Những nhà văn nổi tiếng cầm tinh con Rắn


(Toquoc)- Năm sinh của mỗi người được phân biệt dựa theo 10 Thiên can và 12 Địa chi. Những người sinh cùng Địa chi thường có những tính cách chung nhất định. Nhưng sự khác biệt của Thiên can có thể ảnh hưởng rất nhiều tới tính cách của mỗi người. Sẽ là hoàn chỉnh hơn nếu tính đến ảnh hưởng Ngũ hành của cả Can và Chi lên tính cách mỗi người. Đối với các nghệ sĩ nổi tiếng, sự chi phối của Thiên can và Địa chi lên tính cách cá nhân cũng như phong cách tác giả có vẻ còn rõ nét hơn.

 

Thi Thánh nổi tiếng “ngông”

Những nhà văn nổi tiếng cầm tinh con Rắn - ảnh 1

Nhà thơ Cao Bá Quát sinh năm Kỷ Tỵ 1809, mất năm Giáp Dần 1854. Ông là danh sĩ đời Tự Đức, quê làng Phú Thị, xã Quyết Chiến, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội và là anh em sinh đôi với Cao Bá Đạt, người nổi tiếng văn chương một thời. Từ nhỏ Cao Bá Quát đã nổi tiếng hay chữ. Có lẽ so với các thi sĩ đương thời, cũng như hiện nay danh sĩ họ Cao là người có nhiều giai thoại vào bậc nhất nhì. Nhiều nhân vật nổi tiếng như Nguyễn Hàm Ninh, Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Văn Giai… đều là bạn rất thân của thi sĩ họ Cao. Vì thế, qua giai thoại về ông, vua Tự Đức dù có ra roi phạt ông vì tội “khinh quân”, nhưng do trọng tài thi sĩ họ Cao nên chỉ giơ cao mà đánh khẽ vậy.

Cao Bá Quát, ngoài thơ hay, còn là một người uyên bác. Giai thoại nước Nam có bốn bồ chữ, nhưng danh sĩ họ Cao lại chiếm tới hai bồ. Thế nhưng, theo các nhà nghiên cứu, Cao Bá Quát là người cô đơn nhất đi giữa dòng đời. Bởi lối học, lối nghĩ, lối viết, lối hiểu đời của ông chẳng giống ai, nên có người vì không hiểu thường bảo ông “ngông”, bên cạnh danh xưng Thi Thánh chỉ dành riêng cho ông. Có lẽ vì thơ ông hay, rất hay, nên dù mắc tội đại nghịch bị chu di đến tam tộc, vẫn không thể làm “loãng” thơ ông được. Vậy nên “Cao Chu thần thi tập” vẫn còn lưu lại mãi đến sau xa. Có người nói thơ hay, thì đời giữ hộ.

Thơ Cao Bá Quát toát ra từ tứ thơ mạnh mẽ, hào sảng, mà hầu như ở bài thơ nào của ông, chúng ta cũng dễ dàng cảm nhận được điều ấy: “Sóng biển trào lên như đầu bạc lô nhô/ Gió giận dữ đánh chìm cả những chiếc thuyền to/ Chớp giật sấm ran ai nấy đều xanh mắt/ Giữa cảnh, chim âu vẫn nhởn nhơ”. Nhìn dòng sông Hương như một thanh kiếm dựng giữa trời xanh thì quả chỉ có thi sĩ họ Cao mới có cái nhìn như vậy: “Muôn núi quanh co diễu cánh đồng/ Trời xanh gươm dựng một dòng sông/ Giặm đò văng vẳng vài chài cá/ Co cẳng lim dim mấy chú mòng”… Còn đây là Hòn Vọng Phu: “Đứng sững đầu non đỉnh tuyệt vời/ Phấn son phai lạt biết vì ai?/ Người nơi nao vắng không tin tức/ Đường mấy trùng xa cách biển trời!

 

Ông đồ tân thời bậc nhất uyên thâm

Những nhà văn nổi tiếng cầm tinh con Rắn - ảnh 2

Nhà văn Ngô Tất Tố sinh năm Quý Tỵ 1893 (có sách nói 1894) ở làng Lộc Hà, tổng Hội Phụ, phủ Từ Sơn, Bắc Ninh (nay là thôn Lộc Hà, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội). Ông là con thứ hai, nhưng là trưởng nam trong một gia đình có bảy anh chị em, ba trai, bốn gái. Lúc còn nhỏ Ngô Tất Tố được thụ hưởng một nền giáo dục Nho học. Từ năm 1898, Ngô Tất Tố được ông nội dạy vỡ lòng chữ Hán ở quê, sau đó ông theo học ở nhiều làng quê trong vùng. Năm 1912, Ngô Tất Tố học tư chữ Pháp một thời gian ngắn và bắt đầu tham dự các kỳ thi truyền thống lúc bấy giờ vẫn còn được triều đình nhà Nguyễn tổ chức. Ông đỗ kỳ sát hạch, nhưng thi hương bị hỏng ở kỳ đệ nhất. Đến năm 1915, ông đỗ đầu kỳ khảo hạch toàn tỉnh Bắc Ninh, nên được gọi là đầu xứ Tố, rồi thi hương lần thứ hai, khoa Ất Mão, cũng là khoa thi hương cuối cùng ở Bắc Kỳ. Ông qua được kỳ đệ nhất, nhưng bị hỏng ở kỳ đệ nhị...

Trong thời gian những năm 1936-1939, Ngô Tất Tố viết nhiều tác phẩm chỉ trích quan lại tham nhũng phong kiến. Hà Văn Đức, trong bài viết Ngô Tất Tố - Nhà văn tin cậy của nông dân (báo Nhân dân, ngày 10 tháng 6 năm 1997), cho biết năm 1935, Ngô Tất Tố từng bị chánh sở mật thám Hà Nội gọi lên “để mua chuộc”, nhưng ông từ chối. Ngoài ra, nhiều lần Ngô Tất Tố bị cấm viết báo và bị trục xuất khỏi Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định. Năm 1939, chính quyền thuộc địa ra lệnh cấm tác phẩm Tắt đèn. Nhà Ngô Tất Tố ở Bắc Ninh bị nhà chức trách khám xét và ông bị bắt giam ở Hà Nội vài tháng. Tiểu thuyết “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố sau này được NSND Phạm Văn Khoa chuyển thể thành tác phẩm điện ảnh đổi tên “Chị Dậu”. Cùng với “Lửa trung tuyến” (1961), “Chị Dậu” (1980) và “Làng Vũ Đại ngày ấy” (1982) trở thành ba tác phẩm kinh điển của điện ảnh Việt Nam đã giúp Đạo diễn, NSND Phạm Văn Khoa nhận Giải thưởng Nhà nước (2007) về Văn học Nghệ thuật

Năm 1945, khi Cách mạng tháng Tám nổ ra, Ngô Tất Tố tham gia vào Ủy ban giải phóng ở xã Lộc Hà quê ông. Ngô Tất Tố là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng chưa rõ ông được kết nạp Đảng năm nào. Năm 1946, Ông gia nhập Hội văn hóa cứu quốc và lên Việt Bắc tham gia kháng chiến chống Pháp. Thời gian này, Ngô Tất Tố đảm nhiệm cương vị Chi hội trưởng Chi hội Văn nghệ Việt Bắc, hoạt động ở Sở thông tin khu XII, tham gia viết các báo Cứu quốc khu XII, Thông tin khu XII, tạp chí Văn nghệ, báo Cứu quốc trung ương... Ngoài ra, ông còn viết văn. Ngô Tất Tố được bầu vào vị trí ủy viên Ban chấp hành Hội Văn nghệ Việt Nam tại đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ nhất (1948).

Tính chất giao thời trong ngòi bút của Ngô Tất Tố thể hiện rõ nét trong tác phẩm “Lều chõng”. Tiểu thuyết này được đăng tải dần trên báo Thời vụ từ năm 1939 và sau đó được xuất bản thành sách năm 1941. Lều chõng ra đời trong bối cảnh đang dấy lên phong trào phục cổ, kêu gọi trở lại với nền giáo hóa cũ, những giá trị tinh thần và tôn ti trật tự của giáo lý Khổng Mạnh, những tập tục cũ ở nông thôn, trên quan trường và ở các gia đình phong kiến.

Lều chõng ghi lại một thiên phóng sự tiểu thuyết về chế độ giáo dục và khoa cử phong kiến trong những ngày cuối cùng, dưới triều Nguyễn, miêu tả tấn bi kịch của những nhà nho có tài trong xã hội phong kiến và được coi là lời chỉ trích sâu sắc những tồn tại của nền văn hóa cũ. Trong lời giới thiệu Lều chõng (nhà xuất bản Văn học, 2002), có đoạn: “Tác phẩm của Ngô Tất Tố như một lời cải chính, hơn thế, một bản tố cáo chế độ khoa cử lỗi thời và thấp thoáng sau mỗi chương, mỗi hàng chữ là một nụ cười chế giễu, có khi là tiếng cười ra nước mắt”.

Tuy nhiên, Lều chõng không chỉ mang ý nghĩa phê phán. Vương Trí Nhàn nhận xét: “Mặc dù sự khuôn phép trong thi cử được miêu tả trong Lều chõng như một cái gì cực kỳ vô lý, song trong cái khung tưởng rất chật hẹp đó, nhân vật Đào Vân Hạc... vẫn thanh thoát tự do trong cách sống”, cho thấy “cái nhìn lưu luyến với quá khứ” của chính Ngô Tất Tố. Hơn thế, đó không phải chì là sự tiếc thương xoàng xĩnh, nó cho thấy “sự cắt đứt của Ngô Tất Tố, mà cũng là của nhiều người đương thời, với quá khứ, sự thích ứng với hoàn cảnh mới, nền văn hoá mới, là quyết liệt, song cũng là có tình có lý đến như thế nào”.

Sự thích ứng của Ngô Tất Tố đã mang đến những kết quả rõ rệt trên con đường văn nghiệp của ông. Trong “Nhà văn hiện đại”, nhà phê bình Vũ Ngọc Phan nhận xét về sự thay đổi ở Ngô Tất Tố: “ông vào số những nhà Hán học đã chịu ảnh hưởng văn học Âu Tây và được người ta kể vào hạng nhà nho có óc phê bình, có trí xét đoán có tư tưởng mới”. Tóm lại, qua những trang viết của mình, Ngô Tất Tố cho thấy ông là đại diện tiêu biểu cho những thay đổi của một lớp người trí thức trong giai đoạn giao thời, sự dung hòa tương thích giữa nền văn hóa mới và cũ.

 

Người đầu tiên cho “anh Chí” đi lùi

Những nhà văn nổi tiếng cầm tinh con Rắn - ảnh 3

Nhà văn Nam Cao sinh năm Đinh Tỵ 1917 tại làng Đại Hoàng, xã Nhân Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Thực ra Nam Cao là bút danh của nhà truyện ngắn tài ba Nguyễn Hữu Trí. Trước Cách mạng tháng Tám, ông dạy học tư và sáng tác văn chương. Năm 1943, ông gia nhập Hội văn hóa cứu quốc, tham gia hoạt động tích cực ở quê thời kỳ Cách mạng tháng Tám. Năm 1946, Nam Cao gia nhập đoàn quân Nam tiến. Trong kháng chiến chống Pháp, ông làm công tác tuyên truyền, báo chí và văn nghệ ở Việt Bắc. Ngày 30/11/1951 ông hi sinh tại bót Hoàng Đan, Gia Viễn, Ninh Bình trên đường đi công tác vào vùng địch.

Nam Cao có nhiều truyện ngắn và truyện vừa thuộc loại đỉnh cao như “Đôi mắt”, “Giăng sáng”, “Đời thừa”...đặc biệt là bộ ba truyện vừa “Chí phèo”, “Sống mòn” và “Lão Hạc” của ông đã được NSND Phạm Văn Khoa dàn dựng thành bộ phim nhựa nổi tiếng “Làng Vũ Đại ngày ấy”, trở thành tác phẩm kinh điển của điện ảnh nước nhà. Có thể nói cách “đi lùi” để trở về bản ngã của Chí Phèo là một con đường độc đáo và đắc dụng.

Cách đi lùi để trở về bản ngã của Chí Phèo cũng là một con đường đắc dụng và độc đáo. Chí Phèo là hình tượng văn chương duy nhất về con người Việt Nam có thể đi lùi để trở về bản ngã. Xét cho cùng trong vũ trụ vô thường, thì tiến hay lùi cũng chỉ là các quy ước đầy tính chủ quan của con người. Những thước đo giá trị ấy là đúng, nhưng chỉ có thể áp dụng đối với người. Còn đối với bản thể vũ trụ nó hoàn toàn vô nghĩa. Nếu lấy con người hiện hữu làm mốc giới và bản thân con người hiện hữu ấy đã chứa sẵn phôi của bản thể vũ trụ, thì sự đạt tới bản ngã xét cho cùng chỉ là Một. Nếu có sự phân biệt nào đấy thì chỉ là các dạng thức và quá trình khác nhau tiến tới bản ngã mà thôi. Mọi con đường tiến tới bản ngã đều phải vượt qua những lẽ phải thông thường, vượt qua sự ràng buộc của các quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội, đạo đức và tôn giáo; rũ bỏ tất thảy những nhiễu nhương thường nhật. Chí Phèo đạt tới sự thắng lợi của bản ngã tự nhiên lại mang tính chất cảnh báo về giới hạn của hai trạng thái: Tồn tại và ý thức về sự tồn tại đó. Cũng vì thế nó mang tính chất phổ quát, có giá trị triết học và nhân văn sâu sắc.

Trong trò chơi ú tim săn tìm bản ngã, Chí Phèo là hình tượng duy nhất trong văn chương Việt Nam đã làm được một việc phi thường là “đi lùi để tự trở về với bản ngã chính mình”. Cuối cùng cái “lương thiện” mà Chí Phèo đòi hỏi lại chính là bản ngã đích thực, cái luôn tiềm ẩn và thường trực trong vô thức của hắn.

 

Người “hẳn hoi” trong làng thi ca Việt

Những nhà văn nổi tiếng cầm tinh con Rắn - ảnh 4

Nhà thơ Lê Đạt tên thật là Đào Công Đạt sinh ngày 10/09/1929 (Kỷ Tỵ). Về thơ, Lê Đạt tự nhận mình là phu chữ, vì thơ ông viết rất kỹ tính, cẩn thận từng câu chữ, chọn lọc, suy nghĩ và dằn vặt rất nhiều.

Lê Đạt tham gia cách mạng ngay sau khi cuộc Cách mạng tháng Tám thành công. Gần như trong suốt quá trình hoạt động ông đều công tác ở ngành Tuyên huấn, sau lên Tuyên huấn Trung Ương, trực tiếp theo dõi phong trào văn nghệ, văn hóa và giáo dục. Vì vậy ông có dịp tiếp xúc với gần như tất cả giới văn nghệ Cách mạng Việt Nam. Hòa bình lập lại năm 1954, ông về Hà Nội làm biên tập viên, bí thư chi bộ của báo Văn Nghệ, rồi được học lớp tiếp quản để về tiếp quản khu 300 ngày ở Quảng Ninh, trước khi Nhân văn-Giai phẩm bùng nổ. Năm 2007, cùng với ba nhà thơ khác là Trần Dần, Phùng Quán và Hoàng Cầm, ông được nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật.

Bình sinh, nhà thơ Lê Đạt đã vác cả cuộc đời mình ra đánh cược với số phận để đổi lấy một đường thơ không lẫn với bất kỳ ai và là con đường cho bao lớp nhà thơ đồng thời và hậu thế đi theo nếu muốn đặt chân vào “cõi thơ” đích thực. Vì thế về khía cạnh thi pháp sáng tạo, ông rất xứng đáng được tôi vinh là người hẳn hoi nhất trong làng thi ca Việt đương đại.

Có một sự thật mà không phải ai cũng biết. Đó là sau ngày Bác ra đi, nhà thơ Tố Hữu có bài thơ khóc người “Bác ơi” và sau đấy ít lâu trường ca “Theo chân Bác” của ông được công bố rộng rãi, mà những người thuộc thế hệ chúng tôi hầu như ai cũng đã từng đọc. Nhưng có một trường ca khác cũng viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh và hoàn thành vào dịp giỗ đầu của Người của nhà thơ Lê Đạt thì phải đợi 20 năm sau mới được công bố. Và cũng nên nhớ rằng, trong cuộc đời cầm bút của mình nhà thơ Lê Đạt chỉ duy nhất viết một trường ca này thôi. Điều ấy nói lên một thực tế khác là viết về Bác vô cùng khó, viết hay lại càng khó gấp trăm ngàn lần, nên không phải ai muốn cũng có thể. Bởi lẽ, ngoài tư cách là lãnh tụ Đảng, người đứng đầu Nhà nước, Bác Hồ còn là Danh nhân văn hóa thế giới. Như Nguyễn Du đã từng nói: “Văn chương sự nghiệp ngàn đời/ Dễ hay tâm sự ai người hiểu cho”. Nhà thơ Lê Đạt, ròng rã 30 năm âm thầm và chờ đợi để đến ngày trường ca “Bác” được nhà xuất bản Thanh Niên ấn hành đúng vào dịp thế giới kỷ niệm 100 năm sinh Danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh, năm 1990. Đối với ông, thế cũng là thỏa nguyện lắm rồi.

Theo chị Đào Phương Liên, con gái nhà thơ Lê Đạt trong bài viết trên báo Tuổi trẻ cuối tuần trước ngày giỗ đầu của bố, 12/4/2009, có đoạn chị nhớ lại ngày 3/9/1969, nhà trường hoãn khai giảng, con gái hỏi bố vì sao, bố Đạt nghẹn ngào, rơm rớm nước mắt và trả lời “Ông mất”. “Ông của cả nước” do vậy mà “Bố, mẹ để tang Ông”. Và đấy là cái ngày đầu tiên nhà thơ Lê Đạt bắt đầu cầm bút viết trường ca “Bác”, đến năm 1970 thì hoàn thành rồi... để đấy.

Có lẽ già Khương (nhà thơ Khương Hữu Dụng), tác giả của câu thơ nổi tiếng “Một tiếng chim kêu sáng cả rừng” và là người bạn vong niên của nhà thơ Lê Đạt, may mắn được đọc nó ngay từ khi còn là bản thảo. Già Khương còn cho biết thường giở ra đọc đi đọc lại nhiều lần trường ca “Bác”. Bởi lẽ theo già Khương, trường ca “Bác” như một tòa tháp cao, có nhiều tầng, nhiều hành lang, cầu thang, nhiều góc khuất, nên mỗi lần đọc lại khám phá thêm một điều mới lạ. Chính ông là người được nhà thơ Lê Đạt tin cậy nhờ viết Lời bạt cho trường ca này. Ông cụ đã dầy công phân tích cái hay từ khía cạnh thi pháp với kiểu cắt dán (montage) mang đậm tính chất điện ảnh và hệ pháp đa nghĩa (système polysémique) của thơ phương Tây.

Người đọc tinh ý không quá khó để có thể thấy trong ông có hai con người cùng song hành. Một nhà thơ Lê Đạt vừa cách tân, theo truyền thống của Mallarmé (Pháp), Đỗ Phủ (Trung Quốc)... và một nhà thơ Lê Đạt với tư cách là người đi tiên phong mở ra một kỷ nguyên mới cho thơ Việt đương đại. Nhà thơ hôm nay cần tiếp cận với thời thế để khắc hoạ lại bộ mặt thật của xã hội, xác định tính chất cơ bản của lịch sử: “...Lịch sử muôn đời duyệt lại/ Không ai lừa được cuộc đời...”.

Vậy là, ông phải lao vào lùng sục tận ngõ ngách của chữ và lời, của từ và tiếng để rồi ngay lập tức bỏ qua cái vỏ bên ngoài của nó, tìm đến bản chất bên trong của chữ. Với phần lớn người thơ Việt đương đại việc tìm được chữ hợp với ý mình cho một câu thơ đã là một chuyện vô cùng khó, còn nói gì đến việc tìm được bóng của chữ. Có lẽ ngoài nhà thơ Lê Đạt, từ trước đến giờ, thậm chí đến cả mai sau cũng ít ai dám nghĩ và có thể làm được cái việc như ông đã từng làm. Không chỉ riêng lĩnh vực thơ, mà cả ở truyện ngắn, đoản ngôn... mỗi con chữ ông dùng đều có một vị thế riêng, rất độc lập, nhưng cũng là giường cột như một sợi dây liên hệ nội tại tạo nên ý nghĩa liên văn bản của thơ, tạo nên các tầng giá trị ngữ nghĩa và thẩm mỹ độc đáo, mà dù ai có muốn cũng khó có thể thay chữ của ông bằng một chữ khác, nếu không muốn làm biến dạng cấu trúc câu thơ, mạch văn, sai lệch nghĩa chữ và giảm giá trị thẩm mĩ của thơ ông.

 

Ông “Văn Ngan tướng công”

Những nhà văn nổi tiếng cầm tinh con Rắn - ảnh 5

Nhà văn Vũ Tú Nam sinh năm 1929 (Kỷ Tỵ), là một trong những nhà văn được trao tặng Giải thưởng Nhà nước 2001 về Văn học Nghệ thuật. Nguyên tên khai sinh của ông là Vũ Tiến Nam, sinh ngày 5/10, tại thôn Lương Kiệt, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Nhà văn Vũ Ngọc Bình và nhà thơ Vũ Cao là hai anh ruột của ông. Thuở nhỏ Vũ Tú Nam theo học Trường Tiểu học Pháp- Việt ở thị xã Hòa Bình, sau đó lên Hà Nội tiếp tục học bậc Trung học.

Năm 1947, ông nhập ngũ. Nhờ khả năng viết văn, ông được phân công công tác tại báo Chiến sĩ (Liên khu IV), sau đó chuyển về công tác tại Báo Quân đội Nhân dân. Ông cũng là một trong những biên tập viên đầu tiên của Tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 1957.

Tháng 6 năm 1958, ông được chuyển sang công tác tại báo Văn học của Hội Nhà văn Việt Nam, được kết nạp là Hội viên. Trong năm sau đó, ông lần lượt công tác tại các vị trí: Thư ký tòa soạn báo Văn học (nay là Văn Nghệ), Phó tổng biên tập báo Văn Nghệ, Giám đốc Nhà xuất bản Tác Phẩm Mới (nay là Nhà xuất bản Hội Nhà Văn). Ông cũng được bàu làm Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam các khóa I, II, III, IV, Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam khóa IV. Nhà văn Vũ Tú Nam đã được bầu làm Đại biểu Quốc hội khóa IX.

Các tác phẩm chính của ông gồm có: “Bên dường 12” (truyện vừa, 1950, Giải nhất văn

xuôi Văn nghệ liên khu 4); “Quê hương” (truyện ngắn 1960); “Sống với thời gian hai chiều” (tập truyện, 1983); “Mùa xuân tiếng chim” (truyện ngắn, 1985 ); “Có và không có” (Tuyển thơ dịch, 2003)...

 Về đề tài thiếu nhi, năm 1963, ông phát hành truyện “Văn Ngan tướng công” được nhiều người đón nhận và được nhà văn Liên Xô Marian Tkachov dịch sang tiếng Nga và xuất bản ở Liên Xô (cũ). Cũng từ tác phẩm này mà mọi người thường gọi ông với biệt danh là “Văn Ngan tướng công”. Còn nhà thơ Xuân Sách trong “Chân dung 100 nhà văn Việt Nam” gọi ông là nhà “Văn Ngan” .

 

Người lang bang trong cõi mộng du

Những nhà văn nổi tiếng cầm tinh con Rắn - ảnh 6

Phạm Tiến Duật sinh ngày 14/01/1941 ở huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ. Cha ông là nhà giáo, dạy tiếng Hán và tiếng Pháp, còn mẹ làm ruộng. Ông tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1964, nhưng sau đó không tiếp tục với nghề giáo mà quyết định lên đường nhập ngũ. Trong thời gian này, ông sống và chiến đấu chủ yếu trên tuyến đường Trường Sơn. Đây cũng là thời gian ông sáng tác rất nhiều tác phẩm thơ nổi tiếng. Năm 1970, sau khi đoạt giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ, Phạm Tiến Duật được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam. Chiến tranh kết thúc, ông về làm việc tại Ban Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam.

Có thể nói nhu cầu được cầm súng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc khi lâm nguy đã trở thành máu thịt của cả thế hệ trẻ thời bấy giờ, Phạm Tiến Duật không phải là trường hợp ngoại lệ. Thế nhưng, còn có một lối đi khác, lối đi vào thi ca thì không phải ai cũng có cơ may như Phạm Tiến Duật. Anh tham gia chiến đấu trong tư cách một phóng viên mặt trận hơn là một người lính chiến thực thụ, nên anh chủ yếu là người chứng kiến sự ác liệt, hy sinh, nỗi đau thể xác và tinh thần của những người lính trong những năm tháng chiến tranh gian khổ và ác liệt, hơn là một sự trải nghiệm cá nhân về những nỗi đau ấy. Điều đó đã được phản ánh khá rõ trong các tác phẩm, đặc biệt là những bài thơ để lại dấu ấn trong lòng thế hệ trẻ thời bấy giờ nói riêng và công chúng yêu thích thơ ca thời chống Mỹ nói chung, đó là các bài thơ: “Lửa đèn”, “Tiểu đôi xe không kính”, “Gửi em cô thanh niên xung phong”, “Trường Sơn đông, Trường Sơn Tây” Những bài thơ này đã đưa anh lên vị trí hàng đầu của thơ ca Việt Nam thời kỳ chống Mỹ với Giải nhất cuộc thi thơ của Tuần báo Văn nghệ, năm 1970 và Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2001.

Sau này, khi chiến tranh ngày càng lùi sâu vào quá vãng, không ít người đã có ghi nhận sự lãng mạn, có khi như “lên đồng” trong thơ Phạm Tiến Duật, mà ít ai đưa ra được sự lý giải thấu đáo về hiện tượng đó. Trong giới văn nghệ sỹ, nhiều bạn văn chương cũng cho rằng Phạm Tiến Duật như một người sống lạc thời, vì dường như anh sinh ra với sứ mệnh làm một kẻ ca ngợi những người anh hùng trong thời chiến, hay ít ra anh cũng đã biết cách làm cho họ trở thành anh hùng trong thi ca của thời kỳ chống Mỹ, cứu nước. Còn anh lại nghĩ rằng, đời mình là một cuộc phiêu bạt cùng số kiếp.

Những tập thơ của Phạm Tiến Duật đã xuất bản là: “Vầng trăng quầng lửa”, “Ở hai đầu núi”, “Thơ một chặng đường”, “Nhóm lửa”, “Tiếng bom và tiếng chuông chùa”… Ngoài ra anh còn là người tham gia thực hiện gần hai chục phim tài liệu về Trường Sơn và Đường Hồ Chí Minh, viết hàng trăm bài báo về con đường huyền thoại này.

Nhưng có thể nói dấu ấn đậm nhất trong suốt hơn 40 năm cầm bút của Phạm Tiến Duật là những bài thơ được sáng tác trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ. Bởi lẽ bằng những tác phẩm nghệ thuật, anh đã nói hộ bao người và những vần thơ của anh thực sự đã trở thành niềm tự hào của nhiều thế hệ thanh niên nước ta trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc thân yêu của mình. Đấy là những gì có ý nghĩa nhất mà nhà thơ-chiến sĩ Phạm Tiến Duật đã để lại cho đời./.

Đỗ Ngọc Yên

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác