọa, những thách thức của chiến tranh. Với tôi đây là bài thơ hay nhất trong tất cả những bài thơ tình mà tôi được biết...

Qua sông, mặc lại quần xong Định vẫy chào tôi. Hình ảnh Định mặc bộ bà ba đen, đi chân đất, vai đeo xắc-cốt, lưng đeo ba lô tất tả trong hoàng hôn chạng vạng ám ảnh tôi mãi. Đó là hình ảnh cuối cùng về Định trên cõi nhân gian này…

Nhận tin Định chết giữa 12 giờ trưa. Mặt trời vừa đứng bóng. Nắng đổ chan hòa. Cái nắng khô ong vắt kiệt sức người, hút cạn những giọt mồ hôi cuối cùng. Vừa đặt chân vào nhà ông Hữu, nơi tuyên huấn quận đội đặt trụ sở thì Kề - cần vụ của anh Bân, trưởng ban địch vận vừa đung đưa võng vừa thủng thẳng nói: “A, anh Hạnh. Xin báo anh biết, anh gì vừa tới thăm anh chiều qua đã chết, xác chôn ở gò đất đầu nhà bà Dưa ấy!”. Cái tin làm mình chết sững cả người mà cậu ta nói với cái giọng thủng thẳng, bình thản không chút xúc động. Một sự bình thản, bằng lặng, nhẫn tâm đến không thể hiểu. Trong chiến tranh cái chết đến nhanh quá, nhiều quá, ngày nào cũng có người chết và người ta đã nhìn nó với con mắt bình lặng. Chết không phải là động từ nữa, mà là một danh từ chỉ những gì diễn ra như cơm bữa. Ai chết thì chôn, ai sống cứ làm việc, cứ chiến đấu. Cuộc sống ngày lại ngày trôi qua với cái nhịp điệu như thế - cái nhịp điệu không bao giờ có sự chùng dịu, căng như sợi dây đàn.

Nhớ lại hình ảnh Định mất dép, chân đất sang thăm chiều qua không sao cầm nổi nước mắt. Thương Định nhưng mình cũng không thể cởi dép đưa Định, mình sẽ đi bằng gì? Vừa xin ở lại cùng mình một đêm để lấy tài liệu viết bài đã bị từ chối, Định sững người, không mở lời về chuyện mất dép nữa. Chiến tranh ác liệt, khẩn trương đến hết mức làm con người ta nhiều lúc co lại, thế thủ để tồn tại. Không ai muốn vướng bận vào mình. Một chỗ rúc khi gặp càn, một chỗ trú trong hầm để tránh pháo, một bánh lương khô…Chẳng là gì cả nhưng lại là tất cả. Và vì lẽ đó, con người muốn tồn tại phải chiến đấu với tất cả.

Nhận được tin, cứ ba lô trên vai quay ra cửa đi luôn. Đi một mình, vừa đi vừa hỏi đường. Những con đường mòn chỉ vừa bước chân người, nát bươm vì bom đạn cầy đi xới lại. Những hố bom hố pháo chồng lên nhau. Những hàng tre xơ xác, trụi trơ. Làng xóm vắng ngắt. Không gian im ắng đáng gờm. Nắng đổ xuống hầm hập. Nhìn đâu cũng chói chang ánh nắng. Cả một vùng đất trắng băng, khô rang bốc nóng hầm hập. Vừa đi vừa chạy, ẩn núp tầu rà, pháo điểm đến đứt hơi. Tới nơi thì có lệnh địch càn, tuyên huấn quận ủy quận hai đã chạy khỏi đây từ sáng. Còn đang lớ ngớ không biết hỏi ai thì một bà má ở dưới hầm nhô lên vẫy gọi. Bà kể sáng sớm nay có chú “nghĩa vụ” người Bắc trú gần hầm nhà bà bị ca nông chụp chết, xác chôn ở gò đất đầu nhà bà Dưa. Sau khi biết đấy là một nhà báo trẻ mới ở Hà Nội vào, bà má khóc. Địch càn đến nơi, làng xóm lặng vắng bóng người. Bà má tất tả dẫn ra thăm mộ Định. Đứng lặng trước ngôi mộ còn nguyên mầu đất mới. Đất cát sẫm mầu đỏ vừa mới xơi lên đắp mộ còn đang xả hơi ngùn ngụt. Mấy nén nhang cắm ở đầu mộ xộc xệch, cái nghiêng phía trước, cái ngả phía sau. Không bát cơm, bình hương, quả trứng. Giữa từng loạt đạn pháo địch bắn mở đường cho cuộc càn, trước khi rút chạy mọi người vội vã chôn cất Định. Cái chết đến thật bất ngờ và ác nghiệt. Năm giờ sáng, vừa mới chui ra khỏi hầm trú ẩn thì đại bác chụp đến. Một mảnh đạn nhỏ, sắc cạnh xuyên từ lưng vào đúng tim. Định gục ngay, không kịp nói một lời. Trước khi vĩnh biệt cuộc đời, cảnh sắc rời rợi, khát khao với những nạm vàng của rạng đông tươi sáng trên sông Thu Bồn đã ập vào cặp mắt thật sáng, thật thông minh, láu lỉnh của Định-Cặp mắt ngời ngợi ý thức, niềm tin của một con người vào giá trị của mình trong cuộc sống.

Nhìn đâu cũng thấy nắng. Nắng trên trời đổ xuống, nắng dưới đất bốc lên đan chéo nhau, dầy đặc như thảm. Nắng chan hòa trên đồng ruộng, trên mặt sông, trên những con đường mòn đất đỏ. Nắng phủ dầy trên những gò mả, bờ tre, bụi chuối, phủ dầy trên phần mộ của người vừa khuất. Nhớ làm sao câu thơ của Hàn Mặc Tử mà Định vừa ngâm ngợi chiều qua: “Chị ấy năm nay còn gánh thóc/Dọc bờ sông trắng nắng chang chang”.

Định ơi! Địch càn đến nơi rồi, mọi người đã chạy hết và mình cũng chẳng thể nấn ná thêm được nữa. Chiến tranh tàn khốc qúa. Mình cúi xuống viếng hương hồn của Định. Mình không khóc nhưng lòng mình nấc từng cơn, bàng hoàng, sờ sững cả người. Thật tiếc, cậu chết qúa sớm, chết khi còn biết bao khát vọng cháy bỏng trong lòng chưa thực hiện được. Bài báo đầu tiên: “Thăm quê hương anh hùng Nguyễn Văn Trỗi” của cậu đang trên đường chuyển ra Hà Nội. Bài thơ “Chiếc võng” của cậu đang in, bài thơ “Tiến về Đà Nẵng” và trường ca “Sông Thu Bồn”mới dang dở những dòng phác thảo…

Định ơi! Nếu còn sống chắc chắn cậu sẽ được chứng kiến ngày các đơn vị chủ lực của ta tiến về giải phóng Đà Nẵng - Cái thành phố mà những tháng ngày dong duổi trên Trường Sơn mình và cậu đã mơ đến ngày đi dạo trên các đường phố ở đó, uống với nhau một tách cà phê thật đặc cho bớt nhớ những hương vị của Hà Nội. Ước mơ ngày chiến thắng trở về gặp lại Kim của cậu cũng không còn xa nữa. Ngày ấy, nếu còn sống mình sẽ tìm gặp Kim, mình sẽ nói với cô ấy rằng cho đến lúc vĩnh biệt cuộc đời này hình ảnh của chị vẫn mặn nồng trong trái tim anh ấy, tình yêu thủy chung trong sáng lấp lánh trong từng vần thơ anh ấy viết. Những năm tháng đợi chờ của một người thiếu nữ đã kết thúc - kết thúc quá sớm bởi sự ra đi không một lời nhắn gửi của người mình yêu dấu…

Định ơi, trưa nay trên cả một vùng đất trắng băng, khô rang chỉ có một mình mình và nắng. Không một ngọn gió. Dòng sông như ngưng đọng, hóa nắng. Những hàng tre im phắc. Những đôi chim cu trên gò đất đầu nhà bà Dưa, nơi chôn cậu cũng không gù nhau nữa. Cái nắng chan hòa, chói chang trưa nay khắc sâu vào ký ức mình đến suốt đời. Cái nắng mãi mãi dội lên trong lòng mình, làm nhức nhối, tấy buốt những kỷ niệm về cậu.

Cầu mong cho bom đạn tội lỗi của kẻ thù đừng một lần nữa dày xéo lên phần mộ của cậu. Sẽ rất ít có dịp hương đỏ trên mộ cậu, nhưng cậu hãy tin rằng những người đang sống không bao giờ quên cậu.

Thôi cậu yên nghỉ, mình đi - Đi trong ánh nắng chan hòa và những mất mát nhìn không sao thấy được.

x

x        x

Một chiều cuối ngày sau đó, những kỷ vật của Định được các anh bên tuyên huấn quận ủy chuyển đến. Mảnh giấy bàn giao ghi vắn tắt:1 balô, 1 bộ quân phục, 1 cái đài bán dẫn của Trung quốc, 1 sổ tay phóng viên, 1 bức ảnh. Gia tài Định để lại chỉ có thế. Đáng kể nhất là bức ảnh. Đó là tấm ảnh khổ 9x12 cm chụp hình Định và Kim âu yếm ngả đầu vào nhau. Đấy chính là bức ảnh mới chiều hôm trước qua thăm, Định đã rút trong túi áo ngực trái ra khoe với mình. Bức ảnh bị thủng một chỗ ở ngay nơi ngực trái của Định, vệt máu đỏ loang ở đó. Mặt sau bức ảnh là những dòng chữ nắn nót Kim viết lúc chia tay : “14 -4-68

Xe chúng tôi đi về phương nam

Thành xe xanh như hai hàng cây mới mọc

Súng ôm chặt trong lòng

Xe chúng tôi đi về phương nam

Xe chúng tôi đi về phương nam

Tháng năm vàng

Sao trên trời lấp lánh

Trên xe nhìn

Triệu nghìn ngôi sao như có cánh

Ôi những ngôi sao bay về đâu?

Chiều chạng vạng. Dưới ánh sáng của những ngọn đèn dù thả sớm lơ lửng trên trời, những nét chữ cuối cùng của Định như những ngôi sao nhấp nhóa, rưng rưng trước mắt tôi. “Ôi những ngôi sao bay về đâu?” – Đó là câu thơ cuối cùng, là dòng chữ cuối cùng Định gửi lại với đời. Nghe như tiếng cảm thán của Định đâu đây - Với tôi, Định là ngôi sao đẹp nhất. Trong ký ức tôi, ngôi sao đó không tắt, không bao giờ tắt. Nhưng không biết giờ này nó đang còn mải miết về đâu tận miền xa thẳm cuối trời!

II

Hai năm sau, tại một bệnh viện điều dưỡng của Ban Thống nhất trung ương dành cho cán bộ ở chiến trường miền Nam ra Bắc chữa bệnh, tôi gặp lại Kim. Kỳ đó, vừa ở chiến trường ra, một trong những việc làm đầu tiên của tôi là viết thư báo cho Kim biết người yêu của chị đã hy sinh và những kỷ vật của anh tôi vẫn đang gìn giữ. Bức thư đó tôi có chép lại trong sổ tay cùng bài thơ “Gửi em“ của Trọng Định, và được lưu giữ đến tận giờ. Tôi gửi thư theo đường bưu điện tới Báo Nhân Dân, và gần như lập tức, hai hôm sau Kim tới gặp tôi. Đó là một buổi sáng ngay sau tết nguyên đán, trời giá lạnh như chưa bao giờ giá lạnh đến thế. Kim vừa xuất hiện ở cửa phòng tôi nhận ra ngay. Chị mặc áo bông, choàng chiếc khăn voan mầu đen, gương mặt nhẹ nhàng, thanh thoát. Tôi vừa qua cơn sốt rét ác tính, gần như kiệt sức trên giường bệnh. Khi nhận chiếc ba lô đẫm khô vết máu cùng những kỷ vật của Định chị run bắn người, bật khóc. Những năm tháng đợi chờ đã kết thúc với tổn thất, mất mát không gì bù đắp được. Tôi không đủ dũng cảm kể lại những phút cuối của Định, và chị dường như cũng không đủ bình tĩnh để hỏi kỹ tôi. Tôi giao lại đầy đủ kỷ vật, chỉ giữ lại bức ảnh chụp hai người bị mảnh pháo xuyên thủng, thấm máu Định và bài thơ “Gửi em” của Định tôi chép trong sổ tay. Cuộc gặp ngắn ngủi vì cả hai đều thảng thốt, đều tránh nhắc nhiều đến người đã khuất…

Phải mười năm sau tôi mới gặp lại chị. Lúc đó chị đã xây dựng gia đình, đã là phóng viên công tác tại Ban thư ký Báo Nhân Dân. Trong khoảng thời gian không gặp đó, qua em trai của Nguyễn Trọng Định, tôi được biết chị vẫn đến thăm và chăm sóc bố mẹ Định. Ông bà thân sinh Định coi chị như con dâu dù chưa ăn hỏi, cưới xin. Điều chị và cả gia đình băn khoăn là không hiểu Định hy sinh có được mai táng không, hài cốt có còn không, phần mộ ở đâu? Chị đã vào Quảng Nam, Đà Nẵng cùng với phóng viên thường trú Báo Nhân Dân lặn lội tìm kiếm hài cốt của Định nhưng không sao tìm được. Chiến tranh ác liệt, hố bom chồng lên hố bom, vùng Điện Bàn nơi Định hy sinh là vùng bình định cấp tốc bị địch cho xe ủi cày đi xới lại nhiều lần. Năm 1981, do hàng xóm dùng xăng bất cẩn nên nhà tôi ở khu tập thể Thông tấn xã Việt Nam bị cháy sạch. Những trang nhật ký chiến trường ghi chép về Nguyễn Trọng Định và cả bức ảnh chụp với người yêu thấm máu của anh, tôi lưu giữ bấy lâu cũng bị cháy xém. Vì vậy tôi đã nhắn cần gặp, và như mười năm trước Kim tới ngay. Để chị yên tĩnh một mình trong phòng làm việc của tôi ở Thông tấn xã Việt Nam với những trang nhật ký chiến trường tôi viết về Định. Rất lâu sau tôi quay lại, chị vẫn ngồi thẫn thờ, mắt đỏ hoe, những giọt nước mắt lặng lẽ rơi thấm ướt những trang ghi chép về ngày Định hy sinh. Cả hai cũng lại không nói gì nhiều. Chị cám ơn và ngỏ lời xin lại tôi bức ảnh chị chụp với Định bị thủng vì mảnh pháo và thấm máu của anh. Tôi có nhớ, nhưng không hiểu sao lúc đó lại không thể kể và đọc chị nghe bài thơ “Gửi em“ mà Định một ngày trước khi hy sinh dặn đi dặn lại tôi là còn sống thì phải chuyển tận tay chị…

III

Lại phải gần 30 năm sau, tôi mới có dịp ngồi với chị để nhớ về Nguyễn Trọng Định, nhớ về những kỷ niệm mối tình đầu của chị . Số là, nhân kỷ niệm 85 năm Ngày báo chí cách mạng Việt Nam (21/6/1925 – 21/6/2010 ), một vài đồng nghiệp ở Báo Nhân Dân và bạn học của Nguyễn Trọng Định có nói tôi rất nên có bài viết về anh. Vì lẽ đó, gần 30 năm tôi lại nhấc máy, ngỏ lời đề nghị chị cho công bố những gì là riêng tư của chị và anh Định trong bài viết của tôi. Tôi gọi buổi sáng thì ngay buổi chiều chị đã có mặt trong phòng làm việc của tôi tại một biệt thự từ thời Pháp trên đường Quang Trung. Đó là một ngày Hà Nội vần vũ cơn giông và mưa rất to. Chị đã hơn 60 tuổi, về nghỉ hưu sau nhiều năm đảm trách cương vị vụ trưởng một vụ quan trọng của Báo Nhân Dân. Tôi cũng đã nghỉ hưu, sau những năm tháng sóng gió, thăng trầm của đời làm báo,giờ làm cố vấn cho Tổng biên tập một tờ báo điện tử. Tôi và chị đã có thể bình tâm nói với nhau mọi điều. Chị kể, 30 năm trước, sau khi đọc những trang nhật ký chiến trường của tôi viết về anh Định và nhận lại bức ảnh kỷ vật mối tình đầu của mình, chị có viết cho tôi một bức thư và định gửi kèm cuốn nhật ký duy nhất mà chị với anh Định cùng viết trong những tháng ngày yêu nhau. Nhưng - chị nói, không hiểu sao ngày ấy viết rồi mà em không gửi nữa. Nhưng em vẫn giữ. Giờ thì em gửi anh đây.

Tôi nhận bức thư chị viết nhưng không gửi từ 30 năm trước và cuốn nhật ký. Bức thư đề ngày 14 - 11- 1981 ấy, chị viết:

                              Kính gửi anh Hạnh

                         Em xin cảm ơn anh về bức ảnh anh đã

                         giữ lại cho em. Nó gợi em nhớ lại một

                         thời thơ trẻ yêu người và yêu đời thật trong

                         sáng, không một chút bụi của sự tầm thường.

                         Anh đã là người biết rõ chuyện của chúng em

                         và thông cảm với hoàn cảnh của em, em cũng

                         không muốn giấu anh điều gì. Em gửi anh xem

                         cuốn sổ nhỏ này, nó là một trong những kỷ vật

                        anh Định để lại cho em. Em giữ nó để nhớ lại

                         những ngày sống đẹp nhất của cuộc đời. Anh

                        xem để hiểu hơn chuyện của chúng em và cũng

                         mong anh hiểu rằng nhờ có nó mà em mới sống

                         tốt trong hiện tại cũng như tương lai…”         

Cuốn nhật ký dầy đặc những bài thơ phác thảo cùng những trang nhật ký của Định và chị viết cho nhau. Trang cuối cùng là dòng chữ của chị: “26 - 8 -1968

                                        Hy sinh tại Quảng Đà (Quảng Nam ngày nay)

                                       

 “Ôi những ngôi sao bay về đâu…” - ảnh 3

Một trang trong cuốn nhật ký duy nhất Nguyễn Trọng Định để lại, chưa từng công bố

Chúng tôi ngồi yên lặng. Mỗi người theo đuổi một dòng suy nghĩ miên man. Qua cửa kính, bầu trời xám đục, mọng nước hiện ra trong dầy đặc những hạt mưa giăng xiên trong gió mạnh.

- Em với anh Định yêu nhau chưa được một năm thì anh ấy vào chiến trường và hy sinh – chị nói – Đấy là mối tình đầu của em. Ngày được tin anh hy sinh em khóc hết nước mắt, những tưởng mình gục ngã, không đứng lên được. Nhưng rồi con người ta cũng phải sống, đúng không anh. Rồi em lấy chồng và chăm lo cho mái ấm gia đình mình đến giờ. Đời em chỉ có hai người đàn ông vậy thôi. Với anh Định, thời gian yêu nhau chưa đầy một năm, anh ấy đã vĩnh viễn ra đi. Dẫu con số năm tháng không bao nhiêu nhưng nào đâu có thể thiếu được trong toàn bộ đời sống tâm hồn một con người, phải không anh? Tình yêu của chúng em hết sức bình thường, giản dị như tất cả những đôi lứa yêu nhau, chờ đợi, hy sinh trong chiến tranh. Chẳng có gì đặc biệt cần viết cả. Nhưng viết về anh Định mà thấy cần nhắc đến tình yêu của chúng em thì anh cứ  viết. Chỉ có điều bức ảnh chụp hai chúng em thấm máu anh Định lúc anh hy sinh thì xin anh không công bố. Con người ta, không phải vì hoàn cảnh đâu, mà cái chính em nghĩ vẫn có những điều cần giữ cho riêng mình…

Còn bài thơ “Gửi em” - chị nói tiếp - 42 năm rồi, kể từ buổi chiều chia tay lần cuối anh Định đọc cho anh chép, anh vẫn giữ thì giờ anh đọc cho em nghe đi. Em cám ơn anh rất nhiều. Nhưng anh không phải chép lại cho em đâu. Anh đọc cho em nghe rồi anh công bố như lời dặn dò của anh Định. Như thế, em nghĩ, ở thế giới bên kia nếu như có thế giới đó, chắc anh Định sẽ hài lòng. Anh ấy sẽ phù hộ cho em và cả cho anh mọi sự tốt lành trong thế giới bên này anh ạ.

Trong căn phòng ngưng đọng kỷ niệm, lặng lẽ với thế giới mưa gió bên ngoài, tôi xúc động đọc cho chị nghe bài thơ cuối cùng Định gửi lại chị, gửi lại cõi nhân gian này.

GỬI EM

Đừng hỏi anh từ đây đến em

Qua mấy bến phà

Sông Lam hay Sông Mã

Đừng hỏi anh từ đây đến em

Qua bao vùng bom nổ

Hà Tĩnh, Nghệ An

Bởi có gì đâu hỡi em yêu

Chuyến phà anh sang là chuyến phà đêm ấy

Chúng mình về quê ngoại

Có một giọng hò lảnh lót ngang sông

Bởi nằm dưới chùm pháo sáng  cuồng điên

Anh vẫn nhớ vầng trăng công viên tháng bẩy

Trên vai em

Ánh trăng xanh như một tầu lá chuối

Sau dịu ngọt cơn mưa

Bởi không gian chẳng làm xa cách tình yêu

Bởi anh vẫn chuyện trò với em

những lúc đạn bom

những khi vắng vẻ

Bởi nếu mặt trời kia chưa vỡ ra từng mảnh

Thì làm sao anh có thể xa em

                                                         Quảng Đà tháng 8 - 1968

                                                          Hà Nội tháng  6 - 2010

                                  Trần Mai Hạnh

                                                                   

(Trích trong “CUỘC ĐỜI, KHOẢNH KHẮC VÀ SUY TƯ” )

  

--------------------------
Ghi chú:(*) Trích lời nói đầu “Nhà thơ - liệt sĩ Nguyễn Trọng Định”

trong tập thơ “Sắc cầu vồng” do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 1993


                   

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác