Nhà văn TchyA (Đái Đức Tuấn)

Mai Ngọc Thanh

(Toquoc)- Những năm còn ở tuổi 9 tuổi 10, tôi đã được đọc “Thần Hổ” và “Ai hát giữa rừng khuya” của TchyA đăng trên báo phổ thông bán nguyệt san. Thật hấp dẫn, nhưng cũng sợ lắm. Sợ tới mức đêm ngủ phải đóng cửa thật chặt, vậy mà vẫn cứ sợ. Nhưng rồi lại thích đọc đến dòng cuối cùng. Và đọc lại…Bởi óc tò mò của trẻ con đối với thế giới thần linh ma quái trong tiểu thuyết của ông.

Cho đến năm 1942, ngoài hai tác phẩm kể trên, TchyA còn có Linh hồn và xác thịt Kho vàng Sầm Sơn.

TchyA là một trong số không nhiều những nhà văn trước năm 1945 viết truyện truyền kỳ - kinh dị. Nhưng ông là nhà văn duy nhất chuyên viết thể loại này. Thế Lữ có Vàng và máu, Trại Bồ Tùng Linh. Thanh Tịnh có Ngậm ngải tìm trầm. Lan Khai có Cái hột mận. Nhất Linh có Bóng người trong sương mù, Lan rừng. Nguyễn Tuân có Chùa Đàn, Cô Dó và Trên đỉnh non Tản. Tô Hoài có Một đêm gác rừng. Ngược về xa xưa thì ông Vua, nhà thơ - nhà văn Lê Thánh Tôn có tới ba truyện thần kỳ: Duyên lạ nước Hoa, Chuyện chồng dêMột dòng chữ lấy được gái thần. Rồi còn có thể kể ra mấy truyện khuyết danh như Hổ bộc (đầy tớ của hổ), Cọp báo số mệnh cho người Ông sư tiên trên núi Nưa.

TchyA (Đái Đức Tuấn) sinh năm 1908 tại làng Ngọc Diêm, tên nôm là làng Si, thuộc Ngọc Giáp, tổng Thủ Chính (nay là xã Quảng Chính) huyện Quảng Xương, Thanh Hoá. Sinh trưởng trong một gia đình trí thức quan lại. Phụ thân là tri huyện Đái Xuân Quảng. Sau khi đỗ Tú tài (Tây học) làm tham tá Sở thương chính Hải Phòng. Không lâu, vào làm tham tá của Nha học chính Đông Dương (1) ,cũng là lúc bắt đầu sự nghiệp văn chương. Ngoài vốn Tây học giỏi, ông còn có vốn Hán học uyên thâm do phụ thân truyền dạy từ thời thơ ấu.

TchyA xuất hiện trên các báo Đông Tây, Nhật Tân từ giữa những năm 30 của thế kỷ hai mươi. Tiếp đến là cho đăng các tiểu thuyết truyền kỳ trên Phổ thông bán nguyệt san của Nhà xuất bản Tân Dân. Ông còn dịch thơ Đường, vẽ tranh minh hoạ, tranh châm biếm, làm câu đối.

Năm 1992, trong chuyến vào thành phố Hồ Chí Minh công tác, tôi tới nhà riêng của ông để trao sách biếu và nhuận bút tái bản Kho vàng Sầm Sơn do nhà xuất bản Thanh Hoá ấn hành. Người con gái của ông đưa tôi xem các di cảo văn và thơ bằng tiếng Việt, tiếng Pháp và tiếng Hán của ông. Chữ Hán ông viết là chữ của một ngòi bút tài hoa - thi sĩ, đẹp đến ngẩn ngơ…Vâng, TchyA cũng là một nhà thơ mà người đọc đương thời biết đến ít nhất là tập Đầy vơi.

Đây là lần thứ hai tôi gặp ông, nhưng chỉ gặp di ảnh thôi. Ông đã mất ngày 8 tháng 8 năm 1969 vì bệnh tim (và vợ ông cũng đã mất năm 1982). Lần đầu tôi gặp ông là năm 1944 khi bố tôi dắt đi theo cùng rất đông người của bốn làng thuộc Ngọc Giáp (làng tôi là một làng trong đó), đến xem "tư dinh" của ông mới khánh thành tại núi làng Bồ. Đó là cái động được khoét rộng ra từ một cái hang vốn có của trái núi đứng riêng thuộc dãy núi Chẹt - núi Lau.

Động núi Bồ, hoặc gọi như người dân Ngọc Giáp ngày ấy là "Động ông tham Tuấn" rộng chừng 40 mét vuông, giữa một vùng non nước rất hữu tình. Động cách ngôi chùa Đồng rất gần. Có thể nói chắc rằng, ở Quảng Xương bấy giờ không có một chùa nào mà cảnh quan lại đẹp đến vậy. Chùa tựa lưng vào dãy núi Lau, quay mặt phía nam, chỗ dòng sông Yên (còn gọi là sông Ghép) uốn một vòng cung để rồi ngoặt trở lại mà đổ nước ra biển. Tam quan chùa rất đẹp, trên gác tam quan treo một quả chuông khá lớn. Chung quanh chùa cây cối xanh tốt um tùm như rừng và rất nhiều loại hoa, nhiều nhất là hoa mẫu đơn, hoa dẻ. Sân chùa cao vút những đa, những đề…Phía đông chùa là con suối quanh năm nước róc rách chảy qua những khối đá ghập ghềnh rồi đổ xuống sông Yên. Cảnh là cảnh của thiên nhiên nhưng đã được con mắt của văn nhân chọn lựa.

Dân làng chẳng rõ nguồn cơn nào mà ông Đái Đức Tuấn lại bỏ chức tham tá, một chức được xem là cao cấp thời Pháp thuộc để trở về quê khoét núi mở động, rồi chiêu tập đến ba chục trai đinh luyện tập côn quyền ngày đêm mà người hướng dẫn lại chính là ông. Ai hỏi thì ông trả lời: "Chuẩn bị lực lượng để đánh đuổi ngoại xâm"(?) Thấy vậy một thanh niên yêu nước trong làng gửi cho ông lá thư với nội dung: "Nếu như muốn trả nợ cho non sông, thì sao ông không xông pha ở giữa trần hoàn, mà lại phải quay về tựa núi nương chùa. Thật là uổng công học hành…". TchyA đã trả lời người thanh niên ấy bằng bài thơ: "Aman (2) thuở trước tới Tần cung / Quan tể cười rằng chú chạy rông / Chim sẻ biết đâu lòng Sếu nhỉ / Trời trong đáy giếng chỉ bằng vung". Bài thơ chứng tỏ TchyA rất ngạo với người thanh niên viết lá thư cho mình.

Tôi con nhớ rất rõ cảnh tượng trong động của ông. Ánh đèn măng - sông sáng trưng. Chính giữa đặt bộ bàn ghế bằng gụ khảm trai kiểu Tàu. Trên vách hậu của động, chỗ cao nhất gắn xác phơi khô của con đại bàng. Sát ngay bên dưới là ảnh Quan Công cưỡi ngựa, cầm thanh long đao. Hai bên treo, gắn nào là thương, đao, kích, chuỳ. Và động chủ thì trang phục y như là tráng sĩ, hiệp khách với với chiếc kiếm dài lủng lẳng bên hông khi ra đón khách. Không hiểu người lớn bước vào đây thì cảm giác ra sao, chứ trẻ con như tôi thì khiếp sợ quá. Nhưng những lúc ra khỏi động, tiếp xúc với người này người kia trong giáp, thì TchyA lại mặc quần trắng bằng vải giá vũ, áo dài bằng gấm màu tím có hoa văn là chữ thọ khuôn tròn, đầu đội khăn xếp, ngực đeo bài ngà, có hàng chữ Hán mà mấy cụ có ít nhiều Hán học đọc được là Hồng lô thiếu khanh (Hàm được nhà nước phong kiến phong, dưới hàm Hồng lô ái khanh).

Đùng một cái, Nhật đảo chính Pháp, phong trào Việt Minh rộn rực khắp  nơi trong tổng trong huyện. Các đôi nam nữ dân quân tự vệ được thành lập ở các làng và ngày đêm tập luyện quân sự nhằm chuẩn bị làm khởi nghĩa giành lại đất nước. Thế là cảnh tượng của cái động ông tham Tuấn và tất nhiên là động chủ biến mất chỉ trong có mấy ngày…

Khi lớn lên, được đọc Nhà văn Việt Nam của Vũ Ngọc Phan thì tôi hiểu được phần nào sự đột ngột xuất hiện và đột ngột biến mất của "con sếu" TchyA. Vũ Ngọc Phan nhận định thế này về ông: Ngay lúc còn là một tham tá trẻ măng (và rất đẹp trai nữa) đã mê Lý Bạch, rất mê bài thơ Tương tiến tửu và bài Hàng Hạc lâu. Thấm nhuần tính phóng túng của Lý Bạch nên cũng có cái quá độ làm cho nhiều người bực tức. Chắp nối nhận định ấy với hành trạng của ông khi về ở động núi Bồ, thì dường như vẫn là một TchyA - Đái Đức Tuấn phóng túng, giờ lại thêm chút hảo hán kiểu Tàu, và có sự bắt chước chăng Liêu Trai của Bồ Tùng Linh khi ông khoét núi Bồ làm động.

Nhưng rồi TchyA vẫn là người của văn thơ thôi, chứ không phải là người của những binh khí kia…

Lại đột ngột nữa, năm 1950, ở Quốc học Huế có một thầy giáo văn chương là Đái Đức Tuấn. Sau đó ông bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt đi quân dịch một thời gian. Ra khỏi quân ngũ, không quay về Huế nữa, ông lại tiếp tục văn chương tại Sài Gòn và cho in thêm Đồng tiền Vạn Lịch, Đường lên núi, Uyển ngoạn và Tình sơn nữ vào năm 1956.

Người đọc gặp ngay trong các truyện truyền kỳ - kinh dị của ông những ma quái, những quỷ thần như đã gặp trong Liêu Trai chí dị, trong Truyền kỳ mạn lục. Nhưng cái khác biệt là truyện truyền kỳ của TchyA vừa mang màu sắc truyền thống phương Đông lại vừa có màu sắc truyện kinh dị phương Tây. Xã hội ma và xã hội người trong tiểu thuyết của TchyA chỉ là một. Do thế mà ý nghĩa hiện thực của tiểu thuyết TchyA được ghi nhận là một đóng góp. Ma thần muốn hại người nên người lại muốn tiêu diệt ma, thần. Có lúc ma lại giao tiếp với người, như là ma đã bất lực trước sức sống của người, nên phải chấp nhận hoà hoãn, chung sống. TchyA muốn viện đến nhận thức khoa học để lý giải chuyện ma chuyện thần. Ấy là chỗ khác biệt của TchyA với Bồ Tùng Linh (Trung Quốc) và Nguyễn Dữ

Thần HổAi hát giữa rừng khuya có thể coi như Liêu Trai của Việt Nam. TchyA không sao chép yêu, ma của Bồ Tùng Linh.

Yêu ma trong các tác phẩm của TchyA là loại ma trành, hoá thân của những cái chết bất đắc kỳ tử mà dân gian xưa gọi là "dớp" (dớp nhà) phải tìm mọi cách để tránh lặp lại với người thế hệ sau. Peng Slao, nàng chính là con ma trành, về sau thoát được cảnh làm tôi tớ cho thần Hổ do đã tìm được người thay thế, người rơi vào cái dớp của kẻ trước. Slao có tiền duyên với Đèo Lâm Khẳng, một người của gia tộc lớn nhất vùng rừng núi Thạch Thành (Thanh Hoá). Nàng đã quyến rũ được họ Đèo vào ngôi nhà sàn của mình để ân ái. Cuộc ân ái cuồng si giữa một kẻ là người và một kẻ là ma. Thế là Peng Slao được giải thoát. Cái tình của ma mà lại đắm mê, thắm thiết hơn cả tình người.

Thần trong tác phẩm của TchyA là Thần Hổ. Những hổ xám, hổ vàng và cả hổ bạch đã thành tinh. Lúc là hổ nguyên hình, lúc lại biến thành người. Ai bị hổ ấy ám ảnh, rượt đuổi thì khó mà bảo toàn được tính mạng. vì đã xúc phạm, đã tàn hại hổ mà mấy đời nhà Đèo Lâm Khẳng đều có người phải làm mồi cho hổ. Cách trả thù của hổ ứng với cách người đã làm hại hổ. Nghĩa là người nào của nhà họ Đèo đã bị hổ bắt thì cũng bị móc mất một mắt và bị cắn mất hai hòn ngọc hành để phải tuyệt đường sinh dục, truyền giống. Điều này khiến ta nghĩ đến thuyết quả báo. Hổ là một lực lượng của thiên nhiên. Con người đã tàn hại thiên nhiên thì sớm muộn thiên nhiên cũng sẽ trừng phạt con người.

Khác với Thần HổAi hát giữa rừng khuya, tiểu thuyết Kho vàng Sầm Sơn tuy là cùng trong dòng mạch truyện thần kỳ, nhưng lại không có yếu tố kinh dị thần quái. Đây là một thiên bi tình sử. Không khí, bối cảnh, sự kiện và câu chuyện thật về những ngư dân Sầm Sơn phát hiện kho vàng chìm dưới đáy biển, chỉ để tạo ra cái nền và làm cái cớ cho mối tình của công tử Nguyễn Anh Tề, con trai Hữu quân đô đốc Nguyễn Hữu Chỉnh và quận chúa Võ An Trinh, con gái Tả quân đô đốc Võ Văn Nhậm và đi đến kết cục thảm thương. Mà nguyên do bắt đầu bằng sự nghi kị, hiềm khích giữa hai người cha đều là quan đồng triều Tây Sơn. Trước, sau Võ An Trinh rồi Nguyễn Anh Tề đều phải tự kết liễu đời mình. Sau ngày Nguyễn Hữu Chỉnh bị Võ Văn Nhậm xử trảm.

Vấn đề tiểu thuyết này đặt ra: Tình yêu là quý nhất chứ không phải là vàng, không phải cả một kho vàng kia. Tình yêu mà mất thì bao nhiêu vàng cũng là vô nghĩa, TchyA tỏ ra thấu nhân tình ở thiên tiểu thuyết có sức lay động mạng mẽ tâm can người đọc này.

Như vậy dù không sánh ngang được với kho tàng khổng lồ về văn học truyền kỳ Trung Quốc, cũng có thể nói Việt Nam có một dòng văn hoc truyền kỳ, mà TchyA có công đáng kể trong việc góp phần tạo nên và nổi trội ở quãng hơn nửa sau của thế kỷ 20.

Cuối cùng, vấn đề còn lại là bút danh TchyA của nhà văn này. Do đâu mà Đái Đức Tuấn lại chọn cho mình cái bút danh kì lạ ấy? Từ bấy cho đến giờ, chỉ có hai cách giải mã: Tôi chẳng yêu ai và Tôi chưa yêu ai. Nhà văn đã lấy phụ âm của bốn tiếng ấy : T. CH. Y. A rồi ghép lại thành bút danh. Tưởng như là có lý. Nhưng không đúng đâu. Ông có người vợ đẹp vào loại hoa khôi của thành phố Thanh Hoá thời ấy, con một viên tri phủ mà người ta thường gọi là ông phủ Hùng. Năm 1944 tôi đã thấy ở động núi Bồ, tuy đã qua thời thiếu nữ, nhưng vẫn đẹp như người trong tranh.

Năm 1946, khi thành phố Thanh Hoá tiêu thổ kháng chiến để chống thực dân Pháp, tôi trở về quê tiếp tục học lên Trung học phổ thông (Nhưng chỉ ngang bậc Trung học cơ sở nay) ở trường tư thục Bàn Lâm. Trường do thầy Đái Xuân Ninh (anh họ của nhà văn Đái Đức Tuấn) làm hiệu trưởng (3). Một lần tôi hỏi thầy về bút danh TchyA. Nhưng thầy cũng không trả lời được. Tuy vậy thầy cũng không tán đồng cách giải mã như đã dẫn ở trên.

Bỗng một hôm tôi gặp bác Nguyễn Xuân Dương - người đỗ tú tài thời Pháp thuộc, sau tháng 8 năm 1945 làm thầy giáo dạy văn, hiện nghỉ hưu tai thành phố Thanh Hoá. Tôi hỏi bác việc này. Bác Dương cho biết xưa nay sách báo viết bút danh của ông Đái Đức Tuấn không đúng - Tchya. phải viết hoa chữ A mới đúng - TchyA. Bác Dương giải thích ông Đái Đức Tuấn thời làm tham tá Nha học chính Đông Dương có yêu một cô vũ nữ rất đẹp, yêu lắm. Ông đặt tên cho cô là Angèle (tên tiếng Pháp). Như vậy, theo bác Dương bút danh ấy được giải ra là: Tôi chỉ yêu Angèle. Tôi nghĩ cho tới lúc này, thông tin từ bác Nguyễn Xuân Dương là có lý nhất.

 

M.N.T

 

----------------------------

(1) Do nhà cầm quyền Pháp lập ra để kiểm tra công việc của Bộ học của Nam triều (nhà Nguyễn)

(2) Aman là tên của Tào Tháo lúc còn nhỏ

(3) Thầy Đái Xuân Ninh sau năm 1954 được Bộ giáo dục điều động ra giảng dạy văn học ở ĐHSP Hà Nội và là thành viên của nhóm nghiên cứu văn học mang tên Lê Quý Đôn ngày ấy.  

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác