Nhà thơ Thúc Hà- Người thày đầu tiên nhen lửa

(Toquoc)- Những năm cuối cấp 3 trường Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, tôi học văn thày Hà Thúc Chỉ. Đấy là những năm tháng đẹp nhất của đời tôi. Chính thày đã truyền cho tôi niềm say mê văn chương!

Những năm đó, tôi được cử làm tổ trưởng sưu tầm văn học phục vụ cho học ngoại khoá, vì thế có nhiều dịp được gần thày. Nhà thày ở gần trường nên có trưa tôi vào nhà thày, thày bảo: "Em ăn trưa, rồi thày đưa tài liệu cho buổi ngoại khoá, chiều em thuyết trình trước lớp". Cơm nhà thày cũng đạm bạc, nhưng tình cảm của thày thật cảm động, có thức ăn ngon thày gắp cho tôi, các con thày nhìn, tôi lại san xẻ cho các em! Lúc uống nước thày bảo: "Em thi vào tổng hợp Văn là được đấy... Dù có thế nào cũng phải đi bằng đôi chân của mình. Hãy sống như một người bình thường!". Thày Hà Thúc Chỉ dạy say sưa, thường làm "cháy giáo án". Ví như bài thơ dài dằng dặc thày đi sâu phân tích mấy câu đầu, gần hết tiết học, chạy "việt dã" cho đến hết bài.

Ngày ấy văn học như một niềm đam mê của lớp trẻ chúng tôi. Trừ những bài cổ vũ động viên; những tác phẩm cổ điển, kinh điển đã nuôi dưỡng tâm hồn chúng tôi suốt đời mà thày Hà Thúc Chỉ là người thày đầu tiên nhen lửa! Thày giáo Hà Thúc Chỉ không những dạy giỏi mà còn dạy hay, thày không bao giờ khuôn theo giáo án, luôn phát hiện cái mới, chính vì thế mà học sinh của thày nhiều người đoạt giải văn cấp quốc gia.

Người ta thường nói: Thày giỏi sẽ có trò giỏi! Năm 1956 sinh viên Hà Thúc Chỉ đỗ thủ khoa trong kỳ thi tốt nghiệp Đại học Sư phạm khoá 1 Hà Nội. Bài luận văn "Vấn đề con người trong giáo dục" đạt điểm cao nhất và được đăng trong tập san Đại học Sư phạm (Văn Khoa ) 6 và 7/1956. Tác giả của luận văn được giữ lại trường làm "Trợ lý giảng dạy Đại học".

Nhà thơ Thúc Hà- Người thày đầu tiên nhen lửa - ảnh 1
Nhiều học trò của thầy Thúc Hà hiện đã thành nhà văn, nhà thơ -
Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam

Một lần đọc báo Văn Nghệ ngày 10/7/2004, tác giả Nguyễn Huệ Chi trong bài: "Văn Tâm như tôi nghĩ" có viết: “
...trên một tấm áp phích lớn và cao treo ở dãy nhà đối diện với Đại giảng đường, chúng tôi nhìn thấy tên tuổi đỏ chói của 10 sinh viên Đại học Văn khoa vừa mới tốt nghiệp, được xếp theo thứ tự thi đỗ từ trên xuống dưới... Trên cái bảng ghi tên dài dặc từ một quãng rất cao, tôi chú ý đến mấy cái tên: Hà Thúc Chỉ, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Văn Tâm...” Nhưng rồi thày Hà Thúc Chỉ sớm rời bỏ vị trí trợ lý giảng dạy Đại học về ban Tu thư (Bộ phận soạn sách giáo khoa) thuộc Vụ Giáo dục phổ thông, Bộ Giáo dục. Bài báo của Nguyễn Huệ Chi viết tiếp: “...ít lâu sau tôi mới biết rằng khi chúng tôi đang lan truyền những giai thoại đẹp đẽ về các anh, đang đọc những bài thơ do các anh viết và giật những giải thưởng lớn "Nhớ hôm nào tiễn con trên bến. Bến dừa xanh trìu mến má hôn con..." thì cũng chính là lúc "tai nạn nghề nghiệp" đến với các anh, khi các anh tham gia vào tờ Đất Mới cũng chỉ với ý tưởng thể hiện những tư tưởng dân chủ vừa tiếp thu trong sách vở của mình...”

Từ năm học 1960-1961 thày Hà Thúc Chỉ chuyển về dạy văn ở trường Trung học phổ thông Ngô Quyền, trung học phổ thông Thái Phiên (hệ chuyên Văn) rồi trở lại trường trung học phổ thông Ngô Quyền, Hải Phòng cho đến ngày ra đi.

Có thể nói thày Hà Thúc Chỉ về Hải Phòng là điều không may nhưng riêng lứa học sinh chúng tôi được học thày là một hạnh phúc lớn. Với tôi thày không những nhen ngọn lửa văn chương mà còn định hướng cho cuộc đời: Dù thế nào cũng phải đi bằng đôi chân của mình. Hãy sống như một người bình thường! Lời nói gói vàng là như thế!

Nghe lời thày năm 1962 tôi thi vào Trường Đại học Tổng hợp (Khoa Văn) và đã đỗ cùng với Đinh Tiếp và Nguyễn An Định ba thí sinh trúng tuyển của cả miền duyên hải. Biết tin thày Hà Thúc Chỉ vui lắm, hôm ra Ga Hải Phòng tiễn tôi lên trường nhập học, thày cho một gói quà, về trường mở ra đó là bộ sách Thép đã tôi thế đấy (2 tập) của N K.Ô-xtơ-rốp-xki. Nhưng học được gần hai tháng, nhà trường gọi lên, báo cho tôi biết thời gian tới chiến tranh phá hoại của Mỹ có thể xảy ra ở miền Bắc, nhà trường phải đi sơ tán, học 4 năm rất khó khăn cho một người tàn tật như tôi! Nhà trường định chuyển tôi sang hệ trung cấp sư phạm bên Đại học Sư phạm, hoặc cho tôi về! Tôi đã chấp nhận xin về. Tôi gần như tuyệt vọng, chính lúc ấy thày Hà Thúc Chỉ đến, thày không nói nhiều chỉ bảo: "Em hãy đọc lại cuốn sách thày cho!". Đêm ấy tôi đọc vô tình thấy một dấu khuyên câu: Hãy biết sống cả những khi cuộc đời trở nên không thể chịu được nữa. Hãy làm cho đời mi có ích! Ai khuyên câu này? trong hoàn cảnh nào? Sách thày cho vậy chỉ có thày biết! nên thày mới bảo tôi đọc vào lúc này! Tôi lao vào tự học nghề kế toán, xin vào làm hợp tác xã và tập tọng làm thơ! Tôi hiểu Thơ thì không ai có thể dạy ai! Nhưng chặng đường thơ của nhà thơ Thúc Hà luôn luôn ám ảnh tôi! Trong bài Thúc Hà: Tác giả bài thơ đoạt Huy chương Vàng Quốc tế cách đây 50 năm, nhà thơ Phạm Đức và Hà Thúc Quả em trai nhà thơ Thúc Hà viết: Năm1955, chàng sinh viên 21 tuổi Hà Thúc Chỉ với bút danh Thúc Hà bước lên đài Thơ, một bước tiến đĩnh đạc với bài thơ ‘Chờ con má nhé!’ Đó là tiếng của hàng triệu trái tim người dân Việt hai bên bờ Bến Hải trong nỗi đau chia cắt và nỗi khát khao đoàn tụ:

Con đi má khóc hôm nào

Con về má đón ngã vào hai tay

Hình tượng của tình mẫu tử thiêng liêng đó là ước mơ nhưng cũng như là sự tiên đoán. Thời gian mong chờ gấp 10 lần, thì nỗi xúc cảm cũng 10 lần lớn hơn. Bài thơ được truyền tụng trong nước trước khi đem đi thi tại Đại hội liên hoan Thanh niên và Sinh viên thế giới lần thứ V tổ chức tại Ba Lan, ngày 8/8/1955 tại cung Văn hoá ở Vác-xa-va, bài thơ đã được trao tặng Huy chương Vàng Đại hội. Một Đại hội đông đảo với hơn 80 đoàn đại biểu, với ban giám khảo cuộc thi Thơ do chính nhà thơ Thổ Nhĩ Kỳ nồi tiếng Na-Dim-Hit-mét làm chánh chủ khảo.

Có thể nói trong 2 năm 1955-1956, tên tuổi Thúc Hà nổi bật trong làng thơ Việt. Bài thơ đã được đưa vào sách giáo khoa giảng dạy ở trường phổ thông thời gian ấy. Biết bao lớp học sinh đã học thuộc lòng và có người đến bây giờ sau 50 năm vẫn còn nhớ như in những câu thơ tình nghĩa đó. Nó cũng được nghệ sĩ Châu Loan nhiều lần ngâm trong buổi Tiếng Thơ của Đài tiếng nói Việt Nam. Bao nhiêu tương lai, hứa hẹn. Bao nhiêu dự định, ước mơ...

Bài báo của nhà thơ Phạm Đức và Hà Thúc Quả viết tiếp:

“Nhà văn Sơn Tùng tiếp chúng tôi trong căn phòng khách đơn sơ của ông. Chủ và khách ngồi bệt trên sàn gỗ. Ông là thành viên chính của đoàn Đại biểu Thanh niên Sinh viên ta hồi 1955 bấy giờ và lại là người ngâm bài thơ Chờ con má nhé! trước Đại hội. Ông nói:

- Tôi đã ngâm đầy xúc động bài thơ đó trước bao người ở Hà Nội, lần này là với tuổi trẻ trên 80 nước.

Bài thơ đã được dịch ra tiếng Pháp (nhà thơ- Giáo sư Phạm Huy Thông dịch) và tiếng Anh, còn tôi ngâm bằng tiếng mẹ đẻ của mình.

Nhà văn Sơn Tùng có nhiều kỷ niệm với Thúc Hà lắm. Cả những kỷ niệm có tính quan trọng với cuộc sống. Ông sôi nổi và tỉ mỉ kể về Thúc Hà, về cuộc hôn nhân của anh, về bạn bè sinh viên của anh, rồi ông ngậm ngùi nói:

- Tiếc thật! Lúc đó quả là một loé sáng tài năng thơ. Vậy mà không có cơ hội để phát triển! Thúc Hà dạy văn thì nổi tiếng một thời cả Hải Phòng rồi nhưng vẫn tiếc. Tiếc lắm, các anh ạ!

Tôi nhớ một lần lên Thư viện Hải Phòng được đọc tập thơ Khi trời mới sáng của nhà thơ Thúc Hà (NXB Xây dựng 1956) với lời tựa của một giáo sư văn học người Nga. Thế mà đến tháng 10/1990, thày Thúc Hà mới in tập thứ hai Mưa biển (NXB Hải Phòng) chỉ có 28 bài. Thơ Thúc Hà còn được chọn vào nhữngTuyển tập Thơ quốc gia: Xem ảo thuật (Tuyển tập Thơ lục bát Việt Nam- NXB Văn hoá 1994); Vầng trăng gặp lại (Thơ tình Việt Nam thế kỷ 20- NXB Quân đội Nhân dân 1996). Nhà thơ Thúc Hà tham gia Đại hội thành lập Chi hội Văn học Nghệ thuật Hải Phòng ngày 6/01/1964. Lúc nào thày cũng đau đáu nghiệp THƠ! Một lần đứng trên gác, thấy nhà hàng xóm xây nhà, thày ứng khẩu:

Người ta xe cát làm nhà

Tôi nay xe chữ để mà làm thơ

Để tôn vinh một người thày mẫu mực trong hàng ngũ thày giáo vùng cửa biển, Xưởng phim Truyền hình Hải Phòng đã dựng bộ phim phóng sự Người xe chữ làm thơ. Hôm ấy anh Hà Thúc Quả, em trai nhà thơ Thúc Hà có mời nhà thơ Phạm Ngà, nhà văn Hoàng Thiềng, anh Đặng Thông, đến nhà tôi vì chúng tôi đều là học sinh nhà thơ Thúc Hà, để nhớ lại những kỷ niệm về người thày kính mến; giúp đoàn làm phim thực hiện những thước phim đầu tiên. Nhà thơ Thúc Hà như vẫn sống trong tâm tưởng bao thế hệ học trò! Từ năm 2004 cứ vào dịp 20/11, Đài Truyền hình Hải Phòng lại phát trên sóng phim Người xe chữ làm thơ. Thày Hà Thúc Chỉ- nhà thơ Thúc Hà; người có công lớn trong việc nuôi dưỡng tâm hồn, thắp sáng ước mơ. Từ tấm lòng và tài năng của thày, những học trò như Nguyễn Thụy Kha, Phạm Ngà, Phạm Đức, Nguyễn Thị Ngọc Hải, Trần Quốc Minh... đều là hội viên hội nhà văn Việt Nam.

Thưa thày! Riêng em, người viết bài này, như một nén tâm nhang thành kính tưởng nhớ đến thày, em đã Đi bằng đôi chân của mình! Từ ngày thày đi xa, em càng gắng sức (hay là thày phù hộ cho em?). Bài thơ Bắc Cầu của em được giải nhất cuộc thi thơ của người tàn tật Hải Phòng năm 1999. Năm 2000 được triển lãm trong số 100 bài thơ của người tàn tật 6 nước: Mỹ, Bra-xin, Pháp, Việt Nam, Úc, Nhật Bản đã minh hoạ thành 100 bức tranh với chủ đề "Một trái tim, một thế giới" do đài NHK của Nhật Bản tổ chức. Năm 2001 Bức tranh Tình yêu của hoạ sĩ Thành Chương minh hoạ cho bài thơ Bắc Cầu được Liên Hợp Quốc chọn in thành tem phát hành trên thế giới. Thưa thày em đã sống như một người bình thường! Em đã Vịn câu thơ mà đứng dậy (ý Thơ Phùng Quán).

Thưa thày! Thày đã an nhiên, thoát tục, mà Tinh Anh còn sáng mãi đến hôm nay...

Nhà thơ Thúc Hà

Tên khai sinh: Hà Thúc Chỉ

Sinh ngày 10-7-1934, tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

Nguyên quán: Xã Hương Chữ- Hương Trà- Thừa Thiên - Huế

Mất ngày 25/3/1994, tại thành phố Hải Phòng.

Trần Quốc Minh

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác