Nhớ nhà thơ Xuân Diệu

Tôi nhớ mãi lần đầu tiên gặp nhà thơ Xuân Diệu. Hồi đó, tôi đang 1 là sinh viên Văn khoa Đại học Sư phạm Vinh.

Phải nói mời được nhà thơ Xuân Diệu từ Hà Nội vào tận rừng núi Thạch Thành (Thanh Hoá) - nơi trường sơ tán trong những năm chiến tranh là một cố gắng lớn của các thầy cô khoa Văn. Mặc dù sinh ra và lớn lên ở miền quê ven biển miền Trung. nhưng do có lòng yêu thích văn chương nên tôi đã tìm đọc thơ tình Xuân Diệu khi đang còn là học sinh trung học. Thầy giáo dạy văn ưu ái và tin tưởng cho tôi mượn "Thơ thơ", "Gửi hương cho gió" của Xuân Diệu. Thầy dặn dò hết sức cẩn thận: "Em không được chuyền tay vì đây là thơ ca lãng mạn tiêu cực". Tôi chép đầy thơ tình Xuân Diệu vào sổ. Vốn nòi đa tình và lãng mạn, Xuân Diệu trở thành thần tượng tuổi hoa niên của tôi. Vì vậy, nghe tin Xuân Diệu về nói chuyện, tôi đứng ngồi không yên, phấp phỏng. hồi hộp chờ đợi. Lớp chúng tôi được phân công trang trí. Anh Lê Gia Khánh - lớp trưởng, vốn dân Hà Nội gốc, đã từng nhiều lần tiếp xúc với Xuân Diệu nên lất hiểu tính nết nhà thơ. Anh bắt chúng tôi mượn bằng được tấm phông màu trắng. Anh lựa chọn vị trí đặt bục đứng nói chuyện và đèn măng sông sao cho bóng nhà thơ phóng to lên trên nền phông. Mấy dãy ghế đầu dành cho những cô sinh viên có gương mặt khả ái... Tôi nhớ mãi giây phút Xuân Diệu bước lên bục, ông đặt tay trước ngực và gập người chào rất điệu. Nhà thơ ngắm bóng mình phóng to trên nền phông có vẻ lất hài lòng. Rồi ông rút chiếc lược trong ngực áo đưa lên đầu chải một cách hết sức tự nhiên. Nhà thơ có gương mặt chữ điền, sống mũi cao, đôi mắt to, ngời sáng lấp lánh sau cặp kính trắng. Tóc Xuân Diệu quăn bồng lên hệt như nhà thơ từng phác họa chân dung của mình "mái đầu dồn sóng Quy Nhơn". Xuân Diệu bằng xương, bằng thịt. phong độ và lãng tử hơn tôi hình dung, tưởng tượng. Tôi ngắm nhìn nhà thơ như ngắm nhìn vị thần thi ca "cất tiếng đồng sang sảng.

Xuân Diệu vào đề rất hóm hỉnh: "Nhà tôi hai bốn cột cờ/ Ai thương thì đến, ai lờ thì đi. Mấy hôm nay Xuân Diệu được các thầy cô khoa Văn trường Vinh tiếp đãi rất hậu, hai ngày một tiệc nhỏ, năm ngày một tiệc lớn. Ăn thì vậy múa gậy làm sao? Bây giờ Xuân Diệu xin múa rìu qua mắt thợ..?". Hôm ấy Xuân Diệu chủ yếu nói về vẻ đẹp của thơ ca cổ điển. Tôi chưa thấy ai nói một cách say sưa và nhiệt tình như Xuân Diệu. Ông nói rất hấp dẫn, rất ấn tượng. Ông phân tích cho chúng tôi hiểu thế nào là "thi trung hữu nhạc". Theo Xuân Diệu nhạc là một yếu tố không thể thiếu trong thơ. Nếu lược đi phần nhạc, thì chẳng khác gì cây không có hoa. Xuân Diệu trích lời Bạch Cư Dị đại ý : tình là gốc của thơ, lời là lá của thơ, nhạc là hoa của thơ, nghĩa là quả của thơ. Ông đưa ra một số câu trong Truyện Kiều như "Đùng đùng gió giục, mây vần". "ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi". "Bất bình nổi trận đùng đùng sấm vang" rồi giả thiết lược bỏ đi các từ láy gợi thanh "đùng đùng. '. "ầm ầm" thì những câu thơ trên nào có khác gì những cái xác không hồn. Theo Xuân Diệu nhà thơ có thể sử dụng âm thanh, nhạc điệu để diễn tả tâm trạng hoặc phác họa sự vật "ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi" là Nguyễn Du mượn tiếng sóng diễn tả tâm trạng hoang mang, lo sợ của nàng Kiều khi ở lầu Ngưng Bích. Còn câu "Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách" là dịch giả Tì bà hành đã sử dụng sự phối thanh để phác họa hình dáng chiếc thuyền. Ông đọc nhấn mạnh tiếng thứ nhất và hạ thấp dần. Đến bốn tiếng cuối ông lại đọc cao dần. Vừa đọc ông vừa dùng tay phác ra trước mắt chúng tôi hình dáng con thuyền trên bến Tầm Dương. Cả hội trường đồng loạt vỗ tay.

Xuân Diệu hết lời ca ngợi tài dùng chữ của cụ Nguyễn Du. ông bình một cách say sưa từ "loi thoi' trong câu "Loi thoi bờ liễu mấy cành dương quan": "loi thoi bờ liễu" chứ không phải lôi thôi; loi thoi là lá liễu so le không đều, là bờ liễu quanh co không thẳng, là tấm lòng nữa, nó xộc xệch, buồn buồn, thương nhớ, loi thoi..?" Ông nói trong Truyện Kiều có những câu thơ "giáp hạt" giữa chiều lặn với trăng lên. chẳng hạn như câu: Chim hôm thoi thót về rừngl Đóa trà mi đã ngậm trăng nửa vành. Chim hôm thoi thót: nó vừa lưa thưa lẻ tẻ về núi, lại vừa thoi thót như ánh chiều, có một cái gì lo sợ đâu đây ! Sở Khanh sắp đưa Kiều đi trốn... Sở dĩ, Nguyễn Du nghe được cả hơi thở thoi thót của chim đang bay về rừng, nghe được cả hơi thở thoi thót của buổi chiều hôm, nghe được cả hơi thở thoi thót của cả vũ trụ là vì ông nghe được nhịp đập trái tim bất an của nàng Kiều trước giờ phút nhắm mắt đưa chân phó mặc cả mạng sống của mình cho một kẻ hoàn toàn xa lạ. Đang bình một cách say sưa bỗng nhiên nhà thơ dừng lại hỏi chúng tôi: Tại sao các bạn không vỗ tay? Vỗ tay đây là vỗ tay cho Nguyễn Du chứ đâu phải vỗ tay cho Xuân Diệu! Thế là cả hội trường đồng loạt vỗ tay râm ran.

Về thơ Hồ Xuân Hương, ông cũng có những phát hiện hết sức thú vị. Ông nói: mấy chị nông dân đứng tát nước bên bờ ruộng, khi vào thơ Hồ Xuân Hương cái "dích vắt ven" của họ được phóng to lên trên nền trời. Người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương hết sức vĩ đại chứ không phải là "cỏ nội. hoa hèn"! Này nhé: Bố cu lõm ngõm bò trên bụngl Thằng bé hu hơ khóc dưới hong. Những gã đàn ông như tôi nào có khác gì những đứa trẻ bò lõm ngậm trên cái mặt - đất - mênh mông ấy. Cách nói hóm hỉnh của ông làm chúng tôi không nhịn được cười. Xuân Diệu phân tích khá kỹ bài Trăng của Hồ Xuân Hương: "Một trái trăng thu chín mõm mòn. Nảy vừng quế đỏ, đỏ lòm lom/ Giữa in chiếc bích khuôn còn méol Ngoài mép đôi cung cánh vẫn khòml Ghét mặt kẻ trần đua xoi mócl Ngứa gan thằng Cuội đứng lom khom/ Hỡi người bẻ quế rằng ai đó/ Đã có Hằng Nga ghé mắt dòm ". Cả bài thơ bị dồn nén bởi cái vần "om"! Om chặt lại, lèn chặt lại vào trong một cái khuôn chật hẹp. Hẹp đến mức "ngoài khép đôi cung cánh vẫn khòm"! Và trong cái khuôn trăng "chín mõm mòm ấy Cuội ta đang đứng "lom khom". Cứ phải đứng lom khom như thế mãi ai mà chịu được. Một người phóng túng như bà chúa thơ Nôm làm sao chịu nổi những trói buộc của lễ giáo phong kiến. Vậy nên mới "ngứa gan". Và Xuân Diệu khom mình y hệt chú Cuội, đọc gằn từng tiếng "Ngứa gan thằng Cuội đứng lom khom!". Tưởng chừng như chú Cuội chỉ đứng thẳng lên mà mọi khuôn phép lễ giáo phong kiến sẽ bị phá tung hết. Xuân Hương không chịu nổi cái khuôn khổ chật hẹp thiếu điều phát điên lên! Vì thế Xuân Hương muốn "xiên ngang mặt đất". "đâm toạc chân mây", Xuân Hương muốn thụi, muốn đấm "Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc", "Gió đập cành cây khua lắc cắc...". Nhà thơ kết luận: Nói chung, nhiều tác phẩm ưu tú trước cách mạng như con cá ngon có xương; chúng ta ăn cái thịt ngon và tránh cái xương. Đừng vì vài cái xương mà vất bỏ cả con cá ngon !

Buổi nói chuyện ấy của Xuân Diệu cách đây đã mấy chục năm mà tôi cứ ngỡ như mới hôm qua. Bên tai tôi còn văng vẳng giọng đọc thơ, giọng bình sôi nổi say sưa của Xuân Diệu. Tôi như vẫn còn nhìn thấy mái đầu "dỡn sóng Quy Nhơn". sóng mũi cao, đôi mắt mở to, sáng lấp lánh sau mục kính của nhà thơ. Chính Xuân Diệu là người củng cố lòng yêu văn chương cho tôi, cho tôi hiểu một cách đầy đủ, sâu sắc cái hay, cái đẹp của thơ ca cổ điển Viết Nam.

MAI VĂN HOAN
(Văn nghệ Bình Định)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác