Nhà thơ-hoạ sĩ Bàng Sĩ Nguyên: “Phúc cho ai nghèo khổ…”

(Toquoc)- Nhà thơ-hoạ sĩ Bàng Sĩ Nguyên hiện “ẩn dật”ở đâu? Lão nhân xấp xỉ tuổi 90 ấy 20 mươi năm nay đóng cửa tạ khách, tránh gặp mặt cả người thân trong gia đình. Ông đã bỏ đất Hà thành, nơi gắn bó đời mình với những vui buồn không biết kể cho ai, một mình phiêu bạt đất phương Nam.

Chúng tôi may mắn quen biết chị Bàng Ái Thơ ở Hà Nội và đã xin được địa chỉ của ông từ tháng 7/2007, nhưng mãi đến cuối năm mới tìm đến thăm ông được.
Nhà thơ-hoạ sĩ Bàng Sĩ Nguyên: “Phúc cho ai nghèo khổ…” - ảnh 1
Hoạ sĩ Bàng Sĩ Nguyên với khách

Hỏi lui, hỏi tới, cuốc bộ ngược xuôi mỏi nhừ bắp chân tôi mới tìm được địa chỉ cần tới nằm trong con hẻm dài hun hút trên đường Cách mạng tháng 8, thuộc quận 10, thành phố Hồ Chí Minh. Mãi đến hết hồi chuông thứ ba thì thấy mái đầu bạc trắng hói hơn một nửa ngó ra sau khung cửa kính lem nhem màu vẽ. Cặp kính lão ngơ ngác nhìn người lạ, như sợ khách vào nhầm nhà.

Sau khi thận trọng đọc tờ giấy ghi địa chỉ nhà mình, nhận ra nét chữ của cô con gái Bàng Ái Thơ, ông xởi lởi mời khách vào nhà. Tôi liếc nhìn trộm ông, đôi ống quần từ gối trở xuống và hai bàn tay dính đày màu vẽ. Một ngón tay gầy guộc chỉ lên phía trên. “Tôi đang vẽ trên gác. Nhà không mấy khi có khách nên vẫn đóng cửa từ sáng…”

Căn phòng quá chật chội. Ngoài cửa, trên tường đâu đâu cũng thấy những nét vẽ, chỗ thì nguệch ngoạc, chỗ đã thành hình một kí hoạ. Mùi thuốc lá, mùi ẩm mốc của sách vở, vật dùng… hàng đàn muỗi đói vo ve trên đầu, bên tai, dưới chân… Một chiếc bàn con, một chiếc tủ nhỏ. Tủ sách được cải tạo bằng chiếc gạc-măng-giê cũ; “tủ” quần áo đựơc nâng cấp từ chiếc thùng các tông đựng tủ lạnh. Trên chiếc giường cá nhân hầm bà lằng những quần áo, bút, giấy, quạt máy, đèn bàn và… tàn thuốc lá. Vật dụng có vẻ hiện đại nhất là chiếc tủ lạnh và hai nồi cơm điện. Góc phòng dựng chiếc “xế điếc” cũ và hai chiếc ghế nhựa. Ngoài chiếc cà mèn, tuyệt nhiên không thấy bát đũa. Đối diện giường ngủ là phòng vệ sinh với hai thùng to đầy nước. Tất cả khép kín trong diện tích 24m2. Ấn tượng về căn phòng nhỏ này với tôi là mùi ẩm mốc và tiếng muỗi vo ve suốt ngày. Phòng vẽ thì trên gác, phải dũng cảm trèo qua chiếc thang gỗ nhỏ buộc bịn bằng bao nhiêu sợi dây thép và dây nilon mới lên được, vậy mà mỗi bước chân, chiếc thang vẫn run lên cọt kẹt kêu than. Ngoài Hà Nội chị Bàng Ái Thơ con gái ông có cái nhà to đùng và đi xe hơi riêng, thì ở đây điều kiện sống của ông vất vả quá. Nghe tôi nhận xét, ông cười xuề xoà. “Được sống thế này là phúc lắm rồi! Ngoài kia biết bao nhiêu con người không có mái nhà che mưa.”

Hôm tôi ghé thăm, thấy trong hai chiếc nồi cơm điện của ông, một là khoai lang vừa luộc chín còn nóng hổi, nồi kia là cơm gạo lức được nấu thật nhão. Ông không ăn thịt cá, thức ăn hàng ngày chỉ là cơm (cháo) gạo lức với muối mè, vài thứ trái cây để sẵn trong tủ lạnh cùng gà-mèn sữa pha để ở ngăn mát đã đóng váng carem. Tuy lúc nào cũng có gà-mèn nước trà để sẳn, nhưng không tìm thấy chiếc ly nào to to để rót nước mời khách, bộ trà sứ cao cấp có in dòng chữ “60 năm công an nhân dân” để trên bàn làm việc thì bám đầy bụi.

Gác trên ngập tràn tranh! Mùi hăng đậm lưu cữu của mực màu, quần áo, đã bị quên ngay khi ta đối diện với những bức tranh bị vứt ngổn ngang, chồng chéo lên nhau. Tranh lớn cỡ khoảng 100x100cm, nhỏ cỡ 20x30cm. Những bức hoạ song mã, góc núi, làng quê, thiếu nữ… nét phát thảo khỏa thân, tĩnh vật… không thể nào đếm hết. Dỡ từng bức tranh, tiếng xoẹt… xoẹt của những tấm toan dính vào nhau vì mực chưa khô nghe thật xót ruột. Như để khách tự nhiên, ông không nói một lời nào suốt gần nửa giờ trên gác vẽ. Xót tranh, tôi xin phép ông cho tìm ít dây thép giăng lên để phơi tranh. Chạy ra phố mua dây thép, đinh và cả chiếc búa nhỏ. Hàng trăm bức tranh vứt chồng lên nhau, mấy sợi dây thép căng ngang tường chắc không thể phơi hết, nhưng chắc sẽ có nhiều bức thoát cảnh nhòe nhoẹt dính dấp vào nhau. Ông gật đầu, ánh mắt thoáng tia xúc động.

- Nào phải mình không biết quý những gì làm ra. Ngày trước, có một cô bé tới xin học vẽ và giúp mình trong công việc. Tài năng cô ấy có, nhưng cái đức mỏng quá. Cô bé đã nghe lời kẻ xấu xúi giục, lấy cắp tranh của tôi bán ra bên ngoài… không nhiều, chỉ chừng năm ba chục triệu thôi nhưng lòng tin quý thì mất đi nhiều lắm. Mình biết nhưng không nói gì, cô bé tự xấu hổ mà bỏ đi. Tiếc tranh thì ít mà tiếc một tài năng thì nhiều, nên từ đó đến nay mình không dám nhờ ai nữa. Ông tâm sự bằng âm giọng trầm buồn. Nghe họa sĩ- nhà thơ Bàng Sĩ Nguyên xưng mình, tôi chợt nhớ dịch giả Dương Tường ở Hội An những ngày hè 2006. Dương Tường cũng xưng mình như thế với những người cách nửa thế kỷ.

Giáp Tết Con Chuột, tôi lại đến thăm ông sau khi nhận được cú điện thoại từ thành phố Hồ Chí Minh. Giọng nhà thơ-hoạ sĩ thật hồ hởi: “Sao lâu rồi không đến thăm mình? Ngẫm lại lời cô bé nhận xét về cuộc sống của người già, mình mới nghĩ lại. Hóa ra bao lâu nay mình sống thảm quá ư? Mình đã dọn dẹp lại nhà cửa. Gác vẽ cũng dọn dẹp khá tinh tươm. Cô đến đây đi… sẽ thấy mình “phục sinh” như thế nào. Còn cả tập thơ dài mấy trăm trang vừa viết xong đang đợi cho cô bé xem đấy!”.

Cảm tình của ông khiến tôi không thể nào không đến thăm ông lần nữa.

Ghé vội bên một shop hoa định mua vài cành hoa tặng ông - tôi mới chợt nhớ không biết ông thích hoa gì? Hoa nào thích hợp để tặng người cao tuổi? Thôi đành mua ít hoa hồng xen lẫn hoàng anh.

Vẫn căn hộ nhỏ luôn đóng kín cửa trong con hẻm dài hun hút. Vẫn phải ấn chuông đôi lần mới thấy mái tóc lấp lóa bạch kim của ông hiện ra sau khung kính nhì nhằng những mảng màu.

Ông hồi hởi lấy cho tôi xem tập thơ “Hành Trình” mới hoàn thành vào những ngày đầu tháng 1 năm 2008. Bản thảo đã được đánh máy khoảng 120 trang A4, nhưng theo ông phải là 300-400 trang mới hết vì tập “Hành Trình” có tới 4 phần.

- Mà mình viết tập thơ này chỉ có gần hai tháng thôi đấy!

Tôi chợt thấy nể phục sức làm việc của ông lão gần 90 tuổi. Hai mươi năm nay ông lặng lẽ ẩn mình trên văn đàn, không in một tác phẩm nào, ngoài những bức tranh không cần đóng khung giá 300-400USD thi thoảng bán cho khách nước ngoài. Người yêu văn học chắc vẫn chưa quên gia tài sách của nhà thơ họ Bàng gồm những Mùa xuân trên đỉnh núi; Trên mảnh đất của tình thương; Ánh thép; Hồn nhiên; Người con gái Bắc Sơn; Nay mình hái quả; Khúc nhạc trầm; Hồn ngây dại… Hai tập mới đây là Linh hồn khát; Bài ca trầm bổng. Nhà thơ- hoạ sĩ phàn nàn bản thảo của mình rất nhiều, viết rồi ném đâu đó, không giữ gìn thế là mất. Ông mong thuê được một người biết đánh máy vi tính và hiểu văn phạm.

- Đây này! Cô nhìn xem! Mấy người làm dịch vu đánh sai những từ thật vô nghĩa.

Ông vừa nói vừa cầm chiếc mắt kính chỉ còn có một gọng, soi thật gần vào từng trang bản thảo đã đánh máy xong để tìm thêm những từ sai, chiếc kính dừng lại nơi nào thì tay bút của ông lại khoanh tròn những từ “sai thật vô nghĩa” rồi gạch đi, viết lại.

Gác vẽ của ông bây giờ đã được sắp xếp tương đối gọn gàng. Tranh nào vẽ xong được xếp một bên, tranh sắp hoàn thành để bên góc khác, tranh vừa phác thảo để bên phía này… Những tuýp màu cũng được xếp thành hàng nơi góc phải từ bên ngoài vào. Nhưng lão họa sĩ họ Bàng bảo là có cậu Công nào đó ở Đà Lạt tìm đến thăm rồi sắp xếp lại giúp. Chứ mình làm việc một hai ngày, mọi thứ lại lung tung đâu vào đấy thôi. Nét mặt già nua, nhiều tâm sự của ông chợt hiện rõ nụ cười.

Cuộc sống của nhà thơ- họa sĩ Bàng Sĩ Nguyên sau hai mươi năm tạ khách. Bây giờ có người đến thăm hỏi ông vin vào điều gì để sống trong bao nhiêu năm  buồn tẻ như thế? Ông bảo, mình vin vào con chữ và những tuýp màu. Con cái mình không nghèo và rất thành đạt, năm lần bảy lượt rước mình về lại Hà Nội sống. Nhưng mình nghĩ, ai cũng thích sự tự do riêng. Nếu ở nhà các con, mình đâu được muốn viết muốn vẽ lúc nào thì viết vẽ, muốn ăn lúc nào thì ăn, ngủ lúc nào thì ngủ, muốn vứt tàn thuốc nơi nào thì vứt!!! Mình đã 17 lần mất trộm, mất tất cả, từ sách, tranh, quần áo, đồ dùng. Nhưng rồi mình vẫn đứng lên được. Đó là nhờ tình người. Đất Bắc là nơi mình sinh ra và trưởng thành, nhưng ánh nắng của phương Nam làm ấm áp tâm hồn mình, giúp mình đứng lên sau những biến cố cuộc đời. Cuộc sống mình thế này là quá đầy đủ.

Ông nắm chặt tay tôi trong lời chào từ biệt. Ngoài kia, mùa xuân đã bắt đầu trên sắc hoa mai, trong sự nhộn nhịp ồn ã của hoàng hôn đường phố. Không biết nhà thơ- hoạ sĩ có lập dị? Khi ông không muốn người khác nhắc đến cuộc sống của mình với nhừng từ “thiếu thốn, buồn khổ”. Theo quan niệm của ông: Kiếp này, niềm vui và mối họa là đương nhiên, luôn song hành. Còn phúc? Phúc cho ai khổ đau. Phúc cho ai nghèo khổ. Phúc cho ai biến cố.

Đầu xuân 2008

THUỲ PHƯƠNG

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác