Nhà văn Chu Văn và những ứng xử thi ca

Phạm Trọng Thanh

(Toquoc)- Lao động nghệ thuật nói chung, sáng tác thi ca nói riêng là những ứng xử văn hoá. Với nhà văn Chu Văn - vị Tổng biên tập uy tín của tạp chí Văn nghệ Hà Nam Ninh đã quá cố, những ứng xử cho thấy "một cốt cách tâm hồn nhà văn - kẻ sĩ đáng trọng", đúng như lời nhà thơ Nguyễn Bính sinh thời đã nói về ông.

Nhà văn Chu Văn và những ứng xử thi ca - ảnh 1
Nhà văn Chu Văn
(1922 - 1994)
Cuối năm 1967, tại nơi sơ tán của Ty Văn hoá Nam Hà, thôn Đức Bản xã Nhân Nghĩa, huyện Lý Nhân, Hà Nam có một cuộc chia tay cảm động: Tiễn nhà văn Chu Văn vào chiến trường. Người đi trong trang phục thời chiến bên dòng sông Châu tháng Chạp giá lạnh, gợi cái ý vị "Tiễn biệt bên sông Dịch": Thử địa biệt Yên Đan / Tráng sĩ phát xung quan (thơ Lạc Tân Vương). Giữa những đồng nghiệp, đồng chí vừa chuẩn bị xong số Sáng tác xuân Mậu Thân, Chu Văn xúc động đọc một bài thơ ứng tác - Chia tay:

Chia tay nhằm thẳng nẻo tiền phương

Hỏi lại lòng ai có vấn vương?

Việt Bắc gọi vào nơi tuyến lửa,

Miền Nam yêu dấu nghĩa quê hương.

Đánh giặc giữ nhà đôi gánh nặng,

Cây chông ngòi bút một con đường.

Xa nhau là để gần nhau mãi,

Mưa nắng hề chi vượt dặm trường.

Bài thơ ứng tác nói được cái chí của người từng trải cuộc kháng chiến chống Pháp, khi đất nước bước vào giai đoạn chiến đấu ác liệt: chống chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, chuẩn bị tấn công giải phóng miền Nam. Thơ biểu lộ ý thức của các nhà văn, các nghệ sĩ lúc bấy giờ: Dẫu một cây chông trừ giặc Mỹ / Hơn nghìn trang giấy luận văn chương (Tố Hữu).

Chu Văn đến chiến trường. Trong chuyến đi thực tế dài ngày tại các vùng trọng điểm mặt trận đông Trường Sơn với đoàn văn nghệ sĩ Phòng Văn nghệ Quân đội: Chính Hữu, Hải Hồ, Ngô Văn Phú, Sĩ Hanh, Trọng Khoát, Vũ Minh, Đồng Văn Thuyết... “Nhà văn dân sự" Chu Văn nhanh chóng thích nghi như một chiến binh thực thụ. Những lần bị vây, những lần bom đạn rượt đuổi, những lần mưa lũ lở núi, sạt hầm hút chết. Ông có dịp chia sẻ miếng lương khô, hớp nước cuối trong bi đông với cán bộ, chiến sĩ nơi trận mạc để được "thực mục sở thị" bộ mặt chiến tranh tàn bạo của kẻ xâm lược. Ông thay mặt Tỉnh uỷ Nam Hà đến thăm lực lượng thanh niên xung phong ở chiến trường.

Dọc đường Trường Sơn, hai lần ông thay mặt Tỉnh uỷ tặng quà, động viên anh chị em cán bộ diễn viên văn công xung kích đoàn Chèo Nam Hà phục vụ chiến trường, tại binh trạm Đoàn 559. Gần một năm có mặt ở chiến trường Khu Năm, ông may mắn không bị "dính" bom pháo, nhưng ra Bắc hàng năm vẫn còn bị những cơn sốt rét rừng hành hạ.

Năm 1974, nhà văn Chu Văn còn đi thực tế chiến trường một lần nữa, vào Phước Long, miền Đông Nam Bộ, trong đoàn công tác của Tỉnh uỷ Nam Hà. Chuyến đi theo tuyến đường tây Trường Sơn thuận lợi hơn, ông không quên bài thơ nhà viết kịch Tào Mạt chia tay ông ở binh trạm đông Trường Sơn ngày nào:

Tặng Chu huynh

Chấp Kim Tinh bút hướng Nam giao,

Đông hải minh thiên khởi nộ đào.

Bác viết: "Văn nhân giai chiến sĩ",

Dục vi Quan Vũ tất huy đao.

Bài thơ chữ Hán, thủ bút của Tào Mạt viết năm 1968 mãi đến năm 1990, tạp chí Văn nghệ Hà Nam Ninh tổ chức trang mừng thọ nhà văn Chu Văn 70 tuổi, ông mới đưa in (cùng với bài tạm dịch của Phạm Trọng Thanh):

Tặng anh Chu Văn

Giắt bút Kim Tinh kịp chuyến vào,

Dậy trời sóng giận bể dồn cao.

Bác nói: "Nhà văn là chiến sĩ",

Muốn làm Quan Vũ phải hoa đao.

Với nhà văn Chu Văn, trong mỗi chuyến đi ấy, trang sổ tay của ông càng đầy lên những ý đồ sáng tác, những hình tượng trong chiến đấu, không thể ngồi ở nhà mà "bịa" ra được. Những năm tháng ấy thuộc về sự dũng cảm của nghĩa lớn, khí phách và tâm hồn của một thời oanh liệt. Chất liệu thực tế ngồn ngộn, vốn sống dày dặn, tài năng văn chương cất cánh, ông là nhà văn thành đạt chậm nhưng vững chãi, bề thế với các tác phẩm: Bão biển, Đất mặn, Giáp mặt, Sao đổi ngôi, Mây thành (tiểu thuyết); Con đường lầy, Cô lái đò sông Ninh, Ánh sáng bên hàng xóm, Hương cau hoa lim, Bông hoa trắng, Tiếng hát trong rèm, Ngọc tương tư (truyện ngắn); Tiếng hát trên sông (bút ký), Tuyển tập Chu Văn...

Năm 1989, "nhà văn chiến sĩ" Chu Văn được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba. Ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước đợt I năm 2001, lúc ông qua đời vừa đúng 7 năm.

Thành đạt ở tiểu thuyết, truyện ngắn... nhưng nhà văn Chu Văn lại khởi đầu sự nghiệp văn chương từ thi ca. Xuất thân trong một gia đình Nho học ở Đông Quang, Đông Hưng, Thái Bình, Chu Văn có một thời hoa niên thích làm thơ, xem chèo, diễn kịch. Khi trở thành cán bộ hoạt động cách mạng ở Thái Bình, Hải Phòng, Nam Định thì sở thích thuở thiếu thời lại trở thành phương tiện hữu hiệu cho công tác tuyên truyền, giác ngộ quần chúng. Tác phẩm đầu tay của Chu Văn là truyện thơ Ai qua Phát Diệm. Ông viết vở chèo Cô gái làng Dương được dàn dựng và được Văn nghệ in năm 1955.

Truyện thơ của ông là chuyện chống cưỡng ép di cư, được phổ biến và khơi mào cho các truyện thơ Cô gái tóc trắng (Bạch mao nữ) của Trần Tường, Lấn biển Đông của Kim Ngọc Diệu... ở Nam Định.

Năm 1962, đoàn Chèo Nam Định đưa điệu thức hát "cung văn hầu bóng" thành tiết mục Hát văn trong hội diễn văn nghệ miền Bắc. Người soạn lời mới cho tốp nữ múa hát là nhà văn Chu Văn. Tiết mục thành công rực rỡ. Riêng tôi, mỗi lần nghe lại tiếng đàn nguyệt, giọng hát văn năm ấy, tôi thấy mình nhuần thắm lại:

Hỡi cô thắt dải lưng xanh

Có về Nam Định với anh thì về

Dạt dào gió lượn ven đê

Đồng thơm hương cốm, cây che rợp làng

Biển xanh, cá bạc, tôm vàng

Buồm căng lộng gió thênh thang ra vào

Sông Ninh, sông Đáy, sông Đào

Phù sa lớp lớp nao nao sóng dồi

Chiều trưa vang dậy tiếng còi

Đường xưa bến Vị , non Côi nượp người...

(Nam Định quê tôi -1962)

Từng qua cương vị phụ trách Toà soạn báo Cứu quốc Liên khu III, về Nam Định làm Trưởng ty Văn hoá kiêm Tổng biên tập tập san Sáng tác; Trở thành Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật kiêm Tổng biên tập tạp chí Văn nghệ Hà Nam Ninh; chủ tịch Hội đồng Tủ sách Quê hương, cách "điều binh khiển tướng" của ông thật đáng nể. Từ lúc dựng đề cương, phân công viết, đặt bài, phân công biên tập... đến ngày tổng duyệt, nhất nhất mọi việc đều có tâm lực của ông. Thiếu bài thì viết bổ sung, có khi viết lại cả một bài dài mà không cần đứng tên. Thơ xuân, câu đối Tết nhiều phen ông Tổng biên tập phải "bù" dưới bút danh Kim Mã, Thạch Mã, Nghĩa Thanh...

Còn đó những vế mời đối, thách đối của Thạch Mã chưa có người đối được. Trên tập san Sáng tác Nam, số Tết năm 1970, nói về Bác kính yêu:

Người là Cha, là Bác, là Anh

Chết như sống, anh hùng vĩ đại !

Nhà văn ghép hai câu thơ Tố Hữu trong bài Sáng tháng Năm và bài Nguyễn Văn Trỗi thành một vế đối để mời đối. Hay như vế thách đối đầu năm 1969, đùa các chiến sĩ ở một đơn vị phòng không (cao xạ pháo, tên lửa...) ông viết: Tiểu đội phòng không, mười hai cậu đều không có vợ!

Thuộc thơ Việt, thơ Pháp, thơ Đường, Chu Văn là người biết làm giàu vốn hiểu biết của mình, chủ yếu là tự học. Tiếng Pháp đủ để giao tiếp, chữ Hán đủ để đọc "nguyên bản". Ở tuổi Sáu mươi, ông còn theo học tiếng Anh khá chăm chỉ. Ông yêu thi ca, niềm yêu của một trí thức Nho học, tâm đắc câu nói của Khổng Tử: "Hứng ư thi, lập ư lễ, thành ư nhạc". (Hứng khởi trước điều thiện là nhờ thi ca, đứng vững trước mọi việc đời là nhờ ở lễ và hàm dưỡng được nội tâm chính đáng là nhờ ở sự hài hoà của âm nhạc).

Thơ ông viết, có lẽ sự chú tâm đầu tiên là khí chất toàn bài. Ở bài Xuân đề nguyên tác chữ Hán, in trên "tờ hoa" tạp chí Văn nghệ Hà Nam Ninh số Tết Bính Thìn, 1976, mừng đất nước thống nhất, ông viết:

Vạn lý đào hoa tiếp cẩm vân,

Sơn hà phong cảnh tổng hồi xuân.

Tứ thiên niên quốc trùng hưng hội,

Thành dã ca thanh xứ xứ văn.

(Xuân đề - Nghĩa Thanh)

Tác giả tự dịch:

Đề thơ xuân

Dặm xa, mây thắm hoa đào,

Núi sông rầy đã bước vào hồi xuân.

Nông thôn, thành thị xa gần,

Hát mừng nước bốn nghìn năm vươn mình.

Năm 1977, Hội Văn học Nghệ thuật Hà Nam Ninh nhận một đề nghị "đền ơn đáp nghĩa" do Ty Thương binh- Xã hội yêu cầu. Tỉnh cần có thơ, câu đối làm thành hai bức trướng kính viếng các liệt sĩ quê nhà tại nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn. Còn nhớ, tại trụ sở Hội sớm xuân ấy tề tựu đủ cán bộ biên tập, sáng tác cơ quan. Đồng chí cán bộ Ty Thương binh- Xã hội, rồi nhà văn Chu Văn chủ tịch Hội, nhà viết kịch Hồng Vũ, phó chủ tịch Hội lần lượt phát biểu nêu ý tưởng, chủ đề. Một cuộc"phát động sáng tác" bắt đầu và thời hạn chỉ một tuần thôi, tất cả chúng tôi cùng vào cuộc. Đến hẹn, chúng tôi cùng nộp bài. Một cuộc bình văn do nhà văn Tổng biên tập chủ trì khá sôi nổi. Điều đáng nói là thơ và câu đối chọn xong đều được cử toạ-chủ và khách hài lòng.

Câu đối được chọn (của nhà thơ Vũ Quốc Ái):

Đất nước nhớ anh hùng, hồn vang động trống đồng Ngọc Lũ

Quê hương ơn liệt sĩ, tên sáng ngời bia đá Trường Sơn

Bài thơ được chọn (của nhà văn Chu Văn):

Trai tài, gái giỏi Hà Nam Ninh,

Nghĩa Đảng, tình dân, hiến trọn mình !

Tiếng hát Trường Sơn muôn thuở vọng,

Ngời trang sử mới, ánh bình minh.

Nhà văn Chu Văn là người quý trọng nhân tài. Mùa thu năm 1970, tại thành phố Nam Định còn ngổn ngang công sự và ụ pháo phòng không, Ty Văn hoá Nam Hà tổ chức kỷ niệm 100 năm sinh nhà thơ Trần Tế Xương (1870-1970), có sự tham gia của Viện Văn học và Hội Nhà văn Việt Nam.

Là Trưởng ty Văn hoá, ông đứng ra lo liệu mọi việc cùng với cán bộ của nhiệm sở, các cố lão Vị Xuyên và thân tộc nhà thơ. Lần đầu tiên, lễ kỷ niệm danh nhân văn học quê hương được tiến hành thật trang trọng. Sự nghiệp thi ca của nhà thơ thành Nam được nhìn nhận, đánh giá một cách thoả đáng, góp phần khẳng định Trần Tế Xương là nhà thơ lớn của dân tộc giai đoạn lịch sử cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Phần mộ nhà thơ dời từ Cồn Vịt về công viên Vị Xuyên. Tuyển tập 100 bài Thơ Trần Tế Xương được biên khảo, hiệu đính, xuất bản với tiểu luận xuất sắc Đọc thơ Trần Tế Xương của nhà thơ Xuân Diệu cùng lời giới thiệu của nhà văn Chu Văn. Ông viết: " Xã hội thực dân phong kiến với các thứ rác rưởi, chướng tai gai mắt từng làm rầy nhà thơ lớn Trần Tế Xương đã dứt khoát trôi đi không bao giờ còn trở lại... Trần Tế Xương vẫn sống trong tâm hồn người Nam Định. Nhà thơ lớn là niềm tự hào chung, như người ta vẫn tự hào về lịch sử oai hùng của địa phương còn ghi trong các văn bia nơi chùa Phổ Minh, đền Cố Trạch. Cả một nền văn học đất Sơn Nam, xây dựng từ bao đời với những trụ cột vững vàng như Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, được bồi đắp, xây dựng thêm, đã đóng góp được những người như Nam Cao... và sau này với vị trí quan trọng của tỉnh Nam Hà, nền văn học đó còn rực rỡ biết bao nhiêu nữa." ... " Chúng ta không đòi hỏi ở Trần Tế Xương những gì mà ông không có.

Riêng mặt cống hiến về văn học của nhà thơ thiên tài ấy đủ làm vinh quang cho quê hương non Côi, sông Vị". (Trích Lời giới thiệu Tuyển tập Thơ Trần Tế Xương, Ty Văn hoá Nam Hà, 1970, tr.9).

Mùa xuân năm 1985, nhân kỷ niệm 150 năm sinh Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến, Hội Văn học Nghệ thuật Hà Nam Ninh phối hợp với Viện Văn học và Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I tổ chức hội thảo khoa học về thân thế, sự nghiệp nhà thơ. Hội thảo đã quy tụ nhiều nhà nghiên cứu văn học, cán bộ giảng dạy, các giáo sư, học giả hàng đầu toàn quốc về thành phố Nam Định. Nhiều tham luận chuẩn bị công phu, đóng góp những nhận định sâu sắc về vị trí, tài năng của Nguyễn Khuyến trong nền văn học Việt Nam. Tuy nhiên những ngày cuối, tại hội thảo cũng có những lập luận phát sinh mâu thuẫn làm cho các nhà tổ chức hội thảo cảm thấy bối rối vì xu hướng phân tán, có thể dẫn đến việc hội thảo không thành công.

Nhà văn Chu Văn được phân công tổng kết hội thảo. Sau một đêm chong đèn chấp bút, bản báo cáo của ông khi đọc lên, mọi người đều thấy năng lực tổng hợp, phân tích thật vững vàng, thấu lý, đạt tình. Báo cáo tổng kết Hội thảo khoa học về thân thế, sự nghiệp nhà thơ Nguyễn Khuyến của Chu Văn đã đánh giá một cách khoa học, xác đáng với tất cả các bản tham luận, các ý kiến trao đổi của các nhà nghiên cứu, những thẩm định thấu đáo, công bằng của các học giả. Tổng kết hội thảo dẫn đến sự đồng thuận tôn vinh vị trí của nhà thơ lớn Nguyễn Khuyến trong lịch sử văn học Việt Nam.

Cùng năm 1985, Hội Văn học Nghệ thuật Hà Nam Ninh, Nhà xuất bản Văn học tiến hành liên kết xuất bản Tuyển tập Nguyễn Bính sau hai mươi năm vắng bóng thi nhân. Việc làm thủ tục xuất bản tưởng không khó khăn gì. Thế nhưng việc"đưa" thơ Nguyễn Bính trở lại với bạn đọc trong Nam, ngoài Bắc năm ấy đã có những vướng mắc phải tháo gỡ. Chính nhà văn Chu Văn đã "gõ cửa những người có trách nhiệm ở Trung ương và địa phương" để Tuyển tập Nguyễn Bính đến cùng bạn đọc, làm nên một "hiện tượng xuất bản", gia đình nhà thơ Nguyễn Bính lại có những ngày vui. Trong Tuyển tập này cùng với Lời giới thiệu của nhà văn Tô Hoài, nhà văn Chu Văn đã viết Lời bạt với cả tấm lòng nhân hậu và quý trọng nhà thơ "Chân quê" Nguyễn Bính.

Với trách nhiệm là người phụ trách ngành văn học nghệ thuật một tỉnh lớn, "Ông cũng là người luôn quan tâm sâu sát tới các văn nghệ sĩ có hoàn cảnh khó khăn. Ông trực tiếp đề xuất với lãnh đạo tỉnh để lão hoạ sĩ Nguyệt Hồ được sửa chữa gian nhà nhỏ cho cao ráo, sáng sủa, cùng nghệ nhân ca trù Đặng Thị Sim có một khoản trợ cấp giảm bớt khó khăn cuộc sống. Ông trực tiếp can thiệp người có trách nhiệm để mẹ con bà Trần Thị Lai, vợ nhà thơ Nguyễn Bính có chỗ ở yên ổn. Cuối năm, ông nhắc nhở văn phòng Hội có quà thăm hỏi gia đình nhà văn Nam Cao, thân mẫu nhà văn Nguyễn Thi và những văn nghệ sĩ cao niên, có hoàn cảnh khó khăn. Hàng năm, dịp Tết, cơ quan Hội tổ chức họp mặt gia đình anh chị em cán bộ công nhân viên. Chẳng mâm cao cỗ đầy gì, nhưng là một dịp để mọi người được sum họp trong không khí gia đình văn nghệ thật ấm áp" (Lương Đức Vinh - Nhà văn Chu Văn, tôi đã từng ở gần ông).

Lao động nghệ thuật nói chung, sáng tác thi ca nói riêng là những ứng xử văn hoá. Với nhà văn Chu Văn - vị Tổng biên tập uy tín của tạp chí Văn nghệ Hà Nam Ninh đã quá cố, những ứng xử cho thấy "một cốt cách tâm hồn nhà văn - kẻ sĩ đáng trọng", đúng như lời nhà thơ Nguyễn Bính sinh thời đã nói về ông./.

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác