Nhà thơ và những chiếc băng đá


(Toquoc)- Nhà ông ở phía sau dãy chợ của Khu phố III, thị trấn Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, xứ sở… ông ngụ cư và chọn làm quê hương thứ hai của mình.

Ông tên là Đặng Đức Cảnh, sinh năm 1937 tại làng Ngang (Hoành Sơn), xã Khánh Sơn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Bút danh Cảnh Trà là do ông ghép tên thật của mình với tên một người đồng đội đã hy sinh mà ông vô cùng yêu mến.

Ở Tây Ninh Cảnh Trà chơi thân với nhà văn Nguyễn Đức Thiện và tác giả bài viết, vì cả ba đều là Văn nghệ sĩ, Hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam, mỗi người “trấn một góc”: Trần Hoàng Vy ở phía Nam (huyện Gò Dầu), Nguyễn Đức Thiện ở phía Bắc (huyện Dương Minh Châu, Cảnh Trà ở phía Tây (huyện Châu Thành). Đi giáp cả ba người phải mất gần cả trăm cây số! Trước đây trong một bài viết của mình, nhà văn Nguyễn Đức Thiện đã “kể” về Cảnh Trà như sau:

“Không nói gì nhiều về thân thế sự nghiệp của anh (Cảnh Trà) làm gì. Chỉ nói về đoạn sau đời anh thôi. Trước đây làm phóng viên Đài tiếng nói Việt Nam, thường trú tại Thành phố Hồ Chí Minh. Khi chiến tranh biên giới xảy ra, anh có mặt tại Châu Thành, Tây Ninh.
Nhà thơ và những chiếc băng đá  - ảnh 1

Đã có lúc anh sống và viết ngay trên mảnh đất này khi còn giăng giăng mìn của Khơme đỏ cài lại. Có lẽ vì thế, ông Tám Vân, Chủ tịch huyện lúc bấy giờ rất quí mến anh. Nhưng có lẽ người quí mến anh đặc biệt hơn cả là ông Hai Bình, Bí thư Đảng ủy xã Hòa Thạnh. Nghe tin anh về hưu, ông Hai Bình tìm mọi cách kéo anh về làm Chủ tịch Mặt trận xã. Nể quá anh nhận lời. Không hiểu vì sao, anh có thể ngồi ở cái ghế Chủ tịch Mặt trận này lâu đến như thế? Mà hình như xã Hòa Thạnh cũng chưa muốn để ai làm thay anh. Thôi thì đủ mọi thư vận động. Nhà tình nghĩa, nhà tình thương, ủng hộ người nghèo, lo đời sống đồng bào dân tộc Khơme… công việc “thổi tù và” ấy kéo dài hơn chục năm nay rồi, anh vẫn chưa nghỉ. Có một câu chuyện vui thế này: đã làm Chủ tịch thì phải viết báo cáo. Mà báo cáo của ta thì ai mà không biết: từ trung ương xuống địa phương hình như chỉ có một cái mẫu. Làm mà không đúng cái mẫu ấy là không được? Nhà thơ yêu mến của chúng ta chỉ làm một bản báo cáo ngắn gọn, đủ ý, đủ lời và đủ thông tin… Mấy ngày sau, nhà thơ nhận lại bản báo cáo ấy với giòng chua chắc là của một ông cán bộ lớn lắm của tỉnh: “Không biết làm báo cáo, cần phải cho đi học lại!”? Anh được huyện Châu Thành cấp cho một lô đất ở thị trấn. Anh dành cất nhà cho vợ con ở, còn anh lại lên ở xã Hòa Thạnh làm một cái chòi và ở đó trồng trọt đủ thứ cây trái từ xoài, mít, tầm vông… như một lão nông thực thụ…”. Cũng tại cái chòi này, nhiều văn nhân, thi sĩ đã ghé thăm anh như Nguyễn Đức Mậu, Phạm Quốc Ca, Tô Đức Chiêu…

Đấy là cái đoạn anh còn khỏe sau khi vừa mới nghỉ hưu, dăm năm trở lại đây, một cái chân của anh, do di chứng của vết thương thời chiến tranh để lại, dù đã chữa trị khắp nơi, rồi đến bác sĩ người Nhật phẫu thuật, vẫn cứ tê dần và cứng đơ như khúc chân gỗ, đi lại nặng nề, nhúc nhắc từng bước một. Anh về nhà ở thị trấn, nghe có người chỉ uống “cao cốt… mèo” hết bệnh, anh đã dùng trên chục bộ, cái chân vẫn “ngoan cố” cứng đơ, không thèm nhúc nhích, đi phải chống gậy, có người theo… hỗ trợ chuyện “nâng chân” mỗi khi muốn nhờ chở bằng xe… ôm!

Trước nhà anh có hai chiếc băng đá, là nơi để anh ngồi nghỉ ngơi, tiếp khách và cả sáng tác, khi nào chán không thích ngồi “băng nhà”, anh lại nhúc nhắc ra chợ, ở đấy cũng có một chiếc băng đá của tiệm tạp hóa, anh ngồi nhìn ngắm người xe xuôi ngược, nghiêng ngó những rỗ rau xanh mướt mát, những màu sắc dân dã, quê kiểng của mẹt cà chua, thúng bí, nong đậu… có lúc anh như người đang lạc vào cõi… thiền, với những câu thơ bất chợt lóe trong đầu, có lúc anh cười như trẻ thơ, gật gù với người bán vé số dạo và móc ví ra lấy tiền mua giúp mấy tấm vé, như một cuộc chơi thử thời vận vào lúc… xế chiều?

Lúc còn ở Hà Nội, anh chơi rất thân với nhà thơ Hoài Anh (đã mất) và nhà thơ Anh Chi, cũng theo lời kể của nhà thơ Anh Chi về kỷ niệm và ấn tượng của nhà thơ với Cảnh Trà khi mùa hè năm 1972, lúc khóa V, Trường bồi dưỡng của Hội Nhà văn tổ chức ở Quảng Bá, lớp học mở đã hơn một tháng thì “Có một học viên nữa xin vào lớp. Anh người thấp đậm, quần áo lấm bụi đường vai đeo chiếc túi dết. Đó là nhà thơ trẻ Cảnh Trà, công tác ở đặc khu Vĩnh Linh. Lý do Cảnh Trà đến muộn là phải đi bộ từ Vĩnh Linh ra, lại đúng thời kỳ không lực Mỹ đánh phá dữ dội. Máy bay B52 ném bom rải thảm ra cả vùng Hàm Rồng- Thanh Hóa, nhiều chặng phải vòng lên miền Tây, đi theo đường chiến lược 1B, nên thời gian đi đường kéo dài thêm quá nhiều. Thay cho việc trình giấy tờ, Cảnh Trà trật túi dết khỏi vai, vạch áo, để lộ bờ vai đỏ tướp máu do quai túi nghiến nhiều ngày. Nhà văn Nguyên Hồng, nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh, những người phụ trách lớp khi ấy, đều không khỏi cảm động trước “lý do” đến trễ chính đáng của Cảnh Trà…”. Chính vì thế mà Cảnh Trà đã có những câu thơ phản ánh ý chí con người Vĩnh Linh, đầy sự kìm nén, vượt qua gian khổ: “Trên đất này/ Chờ bom dứt chỉ là điều mơ mộng/ Tất cả đều là trong báo động!/ Tất cả như là trong báo yên!”. Cũng không ở đâu như Vĩnh Linh trong thời chiến tranh ác liệt, sự sống được trân trọng nâng niu và gìn giữ: “Vĩnh Linh nuôi gà dưới hầm/ Lót ổ ở trong hốc đất/ Đẻ xong từng trứng cất riêng/ Phòng lúc bom rung khỏi vỡ…” (Gà ở Vĩnh Linh).

Vậy mà chỉ ba năm sau, ngày 30 tháng 4 năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước được hòa bình, thống nhất, nhà thơ Cảnh Trà được tham dự một cái đám cưới bên bờ Hiền Lương chỉ sau đó vài tháng. Nhà thơ đã có ngay bài thơ: “Đưa dâu qua cầu Bến Hải” với lời thơ hồn nhiên, trong sáng và hạnh phúc đến lạ kỳ: “Đám cưới hôm nay cũng tự nhiên như là hoa là lá/ Như là chị lấy chồng như là tôi lấy vợ/ Mà hay chưa bỡ ngỡ như chiêm bao…” rồi “Chừng vui quá nên cô dâu bối rối/ Mắt thẹn thùng chen trong đám chị em.” Bài thơ nhanh chóng được độc giả đón nhận và yêu thích, được tặng thưởng là bài thơ hay nhất trong đợt kỷ niệm 100 số báo của Văn nghệ Giải phóng. Từ đấy, mở ra một bước ngoặt trong cuộc đời và thơ Cảnh Trà, khi anh ngược vào Nam sinh sống.

Sống trên đất Tây Ninh, một thời gian dài nhà thơ “im hơi lặng tiếng”, ngày làm bạn với ruộng rẫy, đêm về thao thức, trăn trở cùng với thơ. Rất ít người biết anh là nhà thơ, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (vào những năm 80, 90 của thế kỷ trước, ở tỉnh lẻ danh hiệu này là… ghê gớm lắm!), chỉ có vài ba người thân thiết mới biết anh còn dan díu, nặng nợ với “nàng thơ” lắm lắm. Tất cả đều động viên anh sáng tác, lôi kéo anh trở lại với “làng văn nghệ”, mà người tích cực nhất là nhà văn Nguyễn Đức Thiện, thế là anh lặng lẽ và âm thầm viết. Thơ anh ở giai đoạn này nồng nàn những tình cảm dành cho những “bức tranh quê”, sinh động, nhiều màu sắc nhưng thật bình dị và dân dã: “Trưa mùa khô/ Trời miền Đông chang chang/ Đám thợ gặt về dưới tán cây cầy trú nắng/ Ồn ào như cãi lộn/ Ăn cơm thịt ếch nấu lá lốt/ Uống rượu đế ngâm tắc kè/ Chửa lửa nước trà đá/ Xỉa răng tăm gai tre…” (Dưới tán cây cầy). Hay như: “Anh lẻn sang vườn trộm đậu rồng/ Cầm về ăn thử có dòn không?”, và “Sau cơn mưa đầu mùa/ rừng Tây Ninh như chừng ngon hơn/ Tầng tầng lá non vun cao/ những mầm xanh nở nang thèm thuồng/ Nước ngọt chảy long lanh/ uốn mình trên những thân cây mượt mà vỏ mới” (Mùa chùm đuông chín).

Thật bất ngờ, lúc tuổi đời đã chồng chất, căn bệnh chân cứ tái đi, tái lại. Anh không còn sức khỏe để làm nương rẫy nữa, cũng là lúc anh “dồn sức” cho thơ. Năm 2006 in tập thơ “Những cọng rau tập tàng”, năm 2007 in tập “Những cơn mưa”, năm 2011 in một lúc 2 tập thơ “Phơi rơm”, và “Nạm cúc tần”, da diết đau đáu những kỷ niệm trong chiến tranh và cả trong hòa bình, cùng những chiêm nghiệm cuộc đời với những đồng cảm, chia sẻ thấu lý đạt tình: “Chẳng mấy khi được tiếp khách giàu/ Sáng đãi kèo nèo để nhớ lâu/ Buổi trưa đặc biệt thết ba khía/ Tối lỗ tai trâu- món vách lầu!” (Tiếp khách giàu). Món “vách lầu”, theo người viết có lẽ là do “viết sai chính tả” (?), đúng ra là “Dách lầu”, là “số dách, số một” mới chính xác! Hoặc như bài “Bao nhiêu”, nhà thơ tự đặt câu hỏi: “Các Đài phát thanh truyền hình quảng cáo/ Kem đánh răng hiện nay có chất lượng Ba trong Một!/ Xin hỏi người đẹp làng ta/ Trong trái tim vàng run rẩy của nàng có bao nhiêu trong Một?”. Thoáng ẩn hiện đâu đây là nụ cười thâm trầm, của những nhà thơ “Xứ Nghệ”, nụ cười nhiều ý nghĩa, làm ai đó chột dạ: “Ngày mới/ mong/ không phải chịu/ những cái bắt tay/ Khô/ và/ lơi!/ Lỏng/ và/ lạnh…” (Những cái bắt tay), hoặc khi nhà thơ vào hội trường tham dự một buổi lễ: “Cả hội trường đứng dậy vỗ tay/ rốp…rốp…rốp…/… Tiếng vỗ tay thưa dần/ nhỏ dần/ nhạt dần/ nhàm chán” (Tiếng vỗ tay).

Trong sáng tác, Cảnh Trà là người rất chỉn chu và cẩn thận với mỗi tác phẩm của mình. Ngay cách trình bày các khổ bài thơ, cũng phải theo ý anh. Có lần người viết bình bài thơ của anh, lúc gửi đăng báo. Vì khuôn khổ báo có hạn, bài thơ in liền một mạch, anh đọc và góp ý ngay. Còn nhớ khoảng năm 2010, Sở VHTT tỉnh tổ chức cuộc thi với chủ đề “Tây Ninh, đất nước con người”, nghe rủ rê của thi hữu, anh gửi vài bài dự thi cho vui, khi Ban tổ chức mời giám khảo từ thành phố Hồ Chí Minh lên, gồm 2 nhà thơ… thuộc hàng “đàn em”, anh đã tuyên bố… không lãnh giải cuộc thi, vì không chính xác và không công bằng!

Song điều mà anh ấp ủ, khơi gợi, dậy men cho cuộc sống, khiến bạn đọc yêu thích anh, lại chính là những điều giản dị, dân dã trong thơ: “Ghé hàng mua gói thịt băm/ về vườn hái nạm cúc tần làm canh/ Thịt băm nhuyễn cúc tần xanh/ chờ anh qua ngõ, đón anh vô nhà…” (Hái nạm cúc tần), lời thơ hồn hậu, chân tình: “Cô bán hàng hoa giọng miền Đông mía lau/ Răng bông bưởi, tóc bồng hương huệ trắng/ Trai miệt rẫy, ấp Chùa, xóm Ruộng…/ Vội dừng xe, đạp chân chống, ngây nhìn.” (Buổi sáng cuối đông…). Để rồi anh chợt nhớ cái “Làng Ngang quê mình”, nơi anh sinh ra và lớn khôn: “Làng của tôi ở cạnh dòng Rào Cả/ Nét son tươi trong sử ký Nam Đàn/ Sóng dội bời bời, gió thổi mang mang/ Dưa trên cát lao lư như đời mẹ…”, nơi mà nhà thơ thầm thương trộm nhớ: “Gái làng Ngang thơm hương chín ổi đào/ Đẹp nục nận, trai nhìn về quên dép…” và nhà thơ tâm sự: “Mấy chục năm đi đó đi đây/ Nỗi nhớ làng tôi chưa thể khuây/ Sương giăng lãng đãng nhà trên rú/ Mái ngói đình xưa nắng phủ đầy…”.

Gia tài sáng tác của anh, một tập thơ “Nơi giáp mặt” in chung năm 1972, một tập in riêng năm 1975 “Cành mận trắng”, và 4 tập thơ kể ở trên, nghe anh nói còn tập phê bình tiểu luận viết về bạn bè, chưa biết lúc nào in, thoáng chút băn khoăn, bởi băng ghế đá anh ngồi mỗi ngày thêm bóng, và cả chiếc băng đá ngoài chợ như anh đã viết vào thơ: “Tôi ngồi trên ghế đá nhà cháu Nhung/ Cậy cháu dắt qua đường mua cải bắp/ Gió thổi từ Vàm Cỏ Đông buốt ngọt/ Những sáng như vầy chân bước đỡ nặng hơn.” (Buổi sáng cuối đông…). Tôi biết có lúc anh mong ghê lắm bạn bè văn nghệ ghé thăm anh, những bạn bè bản xứ như anh đã cảm nhận: “Người Tây Ninh có chất miền Tây/ Người Tây Ninh có chất miền Trung/ Người Tây Ninh có chất miền Bắc/ Vì Tây Ninh là dân miền Đông”, bởi vì một điều chắc chắn là bạn bè và Tây Ninh đã bên anh vài chục năm qua, len vào thơ anh những buồn vui của số phận. Những băng đá quen hơi nhà thơ, ấm nóng dần lên mỗi khi nhà thơ ghé và ngồi xuống… Mừng là anh vẫn đủ sức khỏe, minh mẫn để sáng tác và gửi gắm tâm sự đến bạn bè, bạn đọc của anh…

Gò Dầu hạ, tháng bảy, 2012

Trần Hoàng Vy

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác