Những tấm lòng bè bạn của 40 năm trước . . .

Xuân Phượng

(Toquoc) - Pari, Mùa đông năm 2006. Trong nghĩa trang Mont Parnasse phủ đầy sương lạnh, Marceline Loridan và tôi đến viếng mộ Joriv Jvenrs.

Nhà điện ảnh cách mạng lừng danh thế giới đã từng làm trên hơn mươi bộ phim tài liệu về các
Những tấm lòng bè bạn của 40 năm trước . . . - ảnh 1
Đạo diễn Joriv Jvenrs và người bạn đời của ông Marceline Loridan
cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở Indonesia, Tây Ban Nha, Trung Quốc, Việt Nam… đã yên nghỉ tại nơi này trên 18 năm qua. Dòng người viếng thăm ông tít châu Á, châu Âu, châu Phi, châu Mỹ vẫn không dứt. Đứng quanh ngôi mộ, những ngọn nến lung linh trong sương, những bó hoa tươi, những tấm thiệp nhỏ kín đáo nép bên nhau. "Con đến thăm thầy", "Mãi mãi nhớ ơn", “Joreis, người thầy bất tứ của chúng con", “Mãi mãi sống trong lòng em”…

Trở về ngôi nhà số 61 đường Satnt Fères, nơi ở cuối cùng của người "Hà Lan bay" Joris Ivenr người bạn đời thân yêu đã từng cùng Joris làm nhiều phim, đã chứng kiến những giây phút cuối cùng của Jroris 1 người phụ nữ Do Thái tay còn nguyên vết chàm thích số hiệu trong một trại tập trung tử thần của Phát xít Đức, từ từ mở một ngăn kéo.

- "Phượng hãy xem những giấy này".

- Một tờ biên lai đã vàng ố của một ngân hàng Pháp năm 1967 chúng nhận ông bà Jvenrs đã cầm cố ngôi nhà 61 đường Saint Pères, Paris 6.

Marceline kể lại: "Muốn sang Việt Nam vào năm ấy chúng tôi không còn cách nào khác. Joris đang ngồi không yên trước màn hình TV khi xem những cảnh bom đạn chết chóc ớ Miền Bắc Việt Nam. Joris đã gặp nhà quay phim Roger Pic mới từ Hà Nội trở về. Chúng tôi bàn tính thâu đêm. Phải tìm mọi cách để có tiền sang Việt Nam ngay, để quay những thước phim ở nơi bị bom đạn nhiều nhất ở Việt Nam. Mà các bạn đang vô cùng thiếu thốn, không thể là một gánh nặng cho các bạn được".

Vào một buổi tôi năm 1967, khi ra sân bay đón hai nhà điện ảnh lừng danh thế giới về làm phim tài liệu này, nhìn thấy Marceline mặc váy ngắn, đi giày ủng cao gót, mái tóc hung đó óng ả đi bên cạnh Joris tóc bạc trắng, mắt sáng, nụ cười trẻ trung, khi nhìn họ tươi cười trong tay bạn bè điện ảnh, và sau đó, ở dinh chủ Tịch, khi nhìn Bác Hồ ôm chặt Ivens vào lòng, không bao giờ tôi có thể nghĩ là họ đã hy sinh tài sản cuối cùng của mình, đã từ giã Faris yên bình để tự nguyện đi vào nơi đầy chết chóc hiểm nguy,

Marceline nói rất nhẹ nhàng : "Phải đến 18 năm sau Joris ra đi, tôi mới đưa tờ giấy này đến Phượng để Phượng và bạn bè hiểu thêm tấm lòng và tình cảm của chúng tôi đối với Việt Nam. Lúc còn sống Joris cấm không được tiết lộ việc này với các bạn Việt Nam”.

Cầm tờ giấy mỏng tang, vàng ố trong tay, tôi nghẹn ngào không cầm được nước mắt.

Tập giấy thứ hai đánh bằng máy chữ kiểu 40 năm trước in trên giấy pelure màu trắng đục.

Marceline tặng tôi và đồng ý cho tôi dịch lại.

Những tấm lòng bè bạn của 40 năm trước . . . - ảnh 2Khi những dòng chữ sau đây đến với các bạn, tôi tin là thế hệ những người vào tuổi 80 như tôi có quyền tự hào nhớ lại thời tuổi trẻ hiên ngang mặt đối mặt với bom đạn của kẻ thù, những bạn trẻ sẽ biết thêm vài nét về một thế hệ bạn bè Quốc tế thầm lặng anh dũng hy sinh cho mảnh đất Việt Nam. Và nhất là một lời tri ân đến những người bạn Quốc tế, đến những đồng nghiệp thân thiết của chúng tôi đã ngã xuống trong cuộc chiến tranh này.

Nhớ Khuê, người bạn đã cùng chúng tôi chia nhau những củ sắn dưới địa đạo, người đã từng cười vang cả hầm sâu trong khi máy bay Mỹ gào rú trên không. Trong một đêm qua phà Quán Hầu, một mảnh bom Mỹ đã găm vào ngực anh, máu chảy loang lổ cả cuộn phim anh ôm trên ngực. Năm ấy Khuê trạc độ 35 tuổi. Khi về tráng và in cuộn phim đẫm máu ấy tại trưởng Phim Tài Liệu Thời sự Trung ương, những vệt phim nhuộm máu của Khuê chạy ngoằn nghèo hiện dài ở một góc màn anh trước mắt Joris, trước mắt Marceline, trước mắt chúng tôi, . . .

LỜI CHỨNG CỦA MARCELINE LORIDAN, NHÀ ĐIỆN ẢNH QUỐC TỊCH PHÁP,

NHÂN DANH CÁ NHÂN MÌNH VÀ NHÂN DANH JOIUS IVENS NHÀ ĐIỆN ẢNH LỪNG DANH THẾ GIỚI , TRƯỚC TÒA ÁN RUSSELL

Thưa ông Chủ tịch , thưa Quý ông Thành Viên của Tòa án

Thưa Quý ông , thưa Quý Bà,

Tôi xin đứng nên làm nhân chứng nhân danh cho Joris Ivens mà sự nghiệp của ông - một nhà điện ảnh cách mạng không cần phải tóm tắt ở đây, và nhân danh cả cá nhân tôi. Tôi đã là người trợ lý cho ông. Chúng tôi đã ở 5 tháng rưỡi ở Miền Bắc Việt Nam , đã ở 2 tháng dưới mặt đất trong khu phi quân sự dọc theo vĩ tuyến 17, từ đầu tháng 5 đến đầu tháng 7 năm 1967 .

Tôi sẽ không nói ra đây về tổng số những cuộc thả bom mà chúng tôi đã chịu đựng, cũng không nói về tổng số những người chết, những người bị thương những cuộc tàn phá ở phía Bắc dòng sông; Tôi cũng không đề cập đến việc Mỹ đã sử dụng những hơi độc, những bom lân tinh, những bom bi,v.v. . . Tôi có thể nói rằng chưa bao giờ chúng tôi có thể đứng yên được năm phút mà không nghe một tiếng bom nổ hoặc ở gần hoặc ở xa chúng tôi. Ban đêm chúng tôi không thể nào mà ngủ được vì hàng trăm máy bay Mỹ lượn quanh bầu trời.

Lời chứng của chúng tôi hướng vào những cuộc càn quét có hệ thống và việc lùa vào trại tập trung tất cả dân làng đang sinh sống ven bờ nam sông Bến Hải dọc theo vĩ tuyến 17.

Ngày 18 tháng 5 năm 1967, bằng tàu thủy và máy bay trực thăng, 5.000 Thủy quân lục chiến Mỹ và 10 000 quân đội của chính quyền Sài Gòn đã đổ bộ vào bờ Nam ven sông cửa Tùng. Những ngày trước cuộc đổ bộ này đã tàn bạo một cách hiếm thấy. Ờ bờ Bắc, chúng tôi đã phải nằm lý nhiều ngày ở dưới địa đạo sâu thẳm, ở bờ Nam dân chúng đã bị khủng bố buộc họ phải phải rời làng. Nhiều truyền đơn được ném xuống, hăm dọa dân chủng sẽ bị hủy diệt hoàn toàn nếu họ không chịu rời bỏ khu phi quân sự.

Những mục tiêu chính của Mỹ là:

- Nới lỏng vòng vây của quân Giải Phóng xung quanh căn cứ Mỹ tại Cồn Tiên,

- Tạo thành một khu trắng "dọc theo bờ sông Bến Hải trong khu phi quân sự bằng cách san bằng có hệ thống tất cả những ngôi làng ở xung quanh và đày tất cả dân chúng vào những trại tập trung.

- Mục đích lâu dài hơn là thành lập cái mà Mỹ gọi là vành đai phòng thủ Mac Namara.

Mỹ bắt đầu chiến dịch này vào những ngôi làng gần cửa sông và tìm cách để tiến gần đến biên giới của Lào.

Bằng những phương tiện tự tạo, chúng tôi đã đến bờ Nam để tìm ra sự thật và là những nhân chứng tai nghe mắt thấy để chúng kiến những gì đã xảy ra ở những làng ấy. Ở đây, tôi xin phép được nêu lên một bài báo mà tôi vừa viết xong ở Pháp.Trong bài báo này tôi kể lại những gì tôi đã thấy:

Chúng tôi đang ở vĩ tuyến 17. Những xác người bị mắc vào rễ cây nổi lềnh bềnh trên sông. Gần bờ, xác một bé gái bị bắn nát. Họ đều bị máy bay trực thăng Mỹ nhả đạn xuống khi họ tìm cách vượt qua bờ Bắc nhằm trốn chạy những cảnh địa ngục của bom đạn và càn quét. Tất cả ở đây không còn gì nữa, những xác nhà cháy, hàng đống tro. Ta thấy ngay rằng dân chúng đã trốn chạy, và bỏ lại tất cả. Vài cái bát còn sót lại một ít cơm. Gà, vịt, heo bị bắn chết. Xác vài con bò bụng phình hơi bốc mùi hôi thối. Mùi của tử khí, những ngôi làng vắng hẳn cuộc sống con người. Máy bay Mỹ xẹt qua trên đầu chúng tôi. Chúng tôi vội núp dưới những gốc cây. Tiếng xe tăng gầm rú cách chỗ chúng tôi khoảng chừng 2km. Một vật gì đó chói lấp lánh dưới tia nắng mặt trời. Tôi lượm nó lên. Đó là một mảnh nhôm ở vỏ bọc của một bom Napalm. Hàng nghìn vỏ đạn nằm ngổn ngang trên mặt đất, những mảnh vỡ của đạn Rocket. Cách xa một chút là xác của một ngôi chùa. Một con chó lông đầy than tro đang bước lang thang. Nhiều ngôi nhà khác bị bắn phá tứ tung, sắp đổ, cháy thành than. Một người đàn bà lớn tuổi đang loay hoay tìm kiếm trong đống tro. Khi thấy chúng tôi, bà ta tiến đến hỏi chúng tôi là ai rồi bà nói: "Hãy nói hết sự thật về tất cả những gì mà bọn Mỹ đã làm ở đây, phải nói thật hết sự thật. Chúng nó đã tan phá, đã hủy diệt. Các con tôi cũng bị lạc không biết ở đâu: Chúng nó bị Mỹ bắt lên máy bay trực thăng. Lúa đã đến độ chín, lúa ra đẹp nhưng chúng tôi không gặt được vì bọn Mỹ đã dùng vòi phun lứa đốt cháy tất cả.

Tất cả những làng mạc mà chúng tôi đã đi qua cũng đều bị san bằng hoàn toàn hoặc đang bốc cháy.

Trong một làng ở bờ Bắc, nơi chúng tôi trơ lại, chúng tôi thấy hàng nghìn người chạy nạn, trong đó có 254 trẻ em dưới 12 tuổi, 307 em trên 12 tuổi, đa phần các em đã chạy trốn không có bố mẹ. Họ đã lội băng qua sông để tránh khỏi bị đẩy vào các trại tập trung nơi mà Mỹ có kế hoạch lùa dân chúng của những ngôi làng xung quanh khu phi quân sự. Trong làng này có 1.000 người tị nạn, trong các làng lân cận có trên 7.000 người. Họ đã tìm mọi cách để trốn chạy. Nhiều người đã bị máy bay trực thăng bắn chết trong khi băng qua sông, nhiều người khác đã bị chết đuối vì không biết bơi. Đối với họ bờ Bắc đã bảo vệ họ. Người bờ Bắc đã quyên góp gạo, rau, áo quần để giúp đỡ họ. Người bờ Bắc cũng đã dồn lại để nhường thêm chỗ cho người bờ Nam trong những căn hầm chật hẹp của mình.

Trong cuộn phim mà tôi đang trình bày với Quý ông ,Quý Bà là trích đoạn 10 phút của một phim tài liệu dài 2 giờ do Joris Ivens đạo diễn. Phim mang tên :"VỸ TUYẾN l7.". Thoạt đầu là những hình ảnh tàn phá làng mạc ở bờ Nam vỹ tuyến 17. Sau đó một bà già kể với lực lượng quân Giải Phóng về tất cả những gì bà đã phải chịu đựng. Sau đó là câu chuyên của những cuộc tàn phá hủy diệt. Cảnh tiếp là lời nói của những nhân chứng ở bờ Nam đã chạy trốn được sang bờ Bắc.

Đoan phim này chỉ là trích đoạn của các cuộc phỏng vấn, toàn bộ các chứng cứ đã được đánh máy và được trao lại cho Tòa án Russell.


LỜI CỦA CÁC CUỘC PHỎNG VĂN ĐÃ CÓ TRONG PHIM :

Người đàn bà nói:

Chúng tôi đang ngủ khi chúng nó bắn trên đầu chúng tôi. Tụi giặc cướp tràn đến, mọi người đều bỏ chạy. Có những người cứ trốn lý trong nhà. Cả buổi sáng chúng nó không nói gì cả; vào buổi trưa chúng nó bắt chúng tôi phải đi nếu không Mỹ sẽ thả bom san bằng tất cả. Chúng tôi nói :" Tại sao vào Giêng, Hai khi lúa chưa chín các ông không đuổi chúng tôi đi? Bây giờ lúa đã chín chúng tôi phải ở lại đây để có lúa gạo ăn"

Có những cụ già nói: “Đây là quê hương tôi chẳng thà chết còn hơn là rời khỏi nơi này. Bọn chúng nó nói: "À tụi bay đấu tranh à ? Đừng nghe tụi Việt cộng xúi dục bay đấu tranh". Bọn chúng bắt trói chúng tôi rồi hai đứa kẻo tôi ra hai phía. Chúng đánh đập người già và con gái rồi nói bay cứ tiếp tục đấu tranh đi "

Người đàn bà nói: - Ngày hôm đó chúng nó phá hủy hết cả. Ngoài đồng lúa thật là tốt xe tăng M113 đã nghiến nát hết tất cả.

Người đàn ông nói: Bọn lính Mỹ nó đến. Tôi đấu tranh để không đi vì đây là quê cha đất tổ. Tôi sống ở đây mà cũng chết ở đây.

Người đàn bà nói: Nếu tôi chết thì chết trên đất đai của tổ tiên. Bọn chúng nói : “ Bay nói như lời tuyên truyền giả dối của bọn Việt cộng. Chúng nó dạy cho bay điều đó ". Dân chúng trả lời lại : “ Đây không phải là tuyên truyền Việt cộng nhưng bây giờ lúa đã chín rồi hãy để cho chúng tôi có lúa gạo để ăn cái đã ”.

Người đàn bà nói: Khi chúng tôi đến đây, trên người không có một cái gì cả. Chính những bà con bờ Bắc đã giúp đỡ chứng tôi rất nhiều.

Người đàn ông nói: Chúng nó đem xe tăng đến đây đốt lúa, đốt nhà nên chúng tôi tìm mọi cách để trốn vê bờ Bắc. Có người thì đem được cả gia đình theo, nhưng có người thì chồng ở bên này còn vợ ở bờ Nam. Con mất cha, bố mẹ mất con .

Người đàn bà nói: 3 giờ chiều nay tôi đã ra đi mà không đem theo được một chút gì cả. Chỉ độc một cái áo trên người. Tôi đem theo mấy cháu nhỏ vào ấp số 3. Ờ đó du kích đã đến và tôi có thể giao mấy đứa con tôi nhờ họ trông nom giúp. Vậy là gia đình li tán , mỗi bờ một nửa.

Người đàn bà nói: Tụi nó hét lên:"Tao đốt nhà của tụi bay“
Tui nói: “ Nếu các ông đốt thì chúng tôi cũng đốt .

Đây là nhà của chúng tôi, chúng tôi có quyền tự đốt nhà mình “

Tụi hắn đánh đập, trói chúng tôi lại và bắt dân làng phải đi theo chúng.

Người đàn bà nói : Chúng nó đã giết hết trâu bò, cà chua, ớt chưa chín đã bị nghiến nát. Chúng nó phá hủy tất cả .

Người đàn bà nói : Bọn trẻ con chạy hoảng loạn ngoài đường. Bọn chúng lấy báng súng đánh vào dân làng. Tôi có hai con gà đang ấp trứng. Hai đứa vô nhà tôi và lấy tất cả các trứng đi, hai đứa khác chụp hai con gà mái và cho vào túi.

Người đàn ông nói : Gia đình bị li tán, chồng thì ở bờ Nam, vợ thì ở bờ Bắc không biết ở nơi nào mà tìm. Con cái người thân của tôi bây giờ ở đâu, nói đến đây hai dòng nước mắt chảy dài. Bao giờ lại đoàn tụ lại được với nhau?

Người đàn bà nói : Bọn đế quốc Mỹ phá sạch, giết sạch không bao giờ chúng tôi quên được những tội ác này.

Người đàn bà nói : Không bao giờ chúng tôi quên được lòng căm thù đối với chúng.

Người đàn ông nói : Mặt trận kêu gọi chúng tôi làm việc tốt để có cuộc sống tốt đẹp hơn trong khi bọn Mỹ phá hoại tất cả của chúng tôi.

Nguời đàn ông nói : Hiện nay thì chúng tôi đang tạm trú ờ bờ Bắc nhưng chỉ một thời gian thôi. Sau này chúng tôi sẽ trở về làng của mình và sẽ bám vào đất để sống .

Người đàn ông nói : Bắc và Nam đều chung một mái nhà.


MARCELINE LORIDAN

Xuân Phượng dịch

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác