Ninh Viết Giao: Ngài xứ Thanh nên danh xứ Nghệ


(Tổ Quốc)- Mấy chục năm nay, người dân xứ Nghệ có câu tự trào: Đường vô xứ Nghệ quanh quanh/ Non xanh nước biếc như tranh họa đồ/ Ai vô xứ Nghệ thì vô/ Còn choa, choa cứ Thủ đô choa về. Bởi vì đó là dòng di chuyển chính của con dân đất nghèo mà ham học, ham làm, từ nhiều đời nay. Nhưng hơn 60 năm trước, có một sinh viên khóa đại học đầu tiên sau hòa bình 1954, đã đi ngược chiều, và ông đã làm nên một huyền thoại dân gian mới, để được lưu danh trong bài thơ nhại lại thơ Cụ Tản Đà:

Nực cười cho Bác Viết Giao/ Quê hương Thanh Hóa lại vào Nghệ An/ Sưu tầm văn học dân gian/ Bàn chân trãi khắp trên ngàn dưới sông/ Dạo chơi Nam Bắc Tây Đông/ Bạn bè sum họp, vợ chồng cách xa.

Đó là nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Ninh Viết Giao (1933-2014), người vừa được Chủ tịch nước ký tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật năm 2017.

Quê ông ở làng Đông Thôn, tên Nôm là Kẻ Sài, xã Hoằng Xuyên, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Theo Hồi ký của ông, từ năm 7, 8 tuổi ông đã đi làm rể. Chuyện tảo hôn ở Xứ này là quá bình thường. Đầu năm 1946, Cách mạng vừa thành công, ông nội, vợ mất sớm, lo cháu nối dõi, đã bắt cháu đích tôn cưới vợ khi mới 15 tuổi. Vợ người làng bên, có gia đình khá giả, hơn ông một tuổi. Còn đi học mà có vợ, xấu hổ, chàng phải trốn nhà, ngủ nơi khác đến 4-5 năm. Ông nội bắt, đánh cho nát mông, mà vẫn không về. Nhưng cuộc tình tảo hôn ấy lại được duy trì bền vững một đời, để dù gần suốt đời xa nhà, bà vẫn thay ông nuôi dậy một bầy con cháu đề huề.

Cuối kháng chiến chống Pháp, ở vùng quê là đất căn cứ kháng chiến, ông được học hết phổ thông, rồi thuộc số ít ỏi, thi đậu vào lớp dự bị đại học. Đang phân vân tốt nghiệp chưa biết làm gì, thì Hòa bình lập lại, cả lớp được triệu tập về Hà Nội, vào học khóa đầu tiên của Đại học Hà Nội. Ở đây, ông gặp lại mấy vị thầy dạy ở Thanh Hóa, trong đó gần gũi nhất có thầy Trương Tửu, Trần Đức Thảo. Ngày tốt nghiệp, lúc đầu có trong danh sách 10 người được giữ lại làm tập sự trợ lý giảng dạy, nhưng sau rút xuống, ông phải vào Khu IV dạy cấp 3. Ông nhớ, trước buổi lên đường, tới chào và xin ý kiến thầy Trương Tửu, thầy bảo: Anh có năng khiếu và chịu khó, nếu ở lại Hà Nội, thì đi vào lĩnh vực nghiên cứu văn học hiện đại, bây giờ về địa phương thì nên đi vào văn học dân gian. Thầy còn nói thêm: Trong văn học dân gian có một loại hình chưa ai khám phá, đó là câu đố. Ra dạy cấp 3, anh nên dành thời gian đế sưu tập và tìm hiểu câu đố.

Hành trang vào đời của người giáo viên trẻ khi được phân công về Khu IV là hai bồ sách, hai bộ áo quần và chiếc áo khoác cũ. Lọc cọc mấy ngày mới từ Thủ đô về Vinh. Nhưng khi xuống xe, trước một vùng đất nhà tranh, cửa liếp tan hoang sau cơn bão lớn, ông còn hỏi: Thành phố Vinh ở đâu? Bị tiêu thổ trong kháng chiến chống Pháp, mấy năm sau hòa bình, Vinh vẫn là một thị tứ cơ hàn. Không được về Thanh Hóa quê nhà như nguyện vọng, ông xin về dạy Cấp 3 Huỳnh Thúc Kháng. Một khu đất nhà nhà xiêu vẹo, đổ nát, tranh tre, nứa, mét ngổn ngang sau bão đón thầy giáo trẻ. Nhưng, ông hoàn toàn không ngờ, chính trên mảnh đất đó, ông đã bắt đầu một sự nghiệp làm thầy giáo, làm nhà nghiên cứu văn học, văn hóa dân gian mà số lượng tác phẩm, cho đến nay, ở nước ta, không có mấy người sánh kịp.

Con đường cũng không hoàn toàn suôn sẻ. Mới ra trường hơn một năm, dư âm cuộc đấu tranh chống Nhân Văn- Giai phẩm, và Đất Mới đổ bóng xuống cuộc đời những sinh viên được các thầy Trần Đức Thảo, Trương Tửu yêu quý và gần gũi. Giờ giảng bị rút bớt, lớp dạy bị hạ xuống; viết đi, viết lại các bản kiểm điểm; chịu đựng các góp ý và phê phán của các thầy, các bạn, tất nhiên không phải toàn những lời ngọt ngào, dễ nghe. Cũng may, là trong những ngày sóng gió đó, vẫn có những người có trách nhiệm hiểu, động viên và tạo điều kiện cho những giáo viên trẻ, nhiều nhiệt huyết như ông yên tâm với công việc. Mới đi dạy năm thứ hai, nghe lời dặn của thầy Trương Tửu, tận dụng đóng góp của các học sinh chung tay sưu tầm, một ngày nọ, thầy giáo trẻ, không một xu dính túi, sung sướng nhìn thấy trên giá ở hiệu sách Nhân dân thành phố Vinh cuốn sách Câu đố Việt Nam của tác giả Ninh Viết Giao. Tôi may mắn có mặt trong đám học trò nhà quê chứng kiến những ngày thầy trò cả trường cấp 3 Huỳnh Thúc Kháng mừng sự kiện người thầy trẻ của mình đã có sách được in.

Ninh Viết Giao: Ngài xứ Thanh nên danh xứ Nghệ - ảnh 1
PGS. Ninh Viết Giao và nhà văn Ngô Thảo
 

60 năm qua, niềm tự hào của thế hệ học sinh chúng tôi, về trường cấp 3 Huỳnh Thúc Kháng, về những người Thầy dạo ấy, trong đó có thầy Ninh Viết Giao vẫn là nguồn cội của mọi cuộc gặp gỡ mà nhân sự đang vơi cạn dần. Cũng lạ, hầu hết các thầy ngày ấy sau này đều chuyển lên dạy các trường đại học hay cấp 3 ở Hà Nội, TP.HCM: Về văn có các thầy: Nguyễn Đức Bính (tác giả hai bài chân dung từng gây sửng sốt trên văn đàn: Người Cổ nguyệt- Chuyện Xuân Hương, Ngô Tất Tố như tôi đã biết), Hoàng Triều, Trần Đình Hượu, Nguyễn Đức Nam, Hoàng Thiệu Khang, Tôn Gia Các, Đinh Xuân Hiền… Chỉ riêng thầy Ninh Viết Giao là vẫn kiên trì bám trụ. Thực ra, ông dạy ở trường HTK chỉ có 4 niên khóa, nhưng trong thời gian không dài đó, ông đã kịp thực thi lời dặn của thầy về sưu tầm và tìm hiểu văn học dân gian theo phương thức riêng của mình: Huy động sự đóng góp của học sinh. Dạo đó, cả tỉnh Nghệ An và mấy huyện phía bắc Hà Tĩnh chỉ có một trường cấp 3. Một nhiệm vụ được Nhà trường giao cho học sinh trong các dịp được nghỉ là về quê sưu tầm văn học dân gian ở ngay địa phương của mình. Sau mấy năm kháng chiến, rồi cao trào cải cách ruộng đất, đền thờ, miếu mạo, bị biến thành kho phân hay chuồng bò của HTX, những tàn tích của chế độ phong kiến bị quét sạch, nhiều tủ sách cổ quý giá bị đốt hay vứt bỏ. Cùng với sự tàn phá ký ức bởi thời gian, thì ý thức của người dân được giác ngộ, chủ động thanh lý không thương tiếc những di sản văn hóa xưa đọng, bám vào ký ức, vốn văn hóa phi vật thể giàu có ở Xứ Nghệ đã có thời ngỡ được quét sạch. Cho nên, khi thầy đặt vấn đề cho học sinh sưu tầm ca dao, hò, vè, ví dặm… không phải dễ được thầy và cả trò chấp nhận. Cho đến những năm chống Mỹ, khi thầy được giải phóng mọi công việc hành chính, có mấy năm đi khắp các xóm làng miền xuôi, thôn bản miền ngược Xứ Nghệ, trực tiếp sưu tầm và thẩm tra, đối chiếu, xác minh lại các nguồn tư liệu, cũng nhiều lần bị bắt bớ, xét hỏi, tra vấn: Tại sao cả nước đang dốc lòng cho đánh Mỹ, lại có người đi tìm hỏi những câu hát hò xưa cũ để làm gì? Có lợi dụng moi móc tin tức, kích động nói xấu chế độ, nói xấu cán bộ không? Có phải lần mò các địa chỉ bí mật quân sự để chỉ điểm cho Mỹ bắn phá không? Dù đã có giấy giới thiệu của cấp Tỉnh, lần nào Thầy cũng phải nhờ đến các học trò đang làm các chức vụ quan trọng khắp tỉnh, huyện, xã, hay giáo viên cấp 2, cấp 1 ở ngay địa bàn giải thoát. Sau mấy năm dạy cấp 3, do lý do sức khỏe, thầy được cho nghỉ, rồi điều về trường Sư phạm trung học vừa dạy học, vừa làm công tác bồi dưỡng giáo viên. Trên cơ sở những cuốn sách đã được xuất bản, như Hát phường vải (1961), Hát giặm Nghệ Tĩnh (cộng tác với Nguyễn Đổng Chi, 1962) Vè Nghệ Tĩnh, Truyên Phương Hoa (1964), nhìn thấy khả năng của Thầy, và trầm tích văn hóa dân gian xứ Nghệ, Tỉnh ủy Nghệ An đã đưa ông về Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng, với nhiệm vụ sưu tầm thơ văn yêu nước và cách mạng, cũng như văn hóa dân gian. Tận dụng thời gian và điều kiện, trong những năm chiến tranh ác liệt nhất (1966-1972), Ông đã lăn lộn khắp hang cùng, xóm vắng, vừa tuyên truyền, giới thiệu, tổ chức trò chuyện để khơi gợi tình yêu quê hương, truyền thống văn hóa và cách mạng, vừa lắng nghe các nhân chứng cung cấp thêm tư liệu, cứ liệu cho các văn bản đã sưu tầm. Nhờ tài thuyết khách của ông, từ hoài nghi, cảnh giác, nhiều nơi, bà con đã cùng ông ôn, dựng lại không gian hoạt động lễ hội xưa, để những câu ca, vè, ví, dặm, phường vải tưởng bị vĩnh viễn bị vùi lấp bỗng bất thần được nhớ lại. Xuất phát từ văn học dân gian, khi đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu, ông mới thấy mối gắn kết giữa văn hóa, địa lý, lịch sử, phong tục, tập quán… và xác định: Một người nghiên cứu văn học dân gian, muốn đi xa, đi dài thì phải nhanh chóng trở thành một nhà địa phương học. Tự thấy vốn kiến thức hạn chế của mình, ông đã phải tìm nhiều cách để trang bị thêm những hiểu biết về triết học, lịch sử, dân tộc học, tôn giáo, thần tích. Nhờ thế khi có điều kiện, hàng loạt tập sách liên quan đến các loại hình văn học dân gian, văn hóa, địa lý, lịch sử của tỉnh, các huyện, các dân tộc thiểu số đã được ông trực tiếp biên soạn và tổ chức thực hiện: Thơ văn Xô Viết Nghệ Tĩnh, Nghệ Tĩnh trong Tổ quốc Việt Nam, Thơ văn nhà Nho xứ Nghệ, Kho tàng truyện kể dân gian Xứ Nghệ, Kho tàng Ca dao Xứ Nghệ, Truyện cổ Thái, Kho tàng vè Xứ Nghệ, Tục thờ Thần và Thần tích Xứ Nghệ. Cho đến nay, đã có gần 60 đầu sách liên quan đến văn hóa Xứ Nghệ của ông đã được xuất bản, dù 15 năm cuối phải chống chọi với căn bệnh hiểm nghèo. Đánh giá đúng công lao và giá trị khoa học các công trình của Ông, ngay từ năm 1984, ông là người thầy giáo cấp 3 duy nhất ở địa phương được phong hàm Giáo sư cấp 1 (nay gọi là Phó Giáo Sư), và được tặng Giải thưởng Nhà nước về VHNT đợt 1 năm 2001.

Gần 60 năm, kiên trì bám trụ ở một địa phương, với khả năng và năng suất lao động kiên định, kiên nhẫn, nổ lực, có phương pháp khoa học, Thầy Ninh Viết Giao đã có công đầu làm hiển lộ và cố định kho báu văn hóa tinh thần phong phú, giàu bản sắc của Xứ Nghệ. Những ngày cuối, tới thăm, thầy còn đưa ra giới thiệu hàng vạn trang bản thảo đã hoàn thành mong có ngày được in.

01/5/2017

Nhà văn Ngô Thảo

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác